top of page

MINH THIÊN CHUẨN ĐỀ - ĐÔNG MẬT

Public·2 members

KHÔNG HỀ CÓ CÁI GỌI LÀ PHẬT TÁNH  VÀ SỰ THẬT.

KHÔNG HỀ CÓ CÁI GỌI LÀ PHẬT TÁNH  VÀ SỰ THẬT.

 

Không hề có cái gọi là Tâm này vốn thanh tịnh, chỉ cần lau chùi, gột rửa là sáng trong trở lại.

Trong Kinh Tăng Chi Bộ có nói đến sự chói sáng của Tâm tái sinh. Sự chói sáng này cần phải được hiểu là Tâm ấy vốn không thiện không ác. Nó chỉ là Tâm quả và làm phận sự tái sinh của mình. Ngay khi vừa tái sinh Tâm ấy liền diệt đi, không có một thực tại thường hằng nào giống như Phật Tánh, hay Ngã trường tồn đã đi tái sinh cả.

Nếu hiểu sự chói sáng là bản Tâm vốn thanh tịnh là đã sai.

Nếu cho rằng có Phật tánh thường hằng, chỉ cần quay vào bên trong là sẽ nhận diện được thì: Có phải chúng ta đang ngầm công nhận có 1 cái gì đó vĩnh cửu không?

Nếu thế thì việc tồn tại một thứ gì đó vĩnh cửu, mang danh hiệu Phật Tánh, sẽ đi ngược lại toàn bộ giáo lý vô thường mà Đức Phật đã tuyên thuyết trong mấy chục năm trời.

Đức Phật không có dạy khái niệm Phật Tánh nha bà con!

 

Ăn bậy thì chỉ bị đau bụng vài ngày. Tu nhầm giáo Pháp mà cứ đinh ninh mình đang tu đúng cách là bị đau bụng nhiều kiếp lắm.

Có nhiều người tưởng mình đang đọc kinh Phật, thực hành theo lời Phật, mình là cư sĩ Phật Giáo chính hiệu rồi đó nhưng mà sự thật không phải vậy.

Đáng sợ chưa! Tà kiến ở muôn nơi là có thiệt.

                         ………………………………..

Bài viết ở trên của một vị tu sỹ  rất nổi tiếng đã thể hiện góc nhìn rất tiêu biểu của truyền thống Nguyên thủy Theravada, đặc biệt là dưới lăng kính của Luận tạng Abhidhamma. Nó bảo vệ triệt để giáo lý Vô thường Anicca và Vô ngã Anatta, đồng thời phê phán việc đồng nhất tâm chói sáng với một Phật Tánh có tính chất thường hằng.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ sử dụng chính Kinh tạng Nguyên thủy Nikaya để mang lại một góc nhìn đa chiều để thấy rằng lập luận trên có những điểm có thể bị sơ hở. Chúng ta sẽ có ba điểm chính trong bài của tác giả cần được nhìn lại:

 

ĐIỂM 1: NGUỒN GỐC CỦA TÂM TÁI SINH BHAVANGA.

 

Trong bài viết, tác giả khẳng định: Sự chói sáng này cần phải được hiểu là Tâm ấy vốn không thiện không ác. Nó chỉ là Tâm quả và làm phận sự tái sinh... Ngay khi vừa tái sinh Tâm ấy liền diệt đi.

Để đưa ra nhận định này, tác giả đang mượn một khái niệm chuyên sâu gọi là Bhavanga tức Tâm hữu phần hay Tâm tái sinh. Khái niệm này miêu tả một dòng tâm thức nền tảng, là tâm quả duy trì mạng sống và làm nhiệm vụ tái sinh.

                                          Tuy nhiên, có một chi tiết lịch sử quan trọng về mặt văn bản học: hệ thống phân tích chi tiết về Bhavanga chủ yếu được phát triển và hoàn thiện trong Luận tạng Abhidhamma và các bản Chú giải Atthakatha ra đời sau khi Đức Phật đã nhập diệt.

Ngược lại, khi tra cứu trực tiếp trong Kinh tạng Nikaya nơi lưu giữ những lời dạy gốc của Đức Phật cụ thể là ở Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật chỉ nói rất ngắn gọn: Tâm này, này các Tỷ kheo, là chói sáng. Nhưng nó bị ô nhiễm bởi các tỳ vết khách trần….. Ngài không hề đính kèm thêm định nghĩa nào cho rằng tâm chói sáng này chỉ là tâm quả vô thưởng vô phạt hay chỉ làm phận sự tái sinh rồi diệt đi.

Việc bài viết lấy lăng kính của Luận tạng ra đời sau để làm tiêu chuẩn duy nhất nhằm diễn dịch và đóng khung ý nghĩa của Kinh tạng ra đời trước là một vấn đề hoàn toàn có thể phải xem lại.

                          Lúc này chắc chắn sẽ có người  bình luận rằng Luận tạng là đỉnh cao trí tuệ được hệ thống hóa bởi các bậc Thánh, việc chúng ta nghi ngờ và cho nó là sản phẩm đời sau rồi gạt bỏ nó là một việc không nên.

                          Nhưng Mọi người hãy bình tĩnh nhìn nhận, chúng ta hoàn toàn không phủ nhận sự vĩ đại và chi tiết của Luận tạng. Nhưng nếu lấy một cơ chế sát na sinh diệt cực kỳ vi tế của Luận tạng để áp đặt, gò ép và cắt xén một lời dạy mang tính định hướng tu tập thực hành của Kinh tạng, thì vô tình nó làm lệch đi lời dạy  ban đầu của Đức Phật. Nó giống như việc dùng kính hiển vi để ngắm một bức tranh phong cảnh vậy, chi tiết thì thấy rõ nhưng toàn cảnh ý nghĩa thì bị bóp méo.

                    Vậy mọi người thử nghĩ xem, khi chúng ta dùng những bộ chú giải đời sau để giới hạn ý nghĩa của một câu kinh nguyên thủy, nó sẽ tạo ra những lỗ hổng nào, và nó đã bị diễn dịch theo tâm ý người viết không còn giữ nguyên bản lời phật dạy nữa như thế nào?

Khi chúng ta đã gỡ được lớp kính màu của hệ thống chú giải đời sau, nó sẽ lộ ra nguyên bản những gì thực sự có trong kinh điển.

 

Bây giờ, chúng ta cùng tiến đến ĐIỂM 2: BẢN CHẤT THỰC SỰ CỦA TÂM CHÓI SÁNG PABHASSARA CITTA.

 

Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói nguyên văn thế này: Tâm này, này các Tỷ kheo, là chói sáng. Nhưng nó bị ô nhiễm bởi các tỳ vết khách trần.

Ngay sau đó, Ngài tiếp tục: Tâm này là chói sáng. Và nó được giải thoát khỏi các tỳ vết khách trần.

Điểm mấu chốt nằm ở đoạn tiếp theo: Đức Phật dạy rằng vì kẻ phàm phu không thấu hiểu cái tâm chói sáng này, nên họ không có sự tu tập tâm. Ngược lại, bậc Thánh đệ tử thấu hiểu nó, nên họ có sự tu tập tâm. Đức Phật liên kết trực tiếp việc thấu hiểu tâm chói sáng với quá trình hành thiền và tu tập.

                                                  Quay lại bài viết phản bác Phật tính ở trên, tác giả lại đinh ninh rằng sự chói sáng này chỉ là Tâm quả làm phận sự tái sinh. Ngay khi vừa tái sinh Tâm ấy liền diệt đi.

Mọi người thử tinh ý nhìn xem có một sự vênh nhau cực lớn về mặt logic gì ở đây. Nếu tâm chói sáng đó thực sự chỉ là một cái tâm quả vô thưởng vô phạt, lóe lên đúng một sát na lúc tái sinh rồi tắt ngóm ngay lập tức, thì nó sẽ tạo ra mâu thuẫn gì với lời dạy tu tập tâm và giải thoát khỏi khách trần của Đức Phật mà chúng ta vừa trích dẫn? Các Bạn thấy điểm vô lý của lập luận đó nằm ở đâu không?

Điểm vô lý chí mạng của nó nằm ở sự mâu thuẫn về thời gian và khả năng tu tập, chúng ta cùng phân tích nhé:

VỀ THỜI GIAN:

Theo Luận tạng, tâm hữu phần khi làm việc tái sinh chỉ tồn tại trong một sát na tức một phần ngàn giây rồi diệt đi ngay lập tức. Nếu cái tâm chói sáng mà Đức Phật nói chỉ lóe lên rồi tắt ngúm nhanh như vậy, thì lấy đâu ra thời gian để nó bị ô nhiễm bởi khách trần, và càng không thể có chuyện bậc Thánh đệ tử giải thoát nó khỏi sự ô nhiễm đó.

 

VỀ KHẢ NĂNG TU TẬP:

Tác giả cho rằng nó là Tâm quả vô thưởng vô phạt. Nhưng trong kinh, Đức Phật nhấn mạnh việc tu tập cái tâm chói sáng này. Sự tu tập đòi hỏi một quá trình liên tục, một sự chuyển hóa từ trạng thái phàm phu sang bậc Thánh. Bạn không thể tu tập dựa theo một cái bóng đèn chỉ chớp lên một cái rồi cháy luôn.

Như vậy, việc ép khái niệm tâm chói sáng vào khuôn khổ của tâm tái sinh sát na đã vô tình làm vô nghĩa luôn lời dạy về sự tu tập và giải thoát của Đức Phật trong chính bài kinh đó. Như vậy Mọi người thấy lập luận phản bác ban đầu đã lộ rõ sự rạn nứt rồi đúng không? Bây giờ, chúng ta sẽ đi đến điểm quyết định cuối cùng.

 

ĐIỂM 3: THỰC TẠI KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT ASAṄKHATA.

 

Bài viết gốc khẳng định chắc nịch: Không có một thực tại thường hằng nào. Nếu thế thì việc tồn tại một thứ gì đó vĩnh cửu sẽ đi ngược lại toàn bộ giáo lý vô thường. Họ cho rằng vạn pháp trong Phật giáo Nguyên thủy bắt buộc phải tuân theo quy luật Vô thường sinh ra và diệt đi.

                               Nhưng chúng ta hãy xem Đức Phật nói gì trong Kinh Phật Tự Thuyết thuộc Tiểu Bộ Kinh: Này các Tỷ kheo, có một cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm ra, không bị tạo tác. Nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm ra, không bị tạo tác ấy, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi cái có sanh, có hiện hữu, có bị làm ra, có bị tạo tác.

Vậy thì Đức Phật đã xác nhận rõ ràng có một sự tồn tại của một thực tại vượt ra khỏi quy luật sinh diệt là Vô vi pháp hay Niết bàn.

Những vị tu sỹ cứng rắn sẽ kiên quyết phản đối rằng Niết Bàn là Vô Vi thì đúng, nhưng lôi cái Tâm chói sáng của chúng sinh gán cho Vô Vi là đang lén lút đưa tư tưởng Bản Ngã thường hằng Atman của ngoại đạo vào đạo Phật. Tâm của con người luôn là Hữu Vi sinh diệt cơ mà!

             Đây chính là chỗ cần phân định rạch ròi nhất. Tâm chói sáng hay Phật Tánh không phải là một dạng linh hồn vĩnh cửu nằm chễm chệ trong lồng ngực để gọi là Ngã. Nó là một trạng thái rỗng lặng, là tiềm năng khế hợp trực tiếp với thực tại Vô Vi khi tâm không còn bám víu vào những thứ Hữu Vi sinh diệt.

Nó giống như khoảng không gian bên trong một chiếc ly thủy tinh. Khi đập vỡ chiếc ly tức là đập vỡ cấu trúc phiền não hữu vi, thì không gian đó lập tức hòa vào hư không, vốn dĩ không sinh không diệt. Chẳng có một cái Ngã trường tồn nào đi luân hồi ở đây cả, chỉ có sự rỗng lặng tiếp xúc với sự rỗng lặng.

                                                  Vậy thì Dựa vào đoạn kinh này, mọi người nghĩ sao về lời khẳng định việc tồn tại một thứ gì đó vĩnh cửu sẽ đi ngược lại toàn bộ giáo lý vô thường của bài viết kia? Nó có đang hiểu sai lệch phạm vi áp dụng của luật Vô thường không?

                               Cái Lỗi sai chí mạng của bài viết trên chính là sự nhầm lẫn tai hại về phạm vi hoạt động của luật Vô thường. Mọi người cùng phân tích sự đánh tráo khái niệm này nhé.

Trong giáo lý nguyên thủy, Đức Phật chia thực tại ra làm hai phạm trù rất rõ ràng:

PHÁP HỮU VI:

Đây là thế giới của những thứ do nhân duyên tạo thành, có cấu tạo, có sinh ra như thân thể, suy nghĩ, buồn vui, cái bàn, cái cây. Đối với mảng này, luật Vô thường áp dụng triệt để 100 phần trăm. Nó sẽ sinh ra và nó chắc chắn sẽ hoại diệt.

PHÁP VÔ VI:

Đây chính là cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác mà chúng ta vừa nhắc tới, điển hình là Niết Bàn. Đã là cái không sinh ra và không được cấu tạo, thì lấy cơ sở gì để bắt nó phải chịu sự chi phối của vô thường diệt đi? Vô thường làm sao đập vỡ được một thứ vốn dĩ không có hình tướng hay sự tạo tác?

                              Sự sai lệch của tác giả bài viết nằm ở chỗ: Họ đem quy luật của thế giới Hữu vi đi chụp mũ lên toàn bộ thực tại, bắt cả cảnh giới Vô vi cũng phải tuân theo sự sinh diệt đó.

Nếu chúng ta hiểu Tâm chói sáng hay cách Phật giáo Phát triển gọi là Phật Tánh không phải là một linh hồn cá nhân hay Ngã bất tử đi từ kiếp này sang kiếp khác, mà nó chính là sự liễu ngộ, là sự tiếp xúc trực tiếp với cái thực tại Vô vi không sinh không diệt ngay giữa hiện tại luân hồi này, thì điều đó hoàn toàn ăn khớp với Kinh tạng Nguyên thủy. Nó không hề đi ngược lại giáo lý vô thường, bởi vì vô thường vốn dĩ không chạm tới được vùng đất của Vô vi.

                          Mọi người thấy đó, khi chúng ta lột bỏ lớp vỏ ngôn từ chú giải đời sau và quay về đúng Kinh gốc, bức tranh nó rộng mở và sâu sắc hơn rất nhiều. Bài viết ở trên do bị kẹt vào các khái niệm tự đặt ra như tâm sát na sinh diệt nên tự nhốt mình vào một góc hẹp của tư duy.

                           Như vậy tác giả không nên mượn quy luật Vô thường của thế giới sinh diệt để giam cầm thực tại Vô vi, bởi Vô thường làm gì có tư cách chạm đến sự chói sáng của bản tâm không sinh không diệt! Tác giả đang có một lỗ hổng logic lớn nhất: sự ngộ nhận và đánh tráo khái niệm giữa Hữu vi và Vô vi. Bài viết trên đang  lấy thước đo của cái thế giới tạo tác để phủ nhận sự tồn tại của bầu trời thực tại giải thoát.

                                    Vậy thì nhìn lại toàn bộ quá trình bóc tách từ Kinh gốc cho đến sự thêm bớt  của chú giải đời sau, việc cứ khăng khăng nhầm lẫn ranh giới giữa Hữu vi và Vô vi như bài viết trên sẽ gây ra chướng ngại tâm lý, hay sự bế tắc  cho một người đang dốc lòng thực hành tu tập như thế nào?

                             Việc khăng khăng gom chung Hữu vi và Vô vi vào một rọ vô thường sẽ đẩy người tu tập vào hai chướng ngại cực lớn, đầu tiên sẽ khiến người tu bị:

RƠI VÀO BẾ TẮC VÀ HOÀI NGHI:

Nếu đích đến cuối cùng cũng chỉ là một trạng thái sinh diệt, lóe lên rồi tắt ngóm, thì nỗ lực tu hành bỗng trở nên vô vọng. Nó giống như việc dốc sức xây một lâu đài cát đồ sộ chỉ để chờ sóng biển cuốn trôi. Tâm lý người tu sẽ cạn kiệt năng lượng vì mất đi điểm tựa vững chắc.

MẮC KẸT TRONG VIỆC NHÀO NẶN TÂM TRÍ:

             Khi từ chối một thực tại Vô vi vốn có sẵn để nhận diện, người ta sẽ liên tục dùng ý thức để đè nén, tạo tác và gò ép bản thân hòng chế tạo ra sự giải thoát. Nhưng thực tại không sinh diệt thì làm sao có thể được tạo ra từ những hành động sinh diệt? Nó biến việc tu tập thành một cuộc đấu tranh căng thẳng không hồi kết.

Như vậy việc đi sai khái niệm nền tảng sẽ dẫn đến sự bế tắc hoàn toàn trong phương hướng hành trì. Sẽ rất mệt mỏi nếu cứ mải miết chạy theo và can thiệp vào sự sinh diệt.

 

Vậy nếu quay lại cốt lõi của Kinh Tăng Chi Bộ, thay vì cố gắng chế tạo ra một trạng thái tâm tĩnh lặng, chúng ta nên ứng xử thế nào với những tỳ vết khách trần phiền não để bản tâm chói sáng tự hiển lộ?

Chúng ta thử để ý kỹ cụm từ khách trần trong bản kinh gốc. Việc Đức Phật gọi phiền não là khách là một sự sắp đặt ngôn từ rất sắc bén và có chủ đích.

Đã là khách thì nó chỉ ghé thăm rồi nó sẽ rời đi, nó tuyệt đối không phải là chủ nhà.

Nếu chúng ta coi phiền não là kẻ thù để đánh đuổi, hay cố đè nén ý thức để chế tạo ra một trạng thái trống rỗng, tĩnh lặng tức là lại dùng một cái Hữu vi này để đối phó với một cái Hữu vi khác, thì chúng ta lại tự trói mình vào cái bẫy của sự nhào nặn, tạo tác. Càng cố ép mình thanh tịnh, tâm càng động.

                     Thay vì vậy, chìa khóa ứng xử ở đây chính là sự Nhận diện và Không đồng nhất.

Hãy hình dung bản tâm chói sáng giống như bầu trời bao la. Cáu giận, lo âu hay tham lam chỉ là những đám mây đen kéo tới. Bầu trời không bao giờ bị biến chất hay hư hỏng bởi mây đen. Bạn không thể bay lên để xua được đám mây hay chế tạo ra khoảng không. Việc của bầu trời chỉ đơn giản là có mặt ở đó, cho phép mây bay đến và tự bay đi.

Chỉ cần bạn lùi lại một bước để quan sát và không gán ghép bản thân mình vào những phiền não đó, bản tâm chói sáng sẽ tự động hiển lộ ngay khi đám mây tan biến.

Vậy mọi người thử áp dụng ngay góc nhìn này vào thực tế nhé: Khi một cơn giận dữ tột độ bất ngờ ập đến, thay vì gồng mình lên nhủ thầm mình không được giận, mình phải bình tĩnh, chúng ta sẽ thay đổi cách nói thầm trong đầu hay cách tác ý như thế nào để đối đãi với cơn giận ấy?

Cách tác ý chuẩn xác khi cơn giận ập đến là chúng ta sẽ nhìn nhận: À, một vị khách tên Giận vừa gõ cửa, nó đến rồi nó sẽ tự đi, mình không phải là cơn giận này.

                      Vậy thì tiếp theo vấn đề, Dựa vào sự khác biệt giữa hai góc nhìn Niết bàn là sự vắng mặt phiền não của Nguyên thủy và sự hiện diện của tiềm năng thành Phật của Đại thừa, bạn nghĩ cách gọi Phật Tánh sẽ tạo ra sự thay đổi thế nào về mặt tâm lý và động lực tu tập cho một người bình thường?

Về sự liên hệ giữa Niết Bàn và Phật Tánh, cả hai khái niệm này về cơ bản đều đang chỉ tay về cùng một mặt trăng: đó là thực tại Vô vi không sinh không diệt, hoàn toàn sạch bóng những khách trần phiền não. Khái niệm Tâm chói sáng trong kinh tạng Nguyên thủy chính là tiền đề trực tiếp để các nhà luận sư sau này phát triển thành khái niệm Phật Tánh của Đại thừa.

Tuy nhiên, cách hai truyền thống miêu tả cái bản thể sẵn có này lại mang hai sắc thái rất khác nhau:

NGUYÊN THỦY MIÊU TẢ NIẾT BÀN THEO HƯỚNG PHỦ ĐỊNH.

Khái niệm này tập trung vào sự vắng mặt. Niết Bàn thường được định nghĩa là sự đoạn tận của tham, sân, si. Nó giống như việc nhấn mạnh khi không còn mây đen thì khoảng không hiển lộ, chú trọng vào sự vắng lặng và giải thoát khỏi luân hồi.

Đại thừa miêu tả Phật Tánh theo hướng Khẳng định. Không chỉ dừng ở sự vắng mặt của phiền não, Đại thừa khẳng định mạnh mẽ rằng bên trong mỗi chúng sinh chứa sẵn một tiềm năng. Cái tiềm năng Phật Tánh này mang đầy đủ đặc tính của trí tuệ, ánh sáng và lòng từ bi vô lượng y hệt như một vị Phật.

 

Vậy thì Dựa vào sự khác biệt giữa hai góc nhìn sự vắng mặt phiền não và sự hiện diện của tiềm năng thành Phật, bạn nghĩ cách gọi Phật Tánh sẽ tạo ra sự thay đổi thế nào về mặt tâm lý và động lực tu tập cho một người bình thường?

Chúng ta cùng đi thẳng vào tâm lý thực tế của một người tu tập bình thường nhé.

Cách gọi Phật Tánh thực sự tạo ra một cú hích cực lớn, làm thay đổi hoàn toàn cục diện nội tâm của họ theo hai hướng chính sau:

 

TỪ KẺ TRẮNG TAY THÀNH NGƯỜI CÓ SẴN KHO BÁU. Khi tiếp cận theo hướng đoạn tận phiền não, người tu rất dễ mang tâm lý mình là một kẻ phàm phu đầy rẫy tội lỗi và cấu uế. Họ thấy mình phải chật vật leo lên một ngọn núi cực kỳ dốc để xả bỏ từng chút một. Nó dễ sinh ra sự tự ti, đôi khi là khô khan, vì đích đến Niết Bàn có vẻ quá xa vời và lạnh lẽo.

Ngược lại, khi giáo lý Đại thừa đưa ra khái niệm Phật Tánh, nó lập tức dỡ bỏ sự tự ti đó. Nó trao cho người ta một niềm tin và sự tự tôn mãnh liệt: À, hóa ra mình không phải là kẻ bần cùng, mình đã có sẵn hạt giống của một vị Phật ở ngay đây rồi. Việc tu hành không còn là tạo ra một thứ gì đó từ con số không, mà chỉ đơn giản là lau đi lớp bụi trên viên ngọc sáng. Nó biến một chặng đường dài mệt mỏi thành một hành trình trở về nhà đầy ấm áp.

 

CHUYỂN ĐỘNG LỰC TỪ TRỐN CHẠY SANG KHAI PHÓNG.

Nếu chỉ tập trung vào sự vắng mặt, động lực chính thường bắt nguồn từ sự chán ghét và muốn trốn chạy khỏi khổ đau luân hồi. Nhưng với điểm tựa là Phật Tánh, động lực vươn lên trở nên tích cực và trọn vẹn hơn. Nó thôi thúc người ta đánh thức trí tuệ và tình thương bao la vốn dĩ đã nằm sẵn ở đó để không chỉ tự giải thoát mình mà còn giúp đỡ người khác.

Rõ ràng, khái niệm Phật Tánh là một phương tiện thiện xảo tuyệt vời để gieo rắc niềm tin và kéo đạo Phật lại gần gũi hơn với đại chúng.

Tuy nhiên, mọi người thử lật lại vấn đề xem: Thuốc bổ nào dùng sai cách cũng có thể sinh tác dụng phụ. Nếu một người cứ bám chặt vào suy nghĩ Tôi vốn dĩ đã có Phật Tánh rồi, bản tâm tôi đã là Phật sẵn rồi, nó sẽ dẫn đến cái bẫy tâm lý nguy hiểm nào khiến họ bị kẹt lại trong quá trình thực hành hàng ngày? Đó chính là Sự ngụy biện tâm linh và Ngã mạn.

Cụ thể, nó sẽ tạo ra hai hệ lụy chí mạng trong quá trình thực hành:

CHẤP LÝ BỎ SỰ TỨC NHẦM LẪN GIỮA TIỀM NĂNG VÀ HIỆN THỰC:

Một cục quặng đá có chứa vàng bên trong không có nghĩa nó đã là một thỏi vàng y. Nếu không trải qua quá trình đập vỡ, nung chảy và tinh luyện, cục quặng đó mãi mãi chỉ là một cục đá móp méo. Việc bám chấp vào Phật Tánh có sẵn khiến người ta nhầm tưởng mình đã đạt đến đích đến, trong khi thực tế họ chỉ mới nhận ra mình có mang theo bản đồ.

 

BUÔNG LUNG VÀ DUNG TÚNG CHO PHIỀN NÃO:

Đây là cái bẫy nguy hiểm nhất. Khi nghĩ tâm mình đã là Phật, nó sẽ trở thành một tấm bình phong hoàn hảo để bao biện cho sự lười biếng và những hành vi sai trái. Họ sẽ tự nhủ: Giận dữ cũng là tánh Không, tham lam cũng xuất phát từ bản tâm, vậy thì cứ thuận theo tự nhiên. Nó tạo ra những người mở miệng là nói chuyện giải thoát, nhưng đụng chuyện thì sân si ngút ngàn.

 

Đây chính là lý do vì sao giáo lý Đại thừa luôn nhấn mạnh phải đi bằng cả hai chân: Chân đế là hiểu rằng bản thể vốn thanh tịnh và Tục đế là nhận thức rõ rệt nhân quả và những phiền não đang hiện hành để sửa đổi.

                    Vậy thì Để không rơi vào cái bẫy ỷ lại và ngã mạn này, theo mọi người, chúng ta cần áp dụng phương pháp  thực hành như thế nào mỗi khi đối diện với những cơn tham, sân, si nổi lên trong đời sống hàng ngày?

Chúng ta vẫn phải dùng đến quán pháp Tứ niệm xứ để thấy nó, và đây là sự cộng hưởng tuyệt vời giữa Đại Thừa Và Nguyên Thủy để chúng ta thấy rằng chẳng có sự khác biệt nào giữa hai pháp môn ngoài việc mở rộng khái niệm thôi.

Tứ Niệm Xứ, đặc biệt là phần Quán Tâm và Quán Pháp, chính là điểm giao thoa tuyệt hảo, là cây cầu thực hành nối liền triết lý giữa Nguyên Thủy và Đại Thừa. Chúng ta cùng phân tích sự cộng hưởng này nhé.

                     Khi thực hành Quán Tâm ví dụ như quán sát trạng thái tâm sân hận hay chướng ngại, Đức Phật dạy chúng ta chỉ đơn thuần ghi nhận sự có mặt hay vắng mặt của hiện tượng đó. Khi cơn giận nổi lên, hành giả chỉ ghi nhận một cách khách quan: Nội tâm đang có sự sân hận, chứ tuyệt đối không tác ý rằng TÔI đang giận.

Chính cái khoảnh khắc bạn không gán chữ Tôi vào cơn giận, bạn đang thực hành trọn vẹn cả hai đầu mối triết lý:

 

GÓC NHÌN NGUYÊN THỦY: Bạn đang thực chứng tính Vô ngã nhận ra cơn giận chỉ là một hiện tượng có điều kiện thì sinh ra, hết điều kiện thì nó sẽ diệt đi, hoàn toàn không phải là ngã hay tài sản của mình.

GÓC NHÌN ĐẠI THỪA: Bạn đang an trú trong cái biết sáng suốt, lùi lại làm chủ nhà để mặc cho các khách trần tự đến và tự đi mà không hề thọ nhiễm hay đồng nhất.

Như vậy Cả hai truyền thống gặp nhau trọn vẹn ở ngay vị trí của một người quan sát tĩnh lặng.

                          Tuy nhiên, lý thuyết là vậy, nhưng khi đưa vào thực chiến thì ranh giới giữa việc quan sát khách và nhập vai vào khách lại rất mong manh. Khi mới thực hành Quán Tâm, mọi người nghĩ xem cái bẫy vi tế nào dễ khiến chúng ta đánh mất vị trí người quan sát và lại bị cuốn phăng vào câu chuyện của cơn giận?

Cái bẫy vi tế và dễ mắc phải nhất chính là sự trượt từ việc quan sát trạng thái sang việc phân tích câu chuyện.

Khi cơn giận vừa lóe lên, thay vì tiếp tục giữ cái nhìn tĩnh lặng để xem nó đang hoạt động và thay đổi ra sao trong cơ thể hay tâm trí, chúng ta sẽ lập tức bị hút vào nguyên nhân sinh ra cơn giận đó. Khối óc sẽ tự động bắt đầu sản xuất kịch bản và phát lại đoạn phim: Tại sao người đó lại dám nói thế với mình? Mình đâu có làm gì sai, nó thật quá đáng!

Ngay tại khoảnh khắc bạn bắt đầu phân tích đúng sai, tìm kiếm thủ phạm hoặc tự bào chữa cho mình, bạn đã đánh mất vị trí người quan sát đứng trên bờ và chính thức nhảy tõm xuống dòng sông sân hận.

Thay vì nhìn cơn giận như một vị khách qua đường, chúng ta lại kéo ghế mời nó ngồi lại, rót thêm trà bằng những suy nghĩ miên man để tiếp tục câu chuyện. Lúc này, cái Tôi lại trỗi dậy để bảo vệ lẽ phải của chính mình.

Sự chuyển dịch này tinh vi đến mức nhiều lúc chúng ta cứ đinh ninh là mình đang quán tâm, nhưng thực chất chúng ta chỉ đang nhai lại nội dung của sự bực tức.

Vậy mọi người cùng suy ngẫm nhé: Khi bất chợt nhận ra mình đã lỡ trượt chân, đang bị cuốn phăng vào việc phân tích đúng sai thay vì quan sát hiện tượng, hành động sơ cứu đầu tiên và dứt khoát nhất chúng ta sẽ làm là gì để ngay lập tức cắt đứt cuốn phim đó và quay về lại vị trí của người quan sát?

Hành động sơ cứu dứt khoát nhất lúc này chính là rút phích cắm điện của tâm trí bằng cách quay về với Thân.

Cụ thể, chúng ta sẽ chuyển hướng toàn bộ sự chú ý từ câu chuyện trong đầu xuống một cảm giác vật lý đang diễn ra trong hiện tại, điển hình nhất là Hơi thở.

Nguyên lý ở đây rất đơn giản: Tâm trí không thể cùng lúc tập trung trọn vẹn vào hai đối tượng. Khi bị cuốn vào việc phân tích đúng sai, tâm trí đang lặn ngụp trong quá khứ hoặc tương lai. Trong khi đó, thân thể lại luôn luôn nằm ở thực tại.

Ngay khi phát hiện mình đang nhai lại câu chuyện, hãy dời điểm nhìn từ dòng suy nghĩ xuống nhịp thở hoặc một điểm chạm trên cơ thể. Lúc này, cuốn phim trong đầu sẽ bị mất nguồn năng lượng vì sự chú ý đã được dời đi chỗ khác và nó sẽ tự động mờ dần. Hành động vật lý này sẽ ngay lập tức kéo chúng ta trở lại chiếc ghế của người quan sát.

Vậy thì Giả sử ngay lúc cơn giận và dòng suy nghĩ đang cuộn trào mãnh liệt nhất, nếu dùng hơi thở làm mỏ neo sơ cứu, bạn sẽ chọn tập trung vào đặc điểm hoặc vị trí cụ thể nào của nhịp thở để tâm dễ dàng bám chặt vào nhất?

Và Lồng ngực là một điểm neo cực kỳ lý tưởng trong tình huống dầu sôi lửa bỏng này.

Khi một cơn giận mạnh mẽ bùng lên, nhịp thở của chúng ta thường tự động trở nên gấp gáp, nông và mạnh hơn. Chuyển động phập phồng lên xuống ở lồng ngực lúc này trở nên rất thô và rõ rệt. Nhờ vậy, tâm trí vốn đang hoảng loạn và cần một chỗ bám víu ngay lập tức sẽ dễ dàng tóm lấy chuyển động của lồng ngực hơn rất nhiều so với việc cố gắng cảm nhận một luồng hơi mỏng manh đi vào đi ra ở chóp mũi.

                   Ngay khi tâm trí bám được vào nhịp phập phồng của lồng ngực, nguồn điện cung cấp cho cuốn phim đúng sai trong đầu lập tức bị ngắt. Câu chuyện bị đình chỉ.

Tuy nhiên, dù câu chuyện trong đầu đã dừng, nhưng tàn dư vật lý của cơn giận như cảm giác nóng bừng bừng ở mặt, tim đập thình thịch, hay lồng ngực đang căng tức vẫn còn chạy rần rần trên cơ thể.

Mọi người thử nghĩ tiếp xem: Khi đã đứng yên ở vị trí người quan sát qua nhịp thở, bước tiếp theo chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với những cảm giác vật lý đầy khó chịu này để cơn giận thực sự cạn kiệt nhiên liệu và tan biến tự nhiên?

                            Và lúc này Mật tông có mặt, nếu bạn là hành giả mật tông Chuẩn đề Đông Mật, chúng ta sẽ chuyển sang thầm trì niệm mật chú, ví dụ như chú Chuẩn đề Om chale chule chunde svaha bhrum liên tục.

Sau những phân tích ở trên, việc trì tụng một câu chú để rút phích cắm tâm trí cũng là một cách thực hành rất hay. Mọi người cùng lắng tâm lại ghi nhận nhé, cái nguồn lực sân giận ấy bây giờ nó lại là nguồn cung cấp năng lượng cho chính việc hành trì mật chú, như vậy chẳng phải đúng với Câu Phiền Não Tức Bồ Đề sao?

Nói đến đây, chúng ta cùng mổ xẻ sâu hơn một chút về câu Phiền não tức Bồ đề này dưới góc nhìn của Đại Thừa và Mật Tông nhé. Nó sẽ tháo gỡ một điểm kẹt rất lớn cho những ai đang thực hành.

Với giáo lý Đại Thừa, họ nhìn nhận sự việc qua lăng kính Tánh Không. Người ta thường nghĩ phải dập tắt sự giận dữ, dọn sạch rác rưởi rồi mới có được sự thanh tịnh. Nhưng Đại Thừa chỉ ra rằng, bùn và hoa sen không thể tách rời. Hoa sen phải hút dưỡng chất từ chính vũng bùn tanh hôi ấy để nở ra thơm ngát.

Khi một cơn giận nổi lên, nếu bạn chạy trốn nó, bạn đang vứt bỏ lớp bùn. Nhưng khi bạn dám đứng lại, dùng sự tỉnh thức để nhìn thấu cơn giận, không chạy theo câu chuyện đúng sai của nó, ngay khoảnh khắc bạn nhận diện, cái năng lượng phiền não đó lập tức hóa thành năng lượng Bồ Đề.

                               Còn với Mật Tông, con đường của họ không phải là chối bỏ hay đè nén, mà là nghệ thuật luyện kim, chuyển hóa độc dược thành cam lộ. Năng lượng của sự tức giận vốn rất mạnh mẽ, cuồn cuộn và có tính tập trung cực cao. Thay vì sợ hãi, Mật Tông dùng sự tỉnh giác để bóc tách năng lượng đó ra khỏi câu chuyện bực tức trong đầu. Lúc này, cơn giận mất đi đối tượng, nó chỉ còn lại một luồng sinh khí hừng hực thuần túy. Hành giả sẽ lấy ngay cái nguồn lực rực lửa đó, chuyển hướng và bơm thẳng vào âm thanh của câu thần chú.

Nó giống như một dòng thác lũ đang đổ xuống. Nếu để tự nhiên, nó sẽ phá nát xóm làng tâm trí. Nhưng nếu bạn xây một đập thủy điện Tánh giác và dẫn nước qua tuabin chính là câu thần chú Chuẩn Đề, dòng thác cuồng nộ đó sẽ biến thành nguồn điện quang minh rực rỡ. Năng lượng sân giận càng lớn, sức mạnh trì chú càng sâu.

                  Nhưng làm thế nào để trong lúc lửa giận đang bừng bừng bốc lên, chúng ta vẫn giữ vững được cái đập thủy điện Tánh giác ấy mà không bị dòng thác cảm xúc cuốn trôi luôn cả ý niệm về câu thần chú?

                                         Bí quyết thực hành nằm ở ba bước. Một là, phải xây đập trong mùa khô. Nghĩa là chúng ta phải hành trì thần chú Chuẩn Đề mỗi ngày trong những lúc tâm trạng đang bình an nhất. Hai là, dùng thân thể làm cầu dao tổng.

                         Khi cơn giận bùng lên, hãy lập tức dời toàn bộ sự chú ý xuống nhịp thở đang phập phồng ở lồng ngực để hãm gia tốc của cơn giận lại, tạo ra khoảng không rồi mới mồi câu thần chú vào. Ba là, mượn âm thanh vật lý đè bẹp suy nghĩ. Nếu lửa giận quá mạnh, hãy đọc  câu chú thành tiếng để cưỡng chế sự chú ý của thính giác, cắt đứt hoàn toàn dòng phim đúng sai.

                                      Việc niệm chú kết hợp với những kỹ năng này cũng là một phương tiện thiện xảo tuyệt vời không kém gì việc quán niệm hơi thở để đối phó với những vị khách trần phiền não.

Vậy là trong một con đường tu, chúng ta thấy có cả ba : nguyên thủy, đại thừa, mật tông và chúng hoàn toàn nâng đỡ nhau chứ không hề chống trái nhau như một số vị nhiệt tâm với con đường  của mình mà  cố gắng làm bối rối tâm thức của người sơ cơ khác tông phái.

                          Để có một điểm chạm hoàn hảo giúp Nguyên Thủy tháo gỡ lớp phòng thủ và Đại Thừa giữ vững được cốt tủy thực hành, chúng ta sẽ cùng chiêm nghiệm nhé:

Phật Tánh không phải là một cái Ngã hay linh hồn để bám víu, mà là một Tiềm năng Vô vi để khai phóng.

Khi nhìn qua lăng kính này, cả hai truyền thống sẽ tìm thấy vị trí chính xác của mình:

Gửi góc nhìn Nguyên Thủy Để hiểu cho đúng: Không cần phải dị ứng hay e sợ danh xưng Phật Tánh. Nó hoàn toàn không đi ngược lại luật Vô thường hay Vô ngã, bởi vì nó không thuộc thế giới Hữu vi sinh diệt. Nó chính là cái Tâm chói sáng, là thực tại Vô vi vắng bóng hoàn toàn khách trần phiền não. Chấp nhận điều này, hành giả sẽ thoát khỏi sự khô khan, bế tắc và thấy được đích đến giải thoát vốn luôn hiện diện ngay tại đây và bây giờ.

Gửi góc nhìn Đại Thừa Để giữ niềm tin mà không lạc lối: Niềm tin về Phật Tánh có sẵn là một động lực tuyệt vời để đập tan sự tự ti phàm phu.

Nhưng chúng ta hãy nhớ nguyên lý: Quặng chứa vàng chưa qua nung chảy thì vẫn cư xử như một cục đá. Niềm tin vĩ đại đó bắt buộc phải được đặt trên đôi chân thực hành miên mật, quan sát và buông xả từng vi tế phiền não sinh diệt như Tứ Niệm Xứ thì kho báu mới thực sự phát quang. Đừng lấy Phật Tánh làm bình phong che đậy cho sự lười biếng hay ngã mạn.

                   Chốt lại Đại Thừa trao cho chúng ta Tầm Nhìn niềm tin vào bản tâm thanh tịnh để trái tim không cạn kiệt hy vọng.

                       Nguyên Thủy trao cho chúng ta Bước Chân kỹ thuật tháo gỡ từng phiền não thực tế để tâm trí không rơi vào ảo tưởng.Hai truyền thống này không hề bài xích nhau , mà nó đang hỗ trợ cho nhau một cách hoàn hảo.

Chúng tôi chân thành nguyện cầu cho tất cả những ai đang tinh tấn trên con đường hành trì thay vì dùng lăng kính chủ quan để soi xét sự khác biệt của tông phái bạn, chúng ta hãy tìm về sự đồng điệu để cùng nâng đỡ nhau thăng tiến trong ánh sáng quang minh của Phật Đà. Khi tâm đủ bao dung, bất cứ ai theo tông phái này  cũng sẽ nhìn thấy sự hiện diện của chính mình trong từng bước chân giải thoát của tông phái  kia. Mọi người cùng nghĩ thử xem, dùng từ bi để dìu dắt nhau đi lên, chẳng phải sẽ an lành và trọn vẹn hơn vạn lần so với việc nhọc lòng dìm nhau xuống sao?

 

Minh Thiên Mật Liên Đăng.

Phone/zalo 0943666611

1 View
bottom of page