Hôm nay, Chủ nhật 09/05/21 23:51

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 256 kết quả

Người gửi Nội dung

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: THẾ NÀO LÀ TÌNH BẠN CHÂN THÀNH
Đã gửi: Thứ 2 19/12/11 22:24 

THẾ NÀO LÀ TÌNH BẠN CHÂN THÀNH ?

Trong cuộc sống, người ta có thể gặp gỡ và kết giao nhiều bạn bè. Những người bạn từ thuở thơ ấu thường là tình bạn vững bền kéo dài suốt cả đời người. Những người bạn vô thưởng vô phạt thường là những người cùng ta bù khú hoặc là những người cùng chia sẻ lợi ích với chúng ta…. Vậy làm sao để xác định một tình bạn chân thành ?

Một tình bạn chân thành là một tình bạn vững bền cho dù những thử thách của cuộc đời. Người ta có thể kết bạn ở bất kì độ tuổi nào. Đó là những người cùng chia sẻ những buồn vui với bạn. Đó là người mà bạn muốn thông báo đầu tiên khi con mình ra đời. Đó là người bạn muốn chia sẻ khi có tâm sự.

Người bạn chân thành là người giúp bạn sửa sai khi bạn mắc phải lỗi lầm, chúc mừng khi đạt thành tựu, cổ vũ khi bạn gặp thử thách, cảnh báo khi bạn đi quá xa, ở bên bạn khi cần. Đó là những đặc điểm của những người bạn. Có khi nào đó bạn trầm tư, tự đánh giá về những người bạn của mình, bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên vì những người bạn như vậy chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

Tình bạn không bao giờ giới hạn ở giới tính, tuổi tác, giai cấp hay khoảng cách. Giữ trong lòng những suy nghĩ không hay về bạn bè không phải là một cách tốt để duy trì một tình bạn chân thành. Nghi ngờ nói những điều không có căn cứ sau lưng bạn mình lại càng là điều không nên làm.

Không ai hoàn hảo. Không ai có thể làm hài lòng tất cả mọi người. Vì nếu ai đó có những ý nghĩ tiêu cực về bạn mình, tình bạn đó khó có thể bền lâu.

Tiền bạc, ngoại hình, lợi ích, đó không phải là những thứ tạo ra một tình bạn vững bền. Sự chân thành mới là nền tảng vững chắc cho một tình bạn.

Hãy là chỗ dựa khi bạn cần. Hãy vững tin và chân thành để vượt qua những thử thách tình bạn.

Hãy cảm ơn cuộc đời đã tặng bạn món quà vô giá, đó là tình cảm chân thành từ một tình bạn thật sự.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: BÀN VỀ ĐỨC CHUẨN ĐẾ BỒ TÁT
Đã gửi: Thứ 6 10/02/12 22:29 

ĐỐI THOẠI TRONG SÂN CHÙA :

Thanh và Tịnh là hai người bạn quen nhau trong một ngôi chùa. Thanh mới học Phật nên có nhiều thắc mắc, thường hay hỏi Tịnh là người đã có công phu tu tập lâu năm. Hôm nay, nhân ở chùa thiết lễ vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát là ngày 16 tháng 3, Thanh hỏi Tịnh về Đức Chuẩn Đề Bồ Tát.

Thanh: Chị Tịnh ơi, sao em thấy trong đạo Phật có nhiều vị Phật và Bồ Tát quá. Không biết Đức Chuẩn Đề Bồ Tát là xuất xứ từ đâu và tượng trưng cho cái gì vậy chị?

Tịnh: Đức Chuẩn Đề Bồ Tát xuất xứ từ kinh Phật, như trong kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa. Ngài chính là Quan Thế Âm Bồ Tát nguyên thủy, có tên là Avalokitesvara, hay là Avalokita, và được thờ phụng kính ngưỡng ở Tây Tạng cũng như ở Ấn Độ và vùng Tây Á trước đây. Trong kinh nói ngài xuất ra từ một tia hào quang phóng từ con mắt phải của Đức Phật A Di Đà, trong tay ôm một cành hoa sen, và khi ngài vừa sinh đã thốt lên câu chân ngôn OM MANI PADME HUM. Nếu nói về huyền nghĩa, Đức Phật A Di Đà tượng trưng cho lòng đại từ đại bi, và từ lòng từ bi rộng lớn vô biên ấy mà phát xuất một đại nguyện cứu khổ cho tất cả chúng sanh đang cầu sự giải thoát khỏi đau khổ, và Chuẩn Đề Bồ Tát, hay Quan Thế Âm Bồ Tát như chúng ta thường gọi, chính là hiện thân cho đại nguyện ấy.

Thanh: Nhưng Chuẩn Đề Bồ Tát có hình tượng khác với Quan Thế Âm Bồ Tát, vì sao như vậy?

Tịnh: Chuẩn Đề Bồ Tát là Quan Âm nguyên thủy từ Ấn Độ. Theo sự tích trong kinh Lăng Nghiêm, trong một pháp hội cho hàng trời người do Đức Phật chủ tọa, Bồ Tát Avalokita đã chứng nhận rằng ngài do Pháp Quán Âm dùng tánh nghe để quán các âm thanh nên đã được giác ngộ, và từ đó khởi lòng từ bi phát nguyện sẽ cảm ứng với tất cả những âm thanh đang cầu khẩn đến ngài trong biển khổ trầm luân.
Chuẩn Đề Bồ Tát thường được vẽ tạc trong một hình tượng có nhiều mắt, nhiều tay, và các tay của ngài đều bắt ấn, hoặc cầm pháp khí. Đó là vị Bồ Tát mang tướng nam, nhưng thật ra chúng ta không nên chấp vào tướng nam hay nữ. HÌnh tượng Phật và Bồ Tát do trí tưởng tượng của con người tạo ra chỉ là những biểu tượng, không phải là thật. Kinh Kim Cang nói: “Nếu lấy sắc cầu ta, Lấy âm thanh cầu ta, Kẻ ấy hành đạo tà, Không thấy được Như Lai.” Theo như trong kinh, Đức Chuẩn Đề Bồ Tát có năng lực hóa thân thành vô số tướng, trong đó ngài có đến 337 hóa thân khác nhau.
Khi Đạo Phật phổ biến ở Trung Hoa thì Quan Âm lại được biểu tượng trong một tướng nữ, có lẽ vì ngài tượng trưng cho lòng từ bi vô lượng vô biên như tình thương của một người mẹ, nên Bồ Tát Quan Âm mang tướng nữ có vẻ gần gũi và thích hợp hơn.

Thanh: Nếu muốn cầu đến ngài thì có nghi thức gì không?

Tịnh: Vì ngài thường được thờ phụng theo Mật Tông, nên người ta dùng những nghi thức Mật Tông, nhưng phổ thông nhất là dùng Chú Chuẩn Đề, trong đó câu niệm chính là “Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha”. Người Tây Tạng thường tụng câu chú phổ thông nhất là "Om Mani Padme Hum".

Thanh: Khi tụng chú Đại Bi, chúng ta thường hay niệm Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, có phải là niệm đến Đức Chuẩn Đề Bồ Tát không vậy chị?

Tịnh: Đúng vậy, trong kinh kể rằng, Avalokita, tức là Đức Chuẩn Đề Bồ Tát, hay chúng ta thường gọi là Quan Âm, trước sự hiện diện của những hàng trời người trong pháp hội, vì muốn làm cho chúng sanh đều được lợi ích an vui, đã phóng kim quang rực rỡ sáng chói át cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, và với sự cho phép của Đức Thế Tôn, đã nói lời ngợi khen thần chú Đại Bi Đà La Ni có công hiệu diệt trừ vô số nghiệp ác, làm tiêu tan sợ hãi và đạt được những điều mong muốn. Ngài kể lại vô lượng ức kiếp về trước, đã được thọ trì thần chú này từ Đức Phật hiệu là Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai (có nghĩa là tâm vô chướng ngại), nhờ đó đã chứng ngay từ sơ địa lên đệ bát địa Bồ Tát. Lúc bấy giờ ngài vui mừng phát nguyện rằng, “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho chúng sanh với thần chú này, xin cho con liền sinh ra ngàn tay ngàn mắt.” Lời nguyện đó lập tức được đáp ứng, ngài liền có ngàn tay ngàn mắt hiện đủ nơi thân.

Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni là một bài chú dài gồm tên của các vị Bồ Tát hợp lại, được đọc với phiên âm tiếng Phạn, và được coi như một bài thần chú có năng lực rất diệu kỳ. Rất nhiều người đã có kinh nghiệm về thần lực của bài chú Đại Bi Đà La Ni, như qua vô số câu chuyện đã được kể lại.

Thanh: Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni có công hiệu như thế nào vậy chị?

Tịnh: Khi Bồ Tát Chuẩn Đề đứng trước Đức Phật và pháp hội, ngài đã có lời thệ nguyện rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, nếu có chúng sinh nào trì tụng thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni mà còn đọa vào ba đường ác, con thề không thành Chánh Giác.
Nếu trì tụng thần chú Đại Bi mà không được sanh về các cõi Phật, con thề không thành Chánh Giác.
Nếu trì tụng chú Đại Bi là không được vô lượng tam muội biện tài, con thề không thành Cháng Giác ( tam muội biện tài có nghĩa là tâm được an định, nói năng thông suốt).
Nếu trì tụng Chú Đại Bi mà tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại không được như ý, thì người ấy không phải đã thực sự trì tụng chú Đại Bi Tâm, mà phải buông bỏ những việc làm bất thiện, giả dối trong tâm.”

Nguyện như vậy rồi, Ngài còn nói thêm rằng, trì tụng Chú Đại Bi sẽ tránh được những cái chết hoạnh tử và được sanh vào chỗ an lành, gặp đủ nhân duyên để sống đời đạo hạnh và có trí tuệ. Ngoài ra, trì tụng thần chú này sẽ đạt được một tâm giác ngộ với những đặc tính sau: từ bi, bình đẳng, vô vi, bất động, an vui v.v.. và hàng phục được những tà ma, ác quỷ, chữa lành mọi căn bệnh, thoát mọi nghiệp chướng. Tuy nhiên, người trì tụng phải phát tâm Bồ Đề nguyện độ tất cả chúng sanh, giữ gìn giới luật, thì mới được Quan Âm hộ trì.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn cũng có nói đến những lợi ích khi niệm tên Quán Thế Âm, như được cứu độ khi gặp nạn lửa, nước, bị nguy hại đến tính mạng, bị gông cùm xiềng xích v.v…

Thanh: Nếu chỉ niệm bài chú Đại Bi Tâm Đà La Ni mà được vô số lợi ích như vậy, có phải là đã đi vào thần quyền, trái với luật nhân quả trong giáo lý đạo Phật chăng?

Tịnh: Hãy để ý đến chữ “thọ trì”, hay là “trì tụng”. “Trì” có nghĩa là “hành trì”, tức là làm thường xuyên. Khi đọc kinh hay niệm kinh mà tâm trở nên thanh tịnh, không còn tham sân si thì phải thường xuyên đọc và niệm kinh như là một cách thanh lọc tâm, tức là “hành trì”, thì mới chuyển được nghiệp.
Đọc và niệm kinh Phật là phương tiện thiện xảo nhất để đối trị với cái tâm tạp loạn, cái tâm si mê chạy theo những dục vọng. Khi nhiếp tâm vào câu kinh, tiếng kệ hay các câu chú niệm, năng lực tiềm ẩn trong âm thanh của tiếng kinh kệ và thần chú ấy sẽ tỏa ra và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm thức của ta. Ngoài ra, kinh Phật thường có những ý nghĩa rất sâu xa, mà vì sợ chúng sanh chưa hiểu thấu được nên đem những cách nói khác để ẩn dụ, ví dụ như lửa lớn là nói đến lửa tham sân si, nước cuốn là nói đến cơn lũ của dục vọng, xiềng xích gông cùm là nói đến những tư tưởng ô nhiễm trói buộc, tà ma ác quỷ là những tư tưởng làm tổn hại, gây tạo nghiệp ác v.v.. . Đọc thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni có thể cứu khổ, giải được những hoạn nạn v.v.. không có nghĩa là làm cho người ta ra khỏi được những hoạn nạn đó ngay tức khắc, mà là làm cho tâm xa lìa được những đau khổ, sợ hãi trong hoàn cảnh đau khổ đó. Nếu tâm được an định và không còn sợ hãi, đau khổ, thì dù ở trong cảnh nhưng cũng như là đã lìa được cảnh rồi, ngay cả khi phải đối diện với những điều hiểm nguy và đau khổ nhất cũng vậy.

Với tinh thần hiểu biết như vậy, thì niệm danh hiệu Quan Thế Âm hay Chuẩn Đề Bồ Tát không phải là cầu khẩn đấng thần linh nào mà là một phương tiện để tạo ra và giữ gìn pháp lành nơi tâm, và do đó, không hề trái với luật nhân quả trong giáo lý Đức Phật.

Thanh: Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp linh ứng do niệm chú Đại Bi thật nhiệm mầu, chúng ta có thể giải thích được những hiện tượng này như thế nào?

Tịnh: Thời nay khoa học đã tiến bộ nên có thể làm được những việc mà trước kia tưởng như là hoang đường, nhưng khoa học mới chỉ khám phá một phần của đời sống, còn có những điều ta không thể thấy biết được nhưng vẫn diễn ra, mà không thể nào đem lý luận ra giải thích được. Tâm linh là một thế giới bao la và huyền diệu không thể nghĩ bàn. Chúng ta chỉ có thể tạm giải thích là thường thường những người niệm chú Đại Bi khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy hay đau khổ là những người đã hay trì tụng chú Đại Bi rồi, cho nên họ đã có những nhân duyên sẵn, cũng như những phước lành, để chuyển hóa được nghiệp. Và khi họ có một tinh thần an định, thì cũng có được sự sáng suốt để giải quyết hay ra khỏi được những hoàn cảnh bế tắc đang xẩy ra.

Thanh: Như vậy, mình nên tin tưởng vào chư Phật, chư Bồ Tát để có thêm năng lực, cho dù có cầu nguyện điều gì không được, ít nhất cũng làm cho mình được an định, vững chãi hơn phải không chị.

Tịnh: Đúng vậy. Trí tuệ hiểu biết nhân duyên, nhân quả là tự lực, lòng tin là tha lực sẽ giúp cho ta có sức mạnh vượt qua mọi chướng duyên nghịch cảnh. Chúng ta hãy niệm:
Nam Mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát
hay Om Mani Padme Hum....
-Sưu tầm- :!:

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: SAI LẦM KHI ĐẾN CHÙA XIN TÀI LỘC
Đã gửi: Thứ 5 09/02/12 16:58 

SAI LẦM KHI ĐẾN CHÙA XIN TÀI LỘC

Hiện tượng đến chùa, đền trong các dịp lễ hội đầu năm để cầu xin tiền tài và may mắn đã trở thành thói quen của nhiều người. Nhưng suy nghĩ đó liệu đã đúng với Đạo Phật? Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên đã trò chuyện nói về các quy tắc khi đến nơi cửa Phật.

http://l.yimg.com/bt/api/res/1.2/Dn8Jb4tdZTiqboNPJaph7A--/YXBwaWQ9eW5ld3M7Y2g9NjMyO2NyPTE7Y3c9NDgwO2R4PTA7ZHk9MDtmaT11bGNyb3A7aD0yNTE7cT04NTt3PTE5MA--/http://l.yimg.com/os/247/2012/02/09/20120203155643-3-jpg_014119.jpg

Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Ảnh: Vnphoto.net)

- Khi lên chùa thờ phật, người đến lễ dâng những gì là đúng với Đạo Phật, thưa thầy?

- Người đến chùa chỉ cần cúng hương và hoa quả tinh khiết. Còn tiền mặt là để nhà chùa xây dựng và làm việc từ thiện nếu thầy trụ trì chùa đó tu chân chính.

- Xin thầy cho biết ý kiến về việc nhiều người dân lên chùa đốt rất nhiều vàng mã?

- Chuyện đốt vàng mã đến cửa phật để cầu xin tiền tài là chuyện hoàn toàn không có trong Đạo Phật. Đó là hành động hết sức lãng phí tiền của vào sai chỗ, sai mục đích và không đúng với Đạo Phật.

Phật dạy: Ta không ban phước, không giáng họa cho ai..."

- Thầy có thể cho biết hiện tượng người dân dùng tiền thật rải tràn lan với mục đích cầu lộc và may mắn liệu có đúng với tinh thần Đạo Phật ?

- Nếu đến chùa dâng tiền, cầu xin tài cầu lộc mà Phật có thể ban cho được thì phải chăng Phật biết nhận hối lộ? Hoàn toàn sai lầm và mê tín khi nghĩ như vậy.
Đã là người theo đạo Phật phải tuân theo luật Nhân-Quả. Gieo nhân gì gặt quả đó. Nhiều người hiểu sai lầm khi đến chùa cầu xin mà quên rằng Phật có dạy: “Ta không ban phước, không giáng họa cho ai hết mà chính các người lãnh cái quả do mình gây ra”

- Nhưng khi vào đền thờ các thần linh… việc cúng tiền theo nhiều người hiểu là vẫn được, và nhiều người cho rẳng dâng thần này mà không dâng thần kia sẽ gặp xui nên hiện tượng dâng tiền lẻ tràn lan vẫn vẫn xảy ra?

- Việc đến đền rồi dâng tiền để cầu xin các vị thần linh cũng chỉ là hoàn toàn mê tín và không đúng. Việc đến đền mà dâng tiền ông thần linh mà không dâng tiền ông thần linh kia rồi sợ bị trừng phạt thì ông thần linh đó cũng không xứng đáng để thờ.

Đặc điểm của thần linh là nóng giận sân si còn nhiều, phước kém hơn người cõi trời, vì trên cõi thần linh mới là cõi trời. Thần linh chính vì nóng giận, còn tham còn sinh nên khi không hài lòng hay trở lòng với người đến với mình.

Chính vì vậy người đến với thần linh vì không giải thoát được chính mình nên dễ tự làm điều xấu hại mình. Với Đạo Phật, người đến là để tự mình giảm bớt tham sân si để tự giảm bớt khổ. Đến với Đạo Phật là để học phương pháp để sống an lành và hạnh phúc cho mình chứ không phải để cầu xin và nuôi tham vọng.

Hãy dùng tiền công đức để làm từ thiện và nhận được cái tâm an lành

- Theo thầy, thay vì dùng tiền lẻ rải khắp nơi, người dân nếu khi muốn công đức thì phải làm thế nào cho đúng?

- Nếu có lòng công đức chỉ cần đặt tiền vào một nơi, đúng chỗ đặt hòm công đức mà trụ trì chùa đó đã đặt, vậy là đủ.Người đến chùa cúng là do cái tâm sẽ được cái nhân. Cứu giúp người ăn mày ăn xin cũng chỉ là cái nhân. Khi đó con người sẽ có cái tâm lành thiện và sẽ tự tạo nên được điều hạnh phúc đó là quả. Điều cốt lõi khi dâng tiền cho chùa cũng chính là như vậy, tất cả đều theo luật Nhân – Quả.

Nhiều người không hiểu được rằng khi dùng tiền cúng chùa Phật tam bảo sẽ chứng minh mà không cần ghi giấy ghi nhận hay bia công đức. Tôi cũng nghĩ rằng nếu có tâm muốn công đức cho nhà chùa, thay vì đổi tiền lẻ, hãy dùng luôn tiền đó làm việc thiện như đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, cho những trẻ em và người nghèo khó hơn là việc vừa mất tiền đổi và dâng khắp nơi mà không có ý nghĩa gì gây lãng phí.

- Chuyện tại một số đền đầu năm tổ chức việc “Lên Đồng” để thờ các thánh thần vẫn còn xảy ra, thầy có ý kiến gì về vấn đề này?

- Có câu chuyện rằng: Các vị thần linh đầu tiên có cái tâm tốt, muốn cứu nhân độ thế nên họ dựa vào xác Cô Đồng. Nhưng một thời gian thấy phủ mở ngày càng to, tiền bạc cúng rồi phí ngày càng tăng lên nên các vị thần linh chân chính bỏ đi và sau đó các vị thần linh yếu kém hơn đến nên các phủ không còn linh thiêng nữa…

- Xin cám ơn thầy !

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20121/Luan/5/chenchan2.jpg

H. N (VNN)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 09/02/12 20:59 

Đấy là quan điểm của Đạo Phật thôi chứ thực ra khi chúng ta vẫn còn mang cái sắc thân mày thì vẫn còn "Tham- Sân- Si" lắm. Quan điểm của mình là hãy học tất cả những gì nên học ở tất cả các tôn giáo và đừng coi tôn giáo nào là kém hay cao hơn nhau... mỗi một tôn giáo đều có tinh hoa của nó cả. Hãy có gắng đứng trung lập để có cách nhìn toàn diện.
Việc đốt vàng mã cũng có nguồn gốc của nó cả chứ không đơn giản là sản phẩm của mê tín dị đoan. Chỉ có hiện nay người ta lạm dụng nó nhiều và biến tướng đi, cũng giống như Hầu đồng có là nét văn hóa bản điạ của người Việt đó là vũ khí giúp chúng ta chống lại sự "đồng hóa" của TQ hàng ngàn năm nay là cách giúp con người liên lạc với thế giới vô hình và đôi khi cũng là cách chữa bệnh cho rất nhiều người....
Cách nhìn nhận đạo Phật về việc đốt vàng mã là nhằm thỏa mãn cái "Tham- Sân- Si" vẫn còn đang ngự trị trong các vị "Thần- Thánh". Một nguyên tắc của Vô hình đó là mập mờ.. không rõ ràng nên trong quá trình hành pháp chúng ta nên biết tùy cơ ứng biến để mà giúp người.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 09/02/12 22:58 

sao trong chùa ko đập mấy cái lò đốt vàng mã đi nhỉ, hay chỉ phát biểu thế thôi, ai có nhu cầu thì vẫn được phục vụ. Sao ko dán mấy cái quy tắc trước cổng chùa ? có bác nào giải thích được cái này ko ạ ?

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 10/02/12 19:15 

Thiết nghĩ nếu nhà chùa mà dán những tấm bảng CẤM thì không còn ai đi chùa lễ Phật nữa

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 10/02/12 21:39 

BatQuanTrai đã viết:
Thiết nghĩ nếu nhà chùa mà dán những tấm bảng CẤM thì không còn ai đi chùa lễ Phật nữa

Dạ vâng ! Thế giới tâm linh nó vậy đó, nó hơi mập mờ 1 chút, ai hiểu thế nào thì hiểu, tuỳ duyên

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 11/02/12 8:56 

Phần phụ lục :


1 ) Cho trang số : 56 . Ghi lại mỗi khi đăng qua các cửa đàn , gồm 5 cửa …


a ) ĐÔNG PHƯƠNG GIÁP ẤT KỲ THÂN THANH SẮC ĐẾ PHONG LÔI ĐỊA NGỤC MINH LỆNH ĐỒNG TỬ .

b ) NAM PHƯƠNG BÍNH ĐINH KỲ THÂN XÍCH SẮC ĐẾ HỎA XA ĐỊA NGỤC MINH LỆNH ĐỒNG TỬ .

c ) TÂY PHƯƠNG CANH TÂN KỲ THÂN BẠCH SẮC ĐẾ ĐAO SƠN ĐỊA NGỤC MINH LỆNH ĐỒNG TỬ .

d ) BẮC PHƯƠNG NHÂM QUÝ KỲ THÂN HẮC SẮC ĐẾ HÀN BĂNG ĐỊA NGỤC MINH LỆNH ĐỒNG TỬ .

e ) TRUNG ƯƠNG MẬU KỶ KỲ THÂN HUỲNH SẮC ĐẾ NÊ LÊ ĐỊA NGỤC MINH LỆNH ĐỒNG TỬ .

......... Đó là khi nhiểu đàn để bạt độ hương linh quá cố ( Hồn phiêu phách tán )

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 11/02/12 9:10 

Sơ lược về KHOA PHẠM CÔNG VĂN .


Chúng ta đã từng nghe: những lời Phật dạy, những lời Pháp ngữ, những bản Linh văn trong chốn Thiền môn đã làm cho người sống an vui,bớt đau khổ và người quá cố thoát được cảnh tam đồ, siêu thăng Tịnh độ. Ðó là một sự huyền diệu và là một khoa phạm đặt biệt có khả năng tiêu trừ nghiệp chướng, giải kết oan khiên để độ thế. Thật là một khoa phạm rất hữu ích vậy.
Nói đến Khoa Phạm Công Văn trong Phật giáo Việt nam là đề cập đến nghi thức, nghi lễ và mẫu mực tất cả các loại giấy tờ được dùng trong các lễ tiết của dân tộc. Tất cả nghi thức và ý nghĩa các lễ trong Phật giáo đều phát xuất từ kim khẩu đức Phật, hoặc chư Tổ được ghi lại trong kinh điển. Về sau quý vị Cổ Ðức đã sang định lại cho phù hợp với nghi lễ cổ truyền của mỗi dân tộc mà không mất mục đích tối thượng của Ðạo Phật là giải thoát và lợi sanh. Không cổ xuý hay thoả hiệp những điều mê tín dị đoan sẵn có của dân tộc đó, ngược lại còn dùng Phật pháp để soi sáng và đẩy lùi bóng tối mê tín dị đoan. Bằng cách áp dụng phương tiện hết sức thiện xảo trong nghi lễ, luôn luôn khế cơ, khế lý cho mỗi một chúng sanh hầu cứu vớt họ ra khỏi tam đồ, lục đạo và không bỏ rơi một chúng sanh nào cả.
Nghi lễ cổ truyền của dân tộc Việt Nam chúng ta ít nhiều cũng đã ảnh hưởng nghi lễ Trung quốc, nhưng với tinh thần Quốc gia ,Dân tộc, tiền nhân đã gạn lọc để giữ lại những tinh túy phù hợp với tâm lý, đạo lý làm người và cuộc sống hàng ngày của dân tộc để phát triển, và loại bỏ những điều quá câu nệ, phức tạp, hình thức không cần thiết. Các ngài đã lập nên những bộ sách Gia Lễ cho toàn dân xử dụng như Thọ Mai Gia Lễ do ngài Hồ Sĩ Dương hiệu Thọ Mai người tỉnh Hải Dương -Bắc Việt viết vào đới Trần, bộ Thành Luận Gia Lễ do ngài Lê Quý Ðôn viết vào đời Lê.v.v...và cận đại cũng có rất nhiều sách nói về nghi lễ cổ truyền của dân tộc. Nhưng Phật giáo được truyền vào Việt nam sớm hơn những thời điểm này rất xa, nên nghi thức Phật giáo đã hoà nhập vào nghi lễ phổ thông của quần chúng Việt nam một cách êm đẹp mà không thấy có bất cứ một điều gì nghịch lý cả. Nghi lễ Phật giáo đã chứa đựng nhiều mặt sinh hoạt của xã hội và con người Việt nam. Trong phạm vi bài này chỉ khảo sát về phương diện công văn mà thôi. Khi đọc qua những tài liệu này, chúng ta cũng hiểu được phần nào công việc hoằng dương đạo pháp và phương pháp hành trì của người xưa qua phương diện nghi lễ, hầu rút tỉa được ít nhiều kinh nghiệm mà ứng phú đạo tràng trong hiện tại và tương lai, bất cứ ở đâu.
Khoa phạm Công văn trong Phật giáo Việt nam là những cách thức, mẫu mực giấy tờ dùng để biểu bạch lên Tam bảo,hoặc tâu trình lên Thánh, Thần, Linh, Cô hồn.v.v...trong pháp giới lục đạo. Mục đích là giúp cho trai tín chủ tóm tắt những lời phát nguyện, những lời sám hồi tội khiên, cùng những ước nguyện hòng vun trồng công đức, tu hành.
[color=#FF00FF] Những loại văn bản sau đây hiện đang áp dụng: [/color]

1/ SỚ: Một tờ điều trần dâng lên bậc bề trên, trong Phật giáo Việt nam gọi là sớ hay sớ đầu, có tính cách như một lời phát nguyện dâng lên Tam bảo.

2/BIỂU: Nói đầy đủ là Biểu bạch, nêu rõ ràng sự kiện cần trình bày lên Tam bảo hoặc chư vị Bồ Tát.

3/ TRẠNG: Bài văn giai bày sự việc trình lên Thánh, Thần.

4/ HỊCH: Lời của người trên hiểu dụ (kêu gọi) người dưới “vd:Hịch Nguyễn Trãi”.

5/ ÐIỆP: Bản văn có tinh cách làm sáng tỏ vấn đề để người xử dụng được dễ dàng trong việc đi lại hay thi hành nhiệm vụ.

6/ DẪN: Một thể văn dùng để nói đến một sự việc khác.

7/ PHAN: Một khổ vải dài rũ xuống có ghi chữ trên đó tuỳ theo mục đích của buổi lễ “vd: như Chẩn tế, bạt độ...”.

8/ BẢNG: Dùng để yết thị chương trình hành lễ (ngày nay gọi là chương trình).

9/ NHO: Một lá cờ có ghi tên của các vị Thần ngũ phương dùng để triệu thỉnh các Ngài trong một công việc nào đó.

10/ BÀI VỊ: Tên chung của một thông báo về chỗ ngồi của chư vị Thần, Linh.v.v...

11/ THIẾP: Một bản văn để làm tin.
A/ Hình thức:

a/ Màu sắc: Sớ, Biểu, Trạng, Dẫn đều được viết trên giấy bản màu vàng. Còn các loại khác viết trên giấy màu đỏ hoặc trắng.

b/ Kích thước: Ngày xưa quy định tờ giấy bản dài khoảng 64 phân tây (cm), rộng 40 phân tây (cm), gấp làm đôi theo chiều ngang, gấp xong, bề dài là 40 cm, bề ngang là 32 cm, xếp thành 4 khổ bằng nhau. Mỗi khổ 8 cm bằng khoảng 4 ngón tay như người xưa đã dạy:”tiền nhất chưởng, hậu bán trương”.

c/ Cách trình bày: Phải viết đúng theo khuôn phép đã được người xưa quy định như: chỉ được viết một mặt mà thôi, viết chữ chân, không được viết chữ thảo. Hồng danh chư Phật, Bồ Tát, tên kinh, chú phải viết hoa lên hàng đầu hoặc giữa hàng gọi là Ðài hay Ðài lọng (nếu viết theo kiểu chữ nho xưa). Phía trên đầu tờ giấy phải chừa một khoảng trống bằng một lóng tay giữa (khoảng 3 cm), phía dưới cùng tờ giấy phải chừa một khoảng nhỏ nhất cũng phải đủ đường cho một con kiến bò (khoảng 2 cm) như người xưa đã căn dặn:”Thượng thông thiên đường, hạ triệt nghị tẩu”.Phần cuối cùng ghi ngày, tháng, năm và vị dâng sớ ký tên và đóng dấu.

[color=#FF00FF] [b]B/ Nội dung: [/b] [/color]

a/ Nội dung của Sớ, Biểu.v.v...căn cứ vào bài kệ trong phảm “Biểu Bạch” ở tập luận “Thuyết pháp Minh nhẫn” như sau:

Biểu bạch Tam bảo cảnh.
Ðồng biệt trú trì Phật.
Tiên tán tu thiện thể,
Tứ thán thí chủ ý.
Thánh linh thành Bồ đề,
Thánh chúng nguyện thành tựu.
Hồi hướng pháp giới chúng,
Chư Thiên tăng uy quang.

[b]Nghĩa là: [/b]

Tờ sớ, biểu dâng lên Phật, Bồ Tát...(Tam bảo) là phải nêu rõ dâng lên vị nào: đồng trú trì Phật hay biệt trú trì Phật, tức là dâng lên một đức Phật hay nhiều đức Phật. Ðiều trước tiên là phải tán dương công đức tu thiện của ngài, sau đó nói rõ và ca ngợi thành ý của thí chủ, cầu nguyện bậc Thánh Linh phát tâm Bồ đề, lắng nghe cùng độ trì cho lời nguyện của chúng sanh được thành tựu. Tiếp theo là hồi hướng khắp thảy chúng sanh và cầu nguyện chư Thiên đều được tăng phần oai nghiêm, sáng lạn.

b/ Văn thể: Các lòng sớ, biểu... đều tuỳ cơ duyên mà trước thuật, phải hợp vào cảnh huống lúc khấn nguyện, tức là khế cơ và khế lý, nên chư Tổ ngày xưa, các vị Cổ Ðức, các vị thiện trí thức, Cư sĩ, Phật tử uyên bác đã trước thuật nội dung các lá sớ, biểu.v.v... để dâng cúng Phật, chư Bồ Tát. Theo quan niệm chư Phật là bậc Thế tôn, nên cách hành văn cho đến văn thể đều có quy cách nhất định, thường theo thể văn Biền ngẩu đối nhau rất sát (đối câu, đối chữ, đối ý...).

Ví dụ: Nhứt niệm chí thành đối Thập phương cảm cách.

Ta bà Giáo chủ hoằng khai giải thoát chi môn đối Cực lạc Ðạo sư tiếp dẫn vãng sanh chi lộ.

Phước, thọ, khương, ninh nãi nhân tâm chi tự nguyện đối Tai, ương, hạn, ách bằng Phật lực dĩ siêu thăng.v.v...

Hầu hết các lòng văn sớ, điệp...của Phật giáo Việt nam đang xử dụng đều ở trong bộ Tâm Nang và Thiện bổn. Nhưng càng về sau càng có nhiều việc xẩy ra như lễ thành hôn tại chùa chẳng hạn, dù lòng sớ đã được trước tác nhưng chưa được ghi vào các bộ công văn của Thiền môn để áp dụng. Do đó bất cứ ai, dù xuất gia hay tại gia có văn tài liễu đạt nghĩa kinh đều có thể trước thuật và làm bản văn mẩu mực cho người sau tùy duyên mà sử dụng sau khi đã được các ngài Cao tăng, Ðại đức trong giới Thiền môn chấp nhận.

[color=#FF00FF] Tóm lại: [/color]

Sớ, Biểu, Trạng, Hịch...là những án văn chương tuyệt tác, có vần có điệu được trình bày một cách hợp đạo, khiến người đọc cảm thấy hòa mình vào mà tự phát nguyện dâng trọn niềm tin lên chư Phật, chư Bồ Tát, xem như phương tiện dắt người vào đạo. Trên phương diện tinh thần là những yếu tố gây niềm tin một cách vững chắc đối với trai tín chủ.

Khoa phạm công văn trong Phật giáo Việt nam là một công việc khá năng nề, đòi hỏi người đảm trách phải có kiến thức chuyên môn và tinh thần trách nhiệm để ứng phó và giải quyết tất cả mọi vấn đề từ trên bàn thờ đến tận nhà bếp, và phải có tinh thần cầu tiến, thường xuyên học hỏi với các bậc tôn túc, các vị chuyên khoa nghi lễ về các ngành thuộc khoa đó như: cách xử dụng các loại pháp khí, am hiểu các cung điệu, lễ nhạc, am tường khoa nghi, ý nghĩa các bài kệ để xử dụng đúng chỗ, đúng lễ, biết cách tổ chức các loại đàn tràng hầu giúp trai chủ hoàn thành sở nguyện. Ðăc biệt nhất là phải sang bằng tất cả mọi trở ngại xẩy ra trong tiến trình cung hành nghi lễ để tránh bỏ mất bất cứ một lễ lạc nào đã có trong chương trình. Ðược như vậy thì âm dương đều lợi lạc.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 11/02/12 9:11 

CÁCH XƯNG HÔ.


A/ Cách xưng hô với người được dâng cúng:

Sống Chết

Cha Hiển khảo (đã mai táng rồi)

Cố phụ (khi còn trên đất, chưa chôn)

Mẹ Hiển tỷ (đã chôn rồi)

Cố mẫu (chưa mai táng)

Ông nội (đời thứ 3) Hiển tổ khảo

Bà nội Hiển tổ tỷ

Ông cố (đời thứ 4) Hiển tằng tổ khảo

Bà cố Hiển tằng tổ tỷ

Ông cao (đời thứ 5) Hiển cao tổ khảo

Bà cao Hiển cao tổ tỷ

Từ đây trở lên, mỗi đời thêm một chữ “cao” và chỉ thêm tố đa là 2 chữ nữa mà thôi. Nếu trên 3 chữ cao thì chỉ dùng thêm một chữ “thượng” nữa.

Ví dụ: Thượng cao cao cao tổ khảo.

Con Hiển thệ tử (con trai)
Hiển thệ nữ (con gái)

Cháu nội (3 đời)


Hiển đích tôn (cháu nội trưởng)

Hiển nội tôn (cháu nội thứ)

Cháu cố (4 đời) Hiển tằng tôn

Cháu cao (5 đời) Hiển huyền tôn

B/ Cách xưng hô của người đứng cúng:

a/ Cha chết, con trai xưng: Cô tử (chưa chôn)

con gái xưng: Cô nữ

Mẹ chết, con trai xưng: Ai tử

con gái xưng: Ai nữ

Cha, mẹ đều chết (một người đã chết trước, nay thêm một người nữa)

Con trai xưng: Cô ai tử

Con gái xưng: Cô ai nữ

Con gái đã có chồng: Giá nữ

b/ Cha,mẹ chết chôn cất xong xuôi, từ đây về sau.

Con trai xưng: Hiếu tử hay Thân tử

Con gái xưng: Hiếu nữ hay Thân nữ

Rễ xưng: Nghĩa tế

Dâu xưng: Hôn

Cháu nội trưởng (cha chết trước ông bà) : Ðích tôn thừa trọng

Cháu nội trưởng (cha chưa chết): Ðích tôn

Cháu nội : Nội tôn

Cháu gọi bằng cố (4 đời) : Tằng tôn

Cháu gọi bằng cao (5 đời) : Huyền tôn

Cháu 6 đời: Lai tôn

Cháu 7 đời: Côn tôn

Cháu 8 đời: Nhưng tôn

Cháu 9 đời: Vân tôn

Cháu 10 đời: Nhĩ tôn

Dòng trực hệ, cháu gọi là tôn, sau đời thứ 10 đều gọi là Tự tôn.

Vợ của cháu thêm chữ hôn sau chữ tôn; ví dụ: vợ của cháu nội là nội tôn hôn
Cháu gái thêm chữ nữ sau chữ tôn; ví dụ: cháu nội gái là nội tôn nữ.
Chồng của cháu gái thêm chữ tế sau chữ tôn; ví dụ: chồng của cháu nội gái là nội tôn

Tế. .Dòng bàng hệ, hậu duệ tôn, cháu gọi là Ðiệt.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 11/02/12 9:13 

Cách ghi tháng của công văn.

đoan dương, lựu hỏa thư đơn, ngải kỳ dương lục.1/ Những danh từ chỉ tháng (có tính cách văn chương).

Tháng 1: Thần duy Dần nguyệt, tiết thuộc mạnh Xuân, liễu đính hoàng kim, mai khai bạch ngọc.

Tháng 2: Thần duy lan nguyệt, tiết thuộc trung hòa, oanh chuyển như hoàng, hoa phi tợ cẩm.

Tháng 3: Thần duy đào nguyệt, tiết thuộc mộ Xuân, đào vũ phiên hồng, bính tinh điểm lục.

Tháng 4: Thần duy mạch nguyệt, tiết thuộc thanh hòa, hòe ấm dinh đình, hà hương mãn chiểu.

Tháng 5: Thần duy bồ nguyệt, tiết thuộc

Tháng 6: Thần duy thử nguyệt, tiết thuộc quang dương, tử kết liên phòng, hương lưu lệ phố.

Tháng 7: Thần duy qua nguyệt, tiết thuộc lan thu, ngọc vũ sinh lương, kim phong đản thứ.

Tháng 8: Thần duy quế nguyệt, tiét thuộc trung thu, quế ảnh phù cơ, thiềm quang hiệu khiết.

Tháng 9: Thần duy cúc nguyệt,tiết thuộc trùng dương, lý cúc phiên hương, giang phong thấu cẩm.

Tháng 10: Thần duy dương nguyệt,tiết thuộc mạnh đông, nhứt tuyến thiêm trường, tam dương phục thủy.

Tháng 11: Thần duy gia nguyệt, tiết thuộc trọng đông, tuyết điểm hàng mai, gia phi ngọc quản.

Tháng 12: Thần duy lạp nguyệt, tiết thuộc quý đông, trúc diệp phù bôi, mai hoa ánh tịch.

2/ Cách ghi thông thường._ Mỗi mùa có 3 tháng: Tháng đầu mùa là “Mạnh”,tháng giữa mùa là “Trọng”,tháng cuối mùa là “Quí”.

Do đó, vị công văn chỉ ghi tháng và mùa là đủ. Ví dụ; Lễ được tổ chức vào tháng 7 thì ghi “Thần duy mạnh nguyệt, tiết thuộc Thu thiên” là được rồi.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 11/02/12 9:14 

CÁCH GHI LÝ DO NHỮNG LỄ THÔNG THƯỜNG TRONG SỚ ÐIỆP.


1.LỄ AN VỊ TÔN TƯỢNG PHẬT VÀ BỒ TÁT:

Thỉnh Phật đăng đài, cung nghinh an vị, tịch triêu chiêm phụng, sám hối kỳ an, nghênh tường tập phước sự...

2.LỄ VỀ NHÀ MỚI:

Lạc thành tân trạch, tống trừ (nhương tống) Ngũ quỉ, an trấn linh phù, thỉnh Phật thăng đài, cung nghinh an vị, tiến thí Cô hồn, phóng sanh chư loại, sám hối kỳ an, nghinh tường tập phước sự...

3.LỄ BẠT ÐỘ, TRUY TIẾN TIÊN LINH, CHẨN TẾ:

Truy tiến Tiên linh, giải oan đoạn nghiệp, tuyết thích tiền khiên, chẩn tế Cô hồn, phóng sanh thục mạng, sám hối nguyện kỳ, âm siêu dương thái, bảo an hậu duệ sự...

4.LỄ TẠ LĂNG MỘ:

Kiến lập lăng mộ, sự dĩ hoàn long, lễ tạ Thổ Thần, thù nguyện Tiên Linh, kỳ âm siêu dương thái sự...

5.CẦU AN ÐẦU NĂM:

Minh niên Xuân thủ, sám hối kỳ an, (nhương tinh, giải hạn, bảo mạng kỳ an), đồng niên nghinh đường tập phước sự..

6.CẦU AN BẢO BỆNH:

Kỳ nguyện...(tên họ bệnh nhân) đương lâm bệnh chứng, thân thể bất an, tứ chi trầm trọng, vô phương khả đảo khả cầu, kim nhật qui đầu Phật Thánh, năn phò năng cứu...

7.ÐẠI LỄ VU LAN:
( Tại chùa hoặc khuôn hội ):

Phụng vị: Thất thế phụ mẫu, đa sanh phụ mẫu, hiện tại tứ thân phụ mẫu, lục thân quyến thuộc, chư linh liệt vị, bổn khuôn (tự) hội viên, thiện nam tín nữ quá cố chư linh liệt vị.

( Tại nhà ): Bổn âm đường thượng, khứ hệ Tiên linh,...(họ) gia tôn thân quyến thuộc, chư linh liệt vị.

8.ÐÁM TANG:

Thiên cửu hỏa táng (hoặc an thổ)...chi lễ...kỳ siêu độ sự.

9.TUẦN TRONG KHI CHƯA CHÔN HOẶC CHƯA THIÊU:

Thiên cửu...(tuần thứ mấy) thất chi trai tuần...

10.LỄ HIỆP KỴ HỌ, PHÁI:

Bổn âm đường thượng, khứ thệ Tiên Linh &(họ) gia Tôn Tổ, lịch đại quá cố, nam nữ chư tôn linh liệt vị...

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Văn - Sớ - Điệp - Trạng ...
Đã gửi: Thứ 6 27/01/12 8:07 

[b]Sớ Điệp Công Văn : [/b]


[color=#00BF00] Lời Dẫn : [/color]


Nhân trong thời gian nghiên cứu về Phật Giáo Việt Nam hiện đại để viết luận án tiến sĩ của mình , tôi có dịp tiếp xúc với những bản văn sớ điệp mà chư tăng và cư sĩ ở Huế đang dùng đến trong những nghi lễ cúng cầu an hay cầu siêu cho các Phật tử tại gia . Ở Huế người ta đang dùng những bản khắc gỗ để lưu hành những văn bản có gía trị này .
Khi nghiên cứu sâu vào nội dung của các văn bản này , tôi mới thấy rằng người soạn ra chúng quả thật rất uyên thâm giáo lý Phật Giáo qua những lời lẽ , ngôn từ được dùng trong đó , Tôi nghĩ đây cũng là một kho tàng văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà chúng ta cần phải lưu giữ nó . Hơn thế nữa , việc nghiên cứu về nguồn gốc văn bản , phiên dịch và chú thích nội dung của chúng cũng là việc làm rất cần thiết để có sự lưu hành rộng rãi hơn cho bất cứ ai có quan tâm đến văn hoá Phật Giáo Việt Nam .
Trong thời gian có hạn vì những bận rộn nghiên cứu khác , tôi chỉ đánh máy vi tính và phiên âm nội dung tiếng Việt mà thôi .
Căn cứ trên nội dung của những văn bản này , tôi tạm chia ra làm 4 phần chính :

SỚ - ĐIỆP - TRẠNG – Các loại VĂN khác .

Trong phần SỚ gồm có sớ dành cho cầu an , cầu siêu , và một vài loại sớ khác như là : Sớ cúng ngoại cảnh ngoại càng , sớ cúng sao , sớ cúng Quan Thánh , v…v.
Về phần ĐIỆP thì được chia làm 2 loại , điệp dùng cho cầu siêu và điệp đặc biệt dùng cho trong lúc hành TANG LỄ , mà theo từ chúng ta thường hay gọi là điệp cúng ĐÁM .
Trong các bản TRẠNG VĂN thì gồm các thể loại như : Dẫn thuỷ sám tiên hạt , văn hịch thuỷ , văn cúng hậu Thổ v…v.
Tôi xin được chân thành giới thiệu đến quý Đạo hửu Thiện nam tín nữ , và cho những ai có quan tâm sâu sắc đến kho tàng văn hoá này . Cũng vì lớn tuổi nên đánh máy có phần hơi chậm mong quý bạn hoan hỷ .

Mục Lục :

1 - SỚ CẦU AN :

1 - Sớ cầu an ( Phật nãi )
2 - Sớ cầu an ( Nhất niệm tâm thành )
3 - Sớ cầu an ( Thoại nhiễu liên đài )

2 - SỚ CẦU SIÊU :

1 - Sớ cầu siêu ( Ta bà giáo chủ )
2 - Sớ cầu siêu ( Vạn đức từ tôn )
3 - Sớ cầu siêu chẩn tế ( Tịnh bình )
4 - Sớ cúng ngọ khai kinh ( Phong túc diêu đàn )
5 - Sớ chẩn tế ( Thắng hội hoằng khai )
6 - Sớ tụng kinh Thuỷ sám ( sám viên minh )
7 - Sớ cúng Tiêu Diện ( Biến thể diện nhiên )
8 - Sớ giải oan bạt độ ( Chuẩn Đề thuỳ phạm )
9 - Sớ Vu lan 1 ( Thu lai nguyệt đáo )
10 - Sớ Vu lan 2 ( Phật từ mẫn thế )

3 - CÁC LOẠI SỚ KHÁC :

1 - Sớ cúng ngoại cảnh ngoại càng ( Càng khôn hiển thị )
2 - Sớ cúng cầu ngư ( Thiên địa thuỷ phủ )
3 - Sớ cúng vớt đất ( Hoàng thiên giáng phước )
4 - Sớ cúng giao thừa ( Diêu hành tam giới )
5 - Sớ cúng lễ thành ( Quyền tri bắc hải )
6 - Sớ cúng Hội Đồng thánh Mẫu ( Thánh cảnh cao diêu )
7 - Sớ cúng sao 1 (Đảng đảng châu thiên )
8 - Sớ cúng sao 2 ( Tai tinh thối độ )
9 - Sớ cúng bà Bổn mạng ( Phương phi tiên nữ )
10 - Sớ cúng Quan Thánh ( Trung huyền nhật nguyệt )

4 - ĐIỆP CẦU SIÊU :

1 - Điệp cầu siêu ( Tư độ vãng sanh )
2 - Điệp cúng cô hồn ( Khải kiến pháp diên )
3 - Điệp cấp ( Tư độ linh diên )
4 - Điệp cấp phóng sanh ( Khải kiến pháp diên )
5 - Điệp cấp thuỷ sám ( Tư độ đạo tràng )
6 - Điệp thăng kiều ( Tư độ đạo tràng trai diên )
7 - Điệp Thượng phan ( Tư độ đạo tràng )
8 - Điệp tam thế tiền khiên ( Tư độ đạo tràng )
9 - Điệp Vu lan ( Tư độ vãng sanh )
10 - Điệp cúng Tuần ( Tư độ vãng sanh )
11 - Điệp cúng vớt chết nước ( Tư độ đạo tràng )
12 - Điệp cúng chết cạn ( Tư độ đạo tràng tế đàn )
13 - Điệp cúng bà cô thân ruột ( Tư độ linh diên )

5 - ĐIỆP CÚNG ĐÁM :

1 - Điệp thành phục ( Tư minh siêu độ )
2 - Điệp triêu điện ( Tư độ linh diên )
3 - Điệp tịch điện 1 ( Tư độ linh diên )
4 - Điệp tịch điện 2 ( Tư minh siêu độ )
5 - Điệp khiển điện ( Tư độ linh diên )
6 - Điệp Tế Đồ trung ( Tư độ linh diên )
7 - Điệp cầu siêu cáo yết Từ đường ( Mộ tùng căn trưởng )
8 - Điệp an linh phản khốc ( Tư độ linh diên )

6 - TRẠNG :

1 - Trạng đảo bệnh ( Thiết cúng đảo bệnh kỳ an )
2 - Trạng cúng Phù sứ ( Linh bảo đại pháp ty )
3 - Trạng lục cung ( Cúng khẩm tháng )
4 - Trạng cúng quan sát ( Khởi kiến pháp diên )
5 - Trạng tống mộc ( Khởi kiến pháp diên )
6 - Trạng cúng đất ( Thiết cúng tạ thổ kỳ an )
7 - Trạng cúng khai trương ( Thiết cúng khai trương kỳ an )
8 - Trạng cúng hoàn nguyện ( Thiết cúng hoàn nguyện )
9 - Trạng cúng Tiên sư ( Khởi kiến pháp diên )
10 - Trạng tạ mộ ( Khởi kiến pháp diên )


7 - CÁC LOẠI VĂN :

1 - Dẫn thuỷ sám tiên hạt ( Tư độ đạo tràng )
2 - Văn cúng Hưng tác ( … )
3 - Văn hịch thuỷ ( Khai giải bạt độ trầm luân tế đàn )
4 - Văn cáo đạo lộ ( … )
5 - Văn cúng hậu thổ (… )
6 – Văn Thượng lương ( … )

-------------- @ -----------------

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Khi một người đi khỏi thế gian
Đã gửi: Chủ nhật 26/02/12 18:50 

Có một hiện thực luôn luôn hiện ra trước chúng ta toàn bộ sự thật của nó là cái chết. Và trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực…

Có thể là buổi sáng khi chúng ta đang uống cà phê, có thể là một buổi chiều khi chúng ta đang trở về ngôi nhà của mình, và có thể một buổi tối khi chúng ta đang ngủ… chúng ta bỗng nhận được tin nhắn hoặc một cuộc gọi thông báo về một người bạn vừa rời bỏ thế gian. Hoặc trong suốt thời gian thức của mình, chúng ta luôn luôn nghe hoặc đọc những lời cáo phó trên đài truyền thanh, trên báo và trên tivi.

Những lúc đó, tôi thường sống im lặng và toàn bộ thế gian mênh mông hiện ra trước mắt. Trên thế gian mênh mông ấy, có một người quay lại nhìn tôi rồi lặng lẽ ra đi vĩnh viễn. Có thể tôi khóc lặng lẽ, có thể tôi thấy một cái gì đó như sự hư vô ùa qua mình, có thể là một ý nghĩ mới về đời sống, có thể là một nỗi tiếc nuối mơ hồ nhưng dai dẳng, có thể là sự thức dậy của ký ức về người đó, có thể là một câu hỏi vô nghĩa nhưng hình như không còn cách khác: “ Vì sao người ấy lại ra đi?” và có thể nó lại là một sự an ủi cho người vừa mất và cả người còn sống.

Quả thực, trong cách nghĩ thô thiển của mình, tôi luôn luôn bị ức chế bởi thế gian này quá chật chội. Chật đến nỗi cả trong giấc ngủ cũng thấy mình ở trong chen chúc, nồng nặc mùi mồ hôi kẻ lạ và bị vây bủa bởi ngàn vạn con mắt ngờ vực, soi xét. Nhưng khi biết có một người vừa rời khỏi thế gian, kể cả đó là người không hề có bất cứ mối quan hệ nào với mình thì mình cũng cảm thấy thế gian bị bắn thủng và để lại một lỗ hổng.

Nhưng trùm phủ lên tất cả những gì tôi vừa nói trên là một lời nhắc nhở của ai đó. Lời nhắc nhở đó cụ thể là: “Ngươi hãy xem lại cuộc sống của ngươi”. Với cá nhân mình, tôi thường được nghe lời nhắc nhở đó. Chính thế, tôi nghĩ về sự ra đi khỏi thế gian này của con người (có thể là ra đi vĩnh viễn) là lời nhắc nhở của Tạo hóa đối với chúng ta. Hầu hết con người sống trên thế gian này, trong đó có cá nhân tôi, rất hay quên mình phải sống như thế nào với người bên cạnh.

Có lần, một người bạn tôi đặt một câu hỏi nghe có vẻ rất “ngớ ngẩn”: “Tại sao chúng ta không sống với người đang sống như sống với người đã chết?”. Hình như câu hỏi này có điểm nào đó bất hợp lý nhưng tôi chưa biết bất hợp lý ở điểm nào. Nhưng nó có lý ở phía lý tưởng sống của con người. Đó là sự chia sẻ, cảm thông, hiểu biết, nhường nhịn, công bằng và thiện chí. Điểm hợp lý này đã trở thành cái đích của xã hội loài người mà con người trong suốt chiều dài lịch sử của mình luôn luôn tâm niệm và tìm cách đi tới.

Trong thâm tâm chúng ta ai cũng có lần suy ngẫm lại hành xử của mình đối với một đồng nghiệp, một người bạn hay một người thân khi người đó rời bỏ thế gian ra đi mãi mãi. Chúng ta nghĩ nếu người đó sống lại chúng ta sẽ không bao giờ hành xử thiếu thiện chí, bất công, ngờ vực, đố kỵ, thiếu chia sẻ, dửng dưng…với người đó như một đôi lần khi người đó còn sống. Chính thế mà ở một phía ý nghĩa của cái chết, tôi nghĩ rằng: việc thi thoảng có một người đi khỏi thế gian là một cách Tạo hóa nhắc nhở sự quên lãng những ý nghĩa nhân văn trong đời sống của con người.

Vậy tại sao khi người đó còn sống ở bên cạnh chúng ta trong gia đình, trong công sở, trong làng xóm hay trong khu phố thì chúng ta lại cảm thấy khó chịu, thấy ngờ vực và đôi khi căm ghét? Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chúng ta quên lãng những phẩm chất tốt đẹp vẫn luôn luôn trú ngụ trong con người chúng ta là tính sở hữu dục vọng của mình. Chúng ta muốn sở hữu danh tiếng, sở hữu công việc, sở hữu một vị trí, sở hữu trí tuệ, sở hữu sự sáng tạo cho đến sở hữu một chiếc xe, một chỗ ngồi, một lối đi trước nhà mình, thậm chí sở hữu cả một cái bàn ăn trong một tiệm ăn. Nhưng thế gian lại không chỉ có một mình chúng ta. Thế là chúng ta tìm nhiều cách chống lại những người khác mà chúng ta cho rằng người đó là nguy cơ chiếm mất những gì chúng ta thèm khát sở hữu như một sự độc quyền.

Có rất nhiều người khi ra đi khỏi thế gian này thì mới được người còn sống tin rằng anh ấy hay chị ấy là một người tốt. Cũng chỉ vì đến lúc đó chúng ta mới “thở phào” nhẹ nhõm rằng những nguy cơ cướp mất sự sở hữu của chúng ta không còn nữa. Nhiều lúc, chúng ta giống một con gà mái nuôi con xù lông tấn công một con trâu đi qua với ý nghĩ con trâu sẽ ăn thịt đàn con của nó. Nhưng con trâu chỉ biết ăn cỏ và nó không ăn thịt gà chấm muối chanh bao giờ. Nhưng con gà mái không tin chuyện đó. Có lẽ nó bị hình bóng những con cáo hay những con mèo ám ảnh.

Không ít những người đã và đang nghĩ rằng: cái chết là một điều gì đó khác với những gì chúng ta vẫn suy nghĩ lâu nay. Có người nghĩ rằng: đời sống chúng ta đang sống là một cánh đồng. Còn cái chết là một cánh đồng bên cạnh mà chúng ta chưa hề biết. Vậy khi chúng ta đã sống một cách trung thực và không ân hận với đời sống hiện tại thì khi ra đi khỏi đời sống này chúng ta sẽ thanh thản. Chúng ta chưa có ân huệ gặp lại một người trở về từ cánh đồng bên cạnh (sau cái chết) kể cho chúng ta về đời sống ở nơi chốn đó như một người đã đến thăm những khu phố cổ ở Stockhome trở về và kể lại. Ngay sau đó, chúng ta có ước muốn đến thăm những khu phố cổ ấy. Nếu khi chúng ta nghĩ và tin sau cái chết là một cánh đồng sự sống khác thì chúng ta sẽ bớt đi lòng tham và sự ích kỷ của chúng ta.

Có một hiện thực luôn luôn hiện ra trước chúng ta toàn bộ sự thật của nó là cái chết. Và trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực. Và những phẩm tính tốt đẹp trú ngụ trong bóng tối dục vọng của chúng ta thức dậy và tỏa sáng. Nhưng rồi chúng ta lại quên ngay những điều kỳ diệu đó. Thế là, chúng ta lại hành xử với một người còn sống khác bên cạnh chúng ta với toàn bộ sai lầm mà chúng ta đã mắc phải với người đã ra đi trước đó. Bởi thế, cái chết, một quy luật tất yếu của thời gian đối với con người, có chứa đựng một lời nhắc nhở những người còn sống hãy sống tốt hơn như con người có thể.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 29/02/12 11:36 

Trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực…

“Tại sao chúng ta không sống với người đang sống như sống với người đã chết?”.

Trong thâm tâm chúng ta ai cũng có lần suy ngẫm lại hành xử của mình đối với một đồng nghiệp, một người bạn hay một người thân khi người đó rời bỏ thế gian ra đi mãi mãi. Chúng ta nghĩ nếu người đó sống lại chúng ta sẽ không bao giờ hành xử thiếu thiện chí, bất công, ngờ vực, đố kỵ, thiếu chia sẻ, dửng dưng…với người đó như một đôi lần khi người đó còn sống.


Trước Tết một đồng nghiệp của tôi bị tai nạn chết đột ngột. Liên hoan tổng kết cuối năm ai cũng ngậm ngùi nhớ về cậu ấy. Có người còn lên hát tặng cậu ấy một bài với niềm tiếc nuối: "Cậu ấy chưa về thăm quê choa". Tội thế.
Bài viết rất thực tế và có ý nghĩa. Cái chết, một quy luật tất yếu của thời gian đối với con người, chứa đựng một lời nhắc nhở những người còn sống hãy sống tốt hơn.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 01/03/12 9:31 

Một tờ lịch vèo bay
Một đi không trở lại
Khoảng vắng teo treo bóng một ngày
Một tờ lịch từ trần
Quá khứ dày một tí
Tương lai mõng một tị

Một tờ lịch tạ thế
Chuông cầu an boong nhẹ như không
Xác thời gian xếp lớp xuôi dòng
Một tờ lịch băng hà
Con gái thành bà già
Con trai thành cụ ông

Một tờ lịch hóa kiếp
Bao nhiêu người hiện ra
Bao nhiêu người biến mất
Một tờ lịch viên tịch
Vui một thiếu, buồn một thừa

Một tờ lịch qua đời
Thương một đời vừa vinh lại nhục
Dài một chút, ngắn một chút
Một tờ lịch tạ thế thôi
và em ạ, thêm một ngày ta rụng...

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: BẠN BÈ
Đã gửi: Thứ 5 01/03/12 9:11 

HÓA GIẢI HẬN THÙ:
OAN GIA VUI VẺ

Tuy có câu nói: “Tình đến chỗ sâu, không còn oán hận”, nhưng sự tiếp xúc giữa những người thân với nhau càng nhiều thì sẽ sanh ra mâu thuẩn tình cảm và sự xung đột dữ dội càng nhiều, và oán hận càng sâu. Do đó mới có việc nghịch tử giết cha, giết mẹ; hoặc cha mẹ hận vì con không thành tài mà lỡ tay đánh chết con...

Trong cuộc đời của chúng ta, giữa hai bên nên kết thân gia thì tốt, còn nếu lỡ làm oan gia thì thôi. Tất cả chúng ta đều có ân oán với nhau, nhưng vì vô minh nên chúng ta không dễ gì phân biệt rõ ràng.

Nhưng thông thường, sự kết oán thì nhiều, còn kết thân thì ít, cho nên đời sau, chúng ta tiếp tục làm người thân hay là oan gia. Đó gọi là “không phải oan gia không tụ hội”. Chẳng phải có một số người gọi người tình của mình là “tiểu oan gia” đó ư? Sự tụ hội “ oan gia vui vẻ ” này đủ để chứng minh sự vướng mắc không rõ ràng giữa ân ái và oán hận.

Cách cư xử giữa con người với nhau tốt nhất là nên kết ân chớ không nên kết oán. Một gia đình, đoàn thể, xã hội mà kết thân không kết oán thì mọi người đều có cuộc sống vui vẻ. Nếu chỉ nhớ oán mà không nhớ ân thì giữa hai bên cư xử sẽ không được vui vẻ, và trở thành nỗi giày vò.

“ Vợ chồng có duyên mới gặp nhau, vì vậy duyên tốt hay xấu cũng là duyên. Con cái là nợ, vì vậy dù đòi nợ hay trả nợ cũng là nợ mà thôi.”


http://hanhphucgiadinh.vn/wp-content/uploads/2012/01/giadinh2.jpg

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: BẠN BÈ
Đã gửi: Thứ 4 22/02/12 17:31 

TRƯỚC NỢ QUÁ NHIỀU

Nếu có một số người hiểu sai về bạn quá nhiều, thậm chí còn nói với bạn những lời bực tức như vầy: “Người bạn nào ta cũng cần, nhưng ta không cần người bạn như ngươi, dù ta phải xuống Diêm Vương, ta cũng không nhận ngươi là bạn. Ngay cả thế giới cực lạc, nếu có mặt ngươi ở đó thì ta cũng không muốn đến”.

Hoặc giả bạn quan tâm, yêu thương người ta, nhưng người ta không cần tới sự quan tâm yêu thương của bạn, thậm chí hắn còn xúc phạm,làm tổn thương tới tình cảm cao quý mà bạn đã và đang dành cho hắn nữa.

Gặp phải hạng người này, bạn không cần phải để ý quá. Tốt nhất hãy tự nói với mình: “Mình nghiệp chướng sâu nặng, đời trước mình đã mắc nợ quá nhiều. Mình phải sám hối, cầu nguyện cho anh ta không còn oán hận mình nữa, và nguyện rằng giữa chúng ta không tăng thêm thù hận, không nên oan gia tương báo. Cũng nguyện rằng nghiệp chướng của mình sớm được tiêu trừ”.

Nếu bạn có thể tự nói những lời hoá giải như vậy thì trong lòng bạn sẽ không còn cảm thấy khó chịu nữa.

“Nếu muốn lìa khổ, được vui thì trước hết bạn phải không tạo các việc ác, rồi bình thản nhận lãnh quả báo cũ. Trong khi đang thọ báo thọ khổ, bạn cứ tiếp tục hành thiện, cứu giúp người khác để tạo âm phúc cho mình.”

http://d.f1.photo.zdn.vn/upload/original/2010/01/18/13/1263796719533122790_574_574.jpg

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: BẠN BÈ
Đã gửi: Thứ 5 16/02/12 18:00 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ HÓA GIẢI HẬN THÙ

LẤY OÁN BÁO ÂN

Khi bạn làm việc thiện mà người ta có ý đền đáp, thì bạn nên nghĩ như vầy: “Người này được ta giúp đỡ, nên trong lòng cảm ân muốn báo đáp, thật là một người có thiện căn, là một người biết ân và đền ân”.
Còn nếu gặp phải người không biết báo ân thì bạn nên nghĩ: “ Hiện tại có thể là họ không có điều kiện để báo đáp mình, có lẽ sau này họ hiểu ra và sẽ ban ân cho nhiều người hơn”. Mục đích gieo trồng của con người không phải là để cho mình mà là sau khi thu hoạch, cung cấp cho người khác. Người làm được như vậy mới có được niềm vui.
Nếu ta gặp phải kẻ lấy oán báo ân thì phải làm như thế nào để có được tâm hoan hỷ?
Gặp phải tình cảnh như vậy bạn nên nghĩ rằng: “ Người nhận sự giúp đỡ của ta mà lại đi hại ta. Hành động này là giúp ta thành tựu hạnh nhẫn nhục, tâm tinh tấn, tâm bất động, tâm từ bi. Cho nên họ chính là sự hoá hiện của một bậc đại Bồ Tát. Vậy thì tại sao ta lại không hoan hỷ?”
Nếu bạn nghĩ được như vậy thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể sanh tâm hoan hỷ mà không có sự hối hận.

“Dù bạn đã làm hàng trăm việc có lợi cho người mà không hề được người đền đáp chút nào, bạn vẫn phải kiên trì làm tiếp. Đó chính là “ kiên trì không ngừng nghỉ”

VIỆC QUÁ KHỨ, HÃY ĐỂ CHO NÓ QUA ĐI!

Tôi đã từng gặp một bà nọ. Bà ấy luôn than vãn với tôi rằng, con bà bị người ta hãm hại phải chịu tàn phế suốt đời.
Có lẽ bà ta cho rằng, sau khi than vãn với tôi như vậy, bà sẽ được đền bù một chút tinh thần?
Nhưng tôi không có an ủi bà ta mà ngược lại tôi còn nói: “Chuyện quá khứ hãy để cho nó qua đi, trách móc mãi cũng không có ích lợi gì. Việc duy nhất bà cần phải làm bây giờ đó chính là tìm cách cứu chữa con bà.”
Thật ra, tất cả những việc không như ý đều phát sinh từ nhân quả. Có lẽ đời này, bạn chưa làm một việc gì ác, nhưng ai dám chắc rằng đời trước, rồi đời trước nữa, bạn đã không làm việc ác?
Nếu chúng ta khẳng định được quy luật nhân quả thì đối với những việc không như ý mà chúng ta gặp phải, không phải ta chỉ không oán hận mà còn phải tích cực nổ lực để cải thiện vận mệnh sau này.

“Khi gặp chuyện đau buồn, bạn hãy nghĩ rằng đó là cái quả mà mình phải lãnh do nhân gieo trồng đời trước. nghĩ được như vậy bạn sẽ hết đau buồn.”

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 02/03/12 9:36 

CÁC GIAI ĐOẠN TRONG HÀNH TRÌ THẦN CHÚ

I – TỰ VỆ NHẬP MÔN :

Công dụng là dùng ngôn ngữ của Thần Chú để thô tâm bớt vọng. Cao hơn một tý thì chư quỷ thần theo hộ chú vì ưa thích tính tình của mình như : sự cố gắng tu tập tuy rằng không có thời giờ. Từ đây cư sĩ đã có người hộ vệ nên linh tính khá bén nhậy.

II – CẬN ĐỊNH TRÌ CHÚ :

Vì thô tâm thanh tịnh nên tình trạng Cận Định (gần nhập được chÍnh định) xuất hiện : Tình trạng này làm cho hành giả cảm nhận có những người theo mình hay ở phía sau lưng mình. Mình có thể cảm nhận sự xuất hiện của họ qua cảm giác mát lạnh sau gáy hay nằng nặng sau cổ ở vùng bả vai. Trình độ này nếu phước báu nhiều thì có thể chữa bệnh Ma Nhập hay giải bùa ngải và đôi khi chữa được một số thân bệnh nhưng kết quả không rõ ràng cho lắm. Bạn bè vô hình thường là cõi tha hóa tự tại là nhiều.

III – CHÍNH ĐỊNH TRÌ CHÚ :

Tới đây thì mới có thể gọi là tu tập Mật Tông. Vì hầu như các khai triển Đàn Pháp đều đòi hỏi Hành Giả phải có trình độ nhập chính định tối thiểu là Tứ Thiền Hữu Sắc. Còn các từng thiền khác như Tam hay Nhị và Sơ Thiền thì tâm lực đều còn yếu và như vậy: chưa đủ lực để chuyển câu Chú và học hỏi ở câu chú đó. Tóm lại trình độ của hành giả chỉ là Tự Vệ Nhập Môn nên tụng câu nào mình thấy quen là được rồi.

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

Bạn đang xem trang 1 / 11 trang [ Đã tìm thấy 256 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh