Hôm nay, Thứ 7 24/07/21 1:06

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 110 kết quả

Người gửi Nội dung

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 19:04 

- Các tài liệu về Kinh điển và Giáo pháp của Đức Phật Gautama | Tags: kinh điển, tipitaka |Leave a comment »

Sống như thế nào gọi là sống theo PHÁP.

Nhiều khi ta tưởng là sống theo Pháp, vì Pháp, nhưng đó lại hoàn toàn là không phải!

Nhiều khi ta tưởng ta đang tích cực tu hành, nhưng thực ra ta chẳng tu hành gì cả!

Đức Phật đã giải thích rõ ràng thế nào là sống theo Pháp trong Tăng Chi kinh

Kinh Sống theo Pháp

Dịch từ Pali:

HT Thích Minh Châu

Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

“Sống theo Pháp, sống theo Pháp”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là vị sống theo Pháp?

“Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thông suốt Pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu Pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng Pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo Pháp.”

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thuyết Pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày Pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là Tỷ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo Pháp.”

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đọc tụng Pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng học, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo Pháp.”

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm tùy tiện, với ý tùy quán Pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về Pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo suy tâm nhiều, nhưng không sống theo Pháp.”

“Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng Pháp, tức là Khế kinh, Ứng dụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu Pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng Pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống theo Pháp.

“Này Tỷ-kheo, như vậy ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về thuyết tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo Pháp. Này Tỷ-kheo, điều gì bậc Đạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỷ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Đấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy.”


 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: LINH VẬT DƯỚI CHÂN NÚI NGŨ NHẠC
Đã gửi: Thứ 5 01/12/11 7:36 


Sự hiện diện của khối thạch mẫu kỳ thú và dấu chân khổng lồ kỳ lạ trên đá từ nhiều trăm năm nay đã tạo nên sự hấp dẫn độc đáo cho di tích đền Sinh, đền Hóa thuộc vùng đất cổ An Mô, xã Lê Lợi (Chí Linh).



Khối Đá mẫu đền Sinh có hình một phụ nữ trong tư thế sinh nở

Khu di tích đền Sinh, đền Hóa tọa lạc dưới chân núi Ngũ Nhạc thuộc vùng đất cổ An Mô, xã Lê Lợi (Chí Linh) được biết đến là vùng thắng tích với núi non kỳ vĩ và nổi tiểng với những huyền sử ly kỳ. Nơi đây còn có khối thạch mẫu kỳ thú và dấu chân khổng lồ, tương truyền là dấu chân đức thánh Phi Bồng.

Chúng tôi tìm về An Mô vào một ngày đầu tháng 7 để chiêm ngưỡng hai linh vật đã trở thành những câu chuyện huyền thoại trong dân gian. Trời mùa hạ chốc chốc lại đổ một trận mưa rào. Mây vởn lưng chừng núi làm cho cảnh vật thêm kỳ ảo. Sau con đường quanh co, đền Sinh hiện ra chênh vênh nơi chân núi. Đường dẫn lên đền là hàng trăm bậc gạch trải trắng hoa đại. Đền Sinh xây dựng theo hình chữ Tam, gồm 3 tòa liền nhau. Linh vật được thờ trong hậu cung là khối đá tự nhiên, cao khoảng 3m, rộng bằng 2 chiếc chiếu. Ông Trần Văn Tại, 73 tuổi, người thôn An Mô, giảng giải cho tôi: Đây là thạch mẫu đã hạ sinh Đức thánh Phi Bồng. Khối đá tròn nằm ở vị trí trên cùng là đầu, khối đá phía dưới là bầu ngực, hai khối đá lớn, dài hai bên là đầu gối, ở giữa hai đầu gối có hai khối đá tượng trưng cửa bát nhã (nơi sinh nở của phụ nữ) và bào thai đang chào đời. Hai khối đá mé ngoài cùng là bàn chân. Toàn bộ khối đá có hình một phụ nữ trong tư thế sinh nở. Câu chuyện thạch mẫu sinh thánh Phi Bồng đã trở thành huyền sử mà trẻ đất An Mô nào cũng thuộc. Sách Lĩnh Nam chích quái, Đại Nam nhất thống chí ghi: Ở An Mô (Chí Linh), có một quả núi hình như bình phong. Ở đó có một khối đá rộng bằng hai cái chiếu, ở giữa nứt ra một hố rộng chừng một thước. Khối đá kết nổi này có dáng người mẹ trong tư thế sinh nở. Tương truyền ngày trước trẻ chăn trâu tụ hội ở chân núi nghe có tiếng trẻ khóc, đến nơi thấy một em bé ngồi ở chỗ đá nứt, tiếng như chuông đồng. Trẻ mục đồng lấy tay làm kiệu, lấy nón làm lọng, lấy khăn trẻ gái làm cờ, rước về làng. Trên đường đi, bỗng nhiên trời nổi mưa to gió lớn, em bé ấy bay thẳng lên không, nói vọng xuống: “Ta là thần Phi Bồng hạo Thiên giáng hạ, nay bị lộ hóa về trời”. Người địa phương lấy làm kinh dị lập đền thờ. Chỗ khối đá sinh ra em bé lập đền Sinh, chỗ em bé hóa về trời lập đền Hóa. Từ đó Thánh Phi Bồng đã phù hộ cho dân trong vùng được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Thánh cũng đã ngầm giúp cho vua Lý Thái Tông dẹp quân Chiêm Thành, Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên, được nhiều triều vua phong là “Hạo Thiên tối linh thượng đẳng thần”.

Theo thần tích trên tấm bia thời Nguyễn tại đền Sinh thì, Phi Bồng là một tướng quân tên Phúc Uy, sống vào thế kỷ thứ 6, người bản trang An Mô, có công chống giặc cứu nước. Tương truyền, ở trang An Mô có vợ chồng họ Chu do cầu tự sinh được một bé trai đặt tên là Hạo, tự là Phúc Uy. Phúc Uy lớn lên tư chất hơn người, võ văn đều giỏi. Khi Lý Nam Đế khởi nghĩa chống quân Lương, Phúc Uy dẫn quân bản bộ tham gia, được phong Uy vũ đại tướng quân trấn thủ vùng Hải Dương. Khi giặc phương Bắc sang xâm lược ông đem quân cự chiến và hy sinh tại Việt Yên (Bắc Giang). Sau khi mất nhiều lần ông hiển thánh ngầm giúp cho quân ta đánh giặc và được nhiều triều vua phong tặng như đã nói trên. Ghi nhớ công ơn của ông cùng người mẹ, nhân dân đã lập đền thờ. Như vậy nhân vật được thờ ở đền Sinh, đền Hóa vừa có gốc gác thiên thần vừa là nhân thần. Chính điều này khiến di tích trở thành một chốn tâm linh đặc biệt.

Vết lõm trông giống dấu chân có chiều dài chừng 45 cm, in sâu 10cm phía sau đền Hóa

Theo bia ký đền Sinh được xây dựng từ thời Tiền Lê, đền Hóa được xây dựng thời Lý. Trải qua các triều đại đền đã nhiều lần được trùng tu khang trang. Đền Sinh, đền Hóa còn là di tích cách mạng. Năm 1994 đền Sinh, đền Hóa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Ông Nguyễn Văn Sông, Trưởng Ban Quản lý di tích thị xã cho biết: Hiện phần hậu cung đền Sinh đang được tu sửa, công trình được đầu tư gần 5 tỷ đồng, trong đó Nhà nước 30%, phần còn lại do nguồn công đức. Ngày trước khối đá mẫu bị tường hậu cung xây trùm lên. Đợt trùng tu này nhằm trả lại sự giá trị nguyên sơ của đá mẫu uy linh cổ xưa.

Cùng với sự kỳ thú của mẫu đá đền Sinh, phía sau đền Hóa còn có dấu chân khổng lồ kỳ lạ. Vết chân này cách đền Hóa khoảng 1 km, nằm trên một khối đá to bằng bốn chiếc chiếu có chiều dài chừng 45 cm, in hằn sâu xuống đá 10 cm. Người dân ở đây cho rằng, đó là một trong ba dấu chân đức thánh An Mô giáng trần giúp tướng quân Trần Hưng Đạo đánh giặc năm xưa. Truyện kể, thời nhà Trần, giặc Nguyên sang xâm lấn nước ta. Tại quân doanh Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo ngày đêm suy nghĩ phương kế đánh giặc. Nỗi lo của người là còn thiếu nhiều thuyền chiến để cấp cho thuỷ quân. Bữa đó, Trần Hưng Đạo qua miếu Phi Bồng cầu đảo và ngủ lại đó. Đến nửa đêm nằm mộng thấy một ông già tóc trắng hiện ra xưng là “Phi Bồng” giáng xuống hòn đá dạo trước nói: “Nay biết tướng quân không đủ thuyền cấp cho thuỷ quân chống giặc nên xin phù giúp. Sáng mai tướng quân đến bến Lục Đầu ta sẽ cấp cho đủ số thuyền mà tướng quân cần”. Nói xong vị thần biến mất. Tỉnh dậy, Hưng Đạo Vương mới biết là một giấc mơ liền vái tạ ơn. Sáng hôm sau quân lính về báo, đêm qua không hiểu thuyền ở đâu kéo về đậu đầy ở bến sông. Hưng Đạo Vương đến xem xét, thấy đúng như lời vị thần đã báo. Đánh thắng giặc Nguyên, Hưng Đạo Vương lệnh cho đoàn thuyền về đỗ tại bến Lục Đầu rồi sắm sửa lễ vật, khấn rằng:"Nhờ tướng quân Phi Bồng phù giúp thuyền chống giặc. Nay giặc đã tan, Quốc Tuấn tôi xin hoàn trả lại". Đêm hôm đó trời nổi phong ba, đoàn thuyền tự nhiên biến mất. Sáng hôm sau từ An Mô đến Vạn Kiếp xuất hiện 3 dấu chân khổng lồ in hằn xuống đá, một dấu ở sườn Ngũ Nhạc sau đền Hóa, một dấu ở núi Trò, một dấu ở núi Trán Rồng. Còn trên dãy núi Phượng Hoàng xuất hiện hai đường kéo thuyền. Mọi người cho đó là dấu chân và đường kéo thuyền của Phi Bồng giúp Hưng Đạo Vương đánh giặc. Trải qua thời gian, đến nay dấu chân khổng lồ kỳ lạ ở sau đền Hóa và núi đầu Trò vẫn còn nguyên vẹn.

Có thể những chuyện trên chỉ do nhân dân địa phương hư cấu để tăng thêm tính huyền thoại, lỳ kỳ. Dù sao thì sự hiện diện của khối thạch mẫu kỳ thú và dấu chân khổng lồ kỳ lạ trên đá từ nhiều trăm năm nay đã tạo nên sự hấp dẫn độc đáo cho di tích đền Sinh, đền Hóa.
Nguồn:Báo Hải Dương

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 31/12/11 22:44 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 06/01/12 8:45 

Cám ơn bạn đã có bài sưu tầm thật ý nghĩa cho nhiều người đang tu tập nhưng luôn có sự vọng tưởng ,đó là những điều thiết thực mà chúng ta ai cũng lên biết

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 09/01/12 12:48 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 19/01/12 15:01 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH
Đã gửi: Thứ 6 20/01/12 10:10 

[b PHẨM THỨ NĂM
THÀNH ĐẠO
KIM CANG THÂN
Đức Phật bảo: “Này Ca Diếp Bồ tát ! Thân Như Lai là thân thường trụ, thân bất hoại, thân kim cang, chẳng phải thân tạp thực. Thân Như Lai đích thực phải là PHÁP THÂN”.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Những thân của Phật nói con đều chẳng thấy. Con chỉ thấy thân vô thường bại hoại, thân vi trần, tạp thực thôi. Vì rằng Như Lai sắp nhập Niết bàn”.

Phật dạy: Này Ca Diếp ! Chớ cho rằng thân Như Lai vô thường bại hoại như thân phàm phu.
Ca Diếp ! Ông nên biết ! Thân Như Lai vô lượng vô số kiếp hằng hữu, luôn luôn hiện hữu, không có trong các cụm từ: tiêu tan bại hoại, mục nát, diệt vong. Vì thân Như Lai không có tướng đến, tướng đi, tướng ngồi, tướng nằm, tướng co, tướng duỗi….Thế cho nên, thân Như Lai không phải là thân tạp thực. Như Lai chẳng phải thân mà là thân. Thân Như Lai chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, không có lúc thêm lên, chẳng có lúc bớt xuống, không có lúc ra, chẳng có lúc vào. Thân Như Lai không phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải nghiệp quả, không rời nghiệp quả. Chẳng phải ngũ uẩn, không rời ngũ uẩn, chẳng phải thất đại, cũng không ngoài thất đại.Chẳng phải tâm vương, chẳng phải tâm sở, không ngoài tâm vương, tâm sở. Thân Như Lai bình đẳng hiện hữu mọi chốn mọi nơi mà cũng không trụ ở một chốn nơi nào. Vì thân Như Lai không phải là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Như Lai không phải nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, cũng không phải không nhãn, không nhĩ, không tỷ, không thiệt, không thân, không ý. Thân Như Lai không phải nhãn thức, cho đến không phải ý thức, nhưng cũng không xa lìa sáu thức ấy. Thân Như Lai vô sở trụ mà trụ tất cả chỗ, không tướng mạo mà đủ tất cả đức tướng trang nghiêm.
Như Lai cứu độ cho tất cả chúng sinh được giải thoát mà không cứu độ một chúng sinh nào. Như Lai thương tất cả chúng sinh mà không thương một chúng sinh nào. Thân Như Lai thành tựu vô lượng vô biên công đức vi diệu như vậy. Thân của Như Lai không ai biết, không ai chẳng biết, vì thân Như Lai không phải không gian, không rời ngoài không gian, không phải thời gian cũng không ngoài thời gian. Thân của Như Lai là PHÁP THÂN, là BIẾN NHẤT THIẾT XỨ. Thế cho nên nói Như Lai nhập Niết bàn, kỳ thực Như Lai chẳng nhập Niết bàn.
PHÁP THÂN NHƯ LAI thành tựu công đức vi diệu thậm thâm vô thượng…
_ Này Ca Diếp ! Chỉ có Như Lai mới biết. Chẳng phải hàng Thanh
Văn, Duyên Giác biết được.
_ Này Ca Diếp ! Chơn thân của Như Lai có công đức như vậy, làm gì có các bịnh hoạn khổ đau, mong manh tạm bợ chẳng bền chắc như đồ gốm chưa hầm ! Như Lai thị hiện có các sự khổ là vì muốn điều phục các chúng sinh.
Nay ông phải biết thân Như Lai là thân Kim Cang. Ông phải chuyên tâm tu tập suy nghĩ nghĩa ấy, chớ nghĩ như Lai là thân tạp thực. Ông cũng nên vì mọi người mà giảng nói: Rằng thân Như Lai là “Pháp thân”.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Như Lai thành tựu công đức như vậy, thì làm gì có chịu sự vô thường bại hoại, tử biệt sinh ly như hạng phàm phu !”. Từ nay, con phải thường suy nghĩ thân của Như Lai là Pháp thân thường trụ, là giải thoát thân. Con sẽ nói rộng nghĩa ấy cho nhiều người khác cùng nghe biết.
_ Kính bạch Thế Tôn ! Con chưa rõ vì nguyên nhân gì mà Pháp thân của Như Lai là thân Kim Cang bất hoại ?
Phật dạy: “Này Ca Diếp ! Vì vô lượng kiếp tu nhân hộ trì chánh pháp mà được thành tựu thân Kim Cang thường trụ bất hoại này.
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: “Nếu có Tỳ kheo tùy ở chỗ nào, nuôi thân vừa đủ, đọc tụng kinh điển, tư duy tọa thiền, thường giảng nói về: phước đức của sự tu hạnh trì giới, bố thí….ít muốn, biết đủ….
Dầu hay thuyết pháp như vậy mà không thể tuyên thuyết pháp Đại thừa, không có đồ chúng Đại thừa, không hàng phục được kẻ tà kiến. Tỳ kheo này không đem lại lợi ích cho mình và cũng chẳng đem lại lợi ích cho chúng sinh. Phải biết Tỳ kheo này dầu có giữ gìn phạm hạnh, trông có vẻ thanh tịnh mà thực chất hạng người này chẳng nếm được hương vị giải thoát giác ngộ của Đại thừa.
Nếu có Tỳ kheo nuôi thân vừa đủ, giữ gìn cấm giới đã thọ, có thể giảng rộng giáo lý Đại thừa trong chín bộ kinh, để lợi ích an lạc các hạng chúng sinh, rằng: Trong kinh Niết bàn, đức Phật bảo các Tỳ kheo chẳng được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò, dê lợn. Phải răn trị vị Tỳ kheo nào chứa nuôi những vật bất tịnh ấy. Như Lai ở trong các kinh đã từng dạy Tỳ kheo nuôi chứa những vật phi pháp, các quốc vương cứ theo luật pháp mà trừng trị bình đẳng như mọi công dân trong xã hội.
Thầy Tỳ kheo tuyên thuyết những lời như trên đây, có thể bị những kẻ phá giới nghe được, oán giận, thậm chí hãm hại giết chết vị pháp sư này. Dầu bị giết chết nhưng vị pháp sư này được xem là bực trì giới lợi mình lợi người. Do duyên cớ ấy nên Như Lai cho phép vua quan, cư sĩ hộ trì người thuyết pháp. Nếu ai muốn được hộ trì chánh pháp phải nên tu học như vậy.
Này Ca Diếp ! Đời quá khứ vô lượng vô biên kiếp, nơi thành Câu Thi Na có Phật ra đời hiệu Hoan Hỉ Tăng Ích Như Lai, đủ mười đức hiệu. Lúc ấy, cõi nước rộng lớn tốt đẹp giàu có, nhân dân an lạc đầy đủ ấm no. Phật Hoan Hỉ Tăng Ích trụ thế rất lâu. Cơ duyên đã mãn, Phật nhập Niết Bàn nơi rừng Ta La. Sau khi Phật Hoan Hỉ Tăng Ích nhập Niết Bàn, chánh pháp còn ở đời vô lượng ức năm, lúc còn lại bốn mươi năm cuối cùng, có một Tỳ kheo trì giới hiệu là Giác Đức có đông đồ chúng. Tỳ kheo Giác Đức hay tuyên thuyết chín bộ kinh. Rằng ở trong các kinh Như Lai dạy các Tỳ kheo không được chứa nuôi tôi tớ, trâu bò, heo dê…những vật phi pháp. Các Tỳ kheo phá giới nghe được đem lòng oán ghét và hãm hại Giác Đức. Quốc vương Hữu Đức nghe được việc ấy, vì hộ pháp, nhà vua liền đến đấu chiến với bọn phá giới. Nhờ đó mà pháp sư Giác Đức khỏi nạn. Nhà vua bị thương nặng. Pháp sư Giác Đức liền khen vua rằng: “Lành thay ! Nay vua là người hộ pháp, đời nay, đời sau, thân vua sẽ là vô lượng pháp khí”. Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng. Vì vết thương trầm trọng, nhà vua băng hà và thọ sanh vào thế giới của đức Phật A Súc, làm vị đệ tử thứ nhứt. Những người theo vua chiến đấu hoặc tùy hỉ đều được không thối chuyển tâm Bồ đề. Sau khi chết họ cũng được sanh về nước của Phật A Súc. Pháp sư Giác Đức khi báo mãn, thọ chung cũng sanh về cõi ấy làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh văn.
Này Ca Diếp ! Quốc vương trước kia là tiền thân của ta đây, Pháp sư
Giác Đức là tiền thân của Phật Ca Diếp.
Nếu lúc chánh pháp sắp diệt phải nên hộ trì như vậy. Người hộ pháp được vô lượng quả báo, vì thế nên nay Như Lai được nhiều tướng tốt để tự trang nghiêm, thành tựu “pháp thân Kim Cang bất hoại”.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Thân chơn thường của
Như Lai cũng như khắc chạm vào đá”.
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Vì nhơn duyên như vậy nên Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di phải siêng năng hộ trì chánh pháp, hộ pháp được quả báo rộng lớn vô lượng.
Này Ca Diếp ! Vì những cớ ấy nên hàng Ưu Bà Tắc v.v…phải cầm binh khí ủng hộ vị Tỳ kheo trì pháp như nhà vua hộ trì pháp sư Giác Đức. Thế cho nên Như Lai dạy: Vì chánh pháp Đại thừa, người sư sĩ không cần thọ trì ngũ giới bằng tâm kiến thủ tầm thường ! Nếu trụ tâm kiến
thủ để thọ trì ngũ giới thì không phải là người tu học Đại thừa, làm giảm sút cái nhân TRƯỜNG THỌ, KIM CANG BẤT HOẠI.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Nếu chư Tỳ kheo làm bạn với hàng Ưu Bà Tắc cầm binh khí như vậy là hợp với lời Phật dạy hay không hợp ? Làm như vậy trì giới hay phạm giới ?”
Phật nói: “Ông chớ nói những người ấy là phạm giới. Sau khi ta nhập Niết bàn, đời trược ác, cõi nước nhiễu loạn, trộm cướp dấy lên, nhân dân đói khổ. Có người vì khổ nên phát tâm xuất gia, người như vậy đáng được gọi là người cư sĩ trọc. Hạng trọc ấy, thấy Tỳ kheo thanh tịnh giữ gìn giới hạnh, đầy đủ oai nghi, hộ trì chánh pháp, họ bèn xua đuổi hoặc âm mưu giết hại.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Nếu như vậy, Tỳ kheo trì giới hộ trì chánh pháp làm thế nào đi vào tụ lạc, thành ấp giáo hóa mọi người ?”
Phật nói: “Vì vậy nên Như Lai cho phép Tỳ kheo trì giới cùng làm bạn với hàng cư sĩ cầm khí giới. Trong trường hợp trên đây, các quốc vương, đại thần, trưởng giả, Ưu Bà Tắc vì hộ pháp mà cầm binh khí. Như Lai gọi họ là người trì giới. Dầu cầm binh khí nhưng chẳng nên giết chết người. Được như vậy gọi là người trì giới bậc nhất.
Người giảng rộng kinh điển Đại thừa phải là người xa rời lợi dưỡng, không tham muốn công danh, không đam mê sự nghiệp, không đua đòi vật chất, không cầu phú quý vinh hoa, không thân cận vua quan, không lân la đàn việt. Người giảng rộng Đại thừa phải là người đầy đủ oai nghi, điều phục những kẻ bất chánh hủy phạm giới luật. Hạng người như vậy, đáng được gọi là bậc thầy trì giới hộ pháp, là chơn thiện tri thức của chúng sanh.
Này Ca Diếp ! Nếu có Tỳ kheo vì cầu lợi mà thuyết pháp cho người, đồ chúng quyến thuộc của Tỳ kheo này cũng bắt chước thầy mà cầu lợi, Tỳ kheo này được xem là người phá hoại chúng Tăng.
Này Ca Diếp ! Tăng chúng có ba hạng: Một là phạm giới tạp Tăng.
Hai là ngu si Tăng. Ba là thanh tịnh Tăng.
• Hạng phạm giới tạp Tăng thì dễ dàng bại hoại rồi tự diệt vong.
• Hạng thanh tịnh Tăng trì giới, lợi danh không làm hư đốn họ được.
• Hạng ngu si Tăng dù có thiểu dục tri túc, thậm chí khổ hạnh, cũng không hưởng được hương vị an lạc giải thoát của Đại thừa.
Thế nào là phạm giới tạp Tăng ? Thầy Tỳ kheo dầu giữ gìn giới cấm, vì cầu lợi cùng với người phạm giới ở chung, gây dựng sự nghiệp chung, đây gọi là người phạm giới cũng gọi là tạp Tăng.
Thế nào là ngu si Tăng ? Giả sử có Tỳ kheo trụ nơi A Lan Nhã nhưng tâm trí đần độn. Dầu có tu hạnh thiểu dục tri túc, nhưng đến ngày thuyết giới, ngày tự tứ không biết thế nào đúng pháp, thế nào phi pháp. Đây gọi là hạng ngu si Tăng.
Thế nào là thanh tịnh Tăng ? Các thầy Tỳ kheo Tăng không bị các ma làm nhiễu loạn, có thể điều phục hai bộ chúng trên làm cho an trụ trong chánh pháp. Đây là bậc đại sĩ Hộ pháp.
Người khéo trì luật vì muốn điều phục lợi ích chúng sinh, rõ biết hành tướng hoặc khinh hoặc trọng của giới luật mà không câu chấp nhỏ nhen.
Thế nào là điều phục lợi ích chúng sinh ? Nếu là Bồ tát vì giáo hóa chúng sinh có thể vào xóm làng mà chẳng cần thời hay phi thời. Thậm chí có thể đến nhà góa phụ, dâm nữ sống chung mà không bị nhiễm ô phạm hạnh. Đây gọi là hạng đại sĩ điều phục lợi ích chúng sinh. Hàng Thanh văn chủng tánh, thì không nên làm việc có tính mạo hiểm này.
Này Ca Diếp ! Phật pháp mầu nhiệm vô lượng vô biên chẳng thể
nghĩ bàn. Như Lai cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: “Đúng như lời Phật dạy, Phật pháp mầu nhiệm vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế, nay con biết rõ: Như Lai là thường trụ, chẳng biến đổi, chẳng hư hoại. Nay con khéo học và cũng sẽ giảng rộng cho nhiều người về nghĩa ấy”.
Phật khen Ca Diếp: “Lành thay ! Lành thay ! Thân Như Lai là thân Kim Cang bất hoại. Bồ tát phải khéo học như vậy, thấy như vậy là thấy chơn chánh. Biết như vậy là biết chơn chánh. Nếu có thể thấy biết như vậy là thấy được thân Kim Cang bất hoại của Phật!
TRỰC CHỈ
“Vân hà đắc TRƯỜNG THỌ
KIM CANG BẤT HOẠI THÂN” Ý hỏi rằng:
Phải làm gì để được THÂN TRƯỜNG THỌ ?
Phải làm gì để có THÂN KIM CANG BẤT HOẠI ?
Học phẩm TRƯỜNG THỌ thứ tư, người đệ tử Phật sáng mắt ra và nhận thức rõ về giá trị của danh từ TRƯỜNG THỌ, qua lời Như Lai Thế Tôn dạy cho Bồ tát Ca Diếp.
Bồ tát Ca Diếp còn muốn tìm hiểu nguyên nhân nào hun đúc thành tựu cái quả THÂN KIM CANG BẤT HOẠI ?
“Vân hà đắc TRƯỜNG THỌ
KIM CANG BẤT HOẠI THÂN ?”
Người Đại thừa, chủng tánh Đại thừa đọc hai câu đó, cảm nghe vừa sung sướng, vừa ngậm ngùi, nao nao, man mát trong lòng, vừa khởi niệm tri ân Bồ tát Ca Diếp, tri ân đức Phật tận đáy lòng thâm sâu vô lượng.
Không có hai câu hỏi đó, người Đệ tử Phật không có cơ hội hiểu rõ PHÁP THÂN PHẬT. Người Đệ tử Phật, thông thường chỉ thấy Phật, nghe Phật và biết Phật qua ỨNG THÂN duyên khởi, qua thân tướng của Thái tử Tất Đạt Đa, Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đến như hạng người chứng quả Thanh văn, La Hán, thậm chí các Bồ tát Đăng địa mà sự hiểu biết của các vị về PHÁP THÂN PHẬT vẫn lờ mờ. Lờ mờ cho đến lúc trở thành “Kim Cang đạo hậu” mới thôi.
“Nhược dĩ sắc kiến ngã Dĩ âm thanh cầu ngã Thị nhơn hành tà đạo Bất năng kiến Như Lai”
Bài kệ cô khởi Phật dạy ở kinh Kim Cang ấy, cho biết rằng: Là đệ tử Phật mà chưa học hiểu PHÁP THÂN PHẬT, dù người đó có tu hành cần khổ thế nào cũng chỉ là người tà đạo. Người đó không phải đệ tử Phật, vì chưa hề quen biết Như Lai, Phật bao giờ.
• Học về TRƯỜNG THỌ, là học PHÁP THÂN PHẬT hằng hữu, hiện hữu, tồn tại về mặt THỜI GIAN và học chân lý hun đúc tạo thành cái quả TRƯỜNG THỌ , bất sanh, bất diệt… ấy.
• Học KIM CANG BẤT HOẠI THÂN là học rộng về NHƯ LAI PHÁP THÂN: hằng hữu, hiện hữu, tồn tại về mặt KHÔNG GIAN. Rằng thân Như Lai vượt ngoài các từ ngữ: tiêu tan, bại hoại, hư nát, diệt vong…Rằng thân Như Lai không có sinh, diệt, đến, đi, còn, mất. Không có đi, đứng, nằm, ngồi…Rằng thân Như Lai bình đẳng hiện hữu mọi chốn, mọi nơi mà Như Lai không trụ một chốn nơi nào…
• Rằng thân Như Lai không phải núi sông, đất liền, trời mây, trăng nước, cỏ cây, hoa lá. Thân Như Lai không phải động vật, thực vật, khoáng vật. Nhưng thân Như Lai không rời ngoài núi sông, đất liền,
trời mây, trăng nước, cỏ cây, hoa lá. Thân Như Lai cũng không tách rời ngoài động vật, thực vật và khoáng vật trong vũ trụ vô biên vô cùng vô cực. Thân Như Lai là TẤT CẢ PHÁP. Vì thế, cho nên gọi là PHÁP THÂN (Ly nhật thiết tướng, tức nhất thiết pháp).
• Học KIM CANG BẤT HOẠI THÂN tức là học về PHÁP THÂN PHẬT thường trụ bên mặt không gian vậy.
• Hộ trì chánh pháp ĐẠI THỪA là NHÂN, mà KIM CANG BẤT HOẠI
là QUẢ.
Không tư duy, không quán chiếu, không tu tập, không thực hành, không sống trong chánh pháp ĐẠI THỪA thì không hiểu biết chân lý: THẤT ĐẠI DUYÊN SINH, THANH TỊNH BẢN NHIÊN của hiện tượng vạn pháp.
• Tánh GIÁC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân GIÁC, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh SẮC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân SẮC, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh THỦY chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân THỦY, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh HỎA chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân HỎA, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh PHONG chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân PHONG, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh KIẾN giác minh, kiến tinh MINH GIÁC, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
• Tánh THỨC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân THỨC, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới…..
GIỚI, ĐỊNH, TUỆ tam vô lậu học, Đại thừa hay Tiểu thừa đều xem trọng như nhau. Nhưng giới luật để THỌ để TRÌ thì quan niệm và mục đích của hai bộ không đồng.
TRÌ GIỚI ở Tiểu thừa chú trọng: “Nhiếp lục nghi”.
TRÌ GIỚI ở Đại thừa, ngoài “Nhiếp lục nghi” đặc biệt mở rộng thêm hai con đường phóng khoáng cho ý nghĩ và hành động:
1. TU THIỆN PHÁP cũng gọi là TRÌ GIỚI (cho TÂM)
2. NHIÊU ÍCH HỮU TÌNH cũng gọi là TRÌ GIỚI (cho HÀNH)
Người Đại thừa trì giới có thể, có lúc rầy la, quở trách…thậm chí có vẻ thô bạo.
Người Đại thừa trì giới vì hộ trì chánh pháp, có thể không cần thọ
giới. Do vậy Phật dạy:
Người Đại thừa nặng lòng hộ trì chánh pháp Đại thừa có thể cầm binh khí bảo vệ chánh pháp mà chưa GẤP thọ trì năm giới của một Ưu bà tắc…Đức Phật kể lại câu chuyện Tỳ kheo Giác Đức, vua Hữu Đức và vệ sĩ của vua sau khi mệnh chung, sanh về cõi nước của đức Phật A Súc để chứng minh điều đó.
* Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là Đại thừa liễu nghĩa kinh. Giáo nghĩa của kinh luận thậm thâm vi diệu; nhưng không phải thậm thâm vi diệu với mọi chủng tánh, với mọi hạng người, kể cả trong những người đã tự nhận mình là đệ tử của đức Thế Tôn.
Đệ tử tại gia của Phật cũng có nhiều căn cơ, nhiều chủng tánh. Đệ tử xuất gia của Phật cũng có nhiều căn cơ, nhiều chủng tánh như vậy. Có người có khả năng tuyên dương chánh pháp Đại thừa, cũng có người xuyên tạc chánh pháp Đại thừa nhằm để củng cố công danh sự nghiệp huyễn chất thế gian.
* Xiển dương Đại thừa không phải nhằm phê phán chê bai xem nhẹ Tiểu thừa. Nên biết ! Không có tầng nhà trệt, không thể có lầu một, lầu hai…
* Gọi là người Đại thừa phải có đầy đủ chất liệu Tiểu thừa. Phải học Tiểu thừa rồi mới trở nên Đại thừa .
* Muốn nhận thức đánh giá THỪA, người trí nhìn trên KẾT QUẢ của sự học đạo, hành đạo và chứng đạo…mà nhận biết đối tượng đang thuộc THỪA nào, sống trong THỪA nào, thọ dụng được hương vị an lạc của THỪA nào.
THỪA không giống như một thứ nhãn….”nước tương”, hay một thứ nhãn “chao” không cầu chứng, ai muốn in, muốn dán lọ nào cũng được ! Là Phật tử, chúng ta hãy thận trọng những lúc đề cập đến THỪA.

SƯU TẦM
[/b]

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 22/01/12 19:56 

Tết tết tết đến rồi .....chỉ còn có mấy tiếng nữa thôi năm cũ qua đi ,chúng ta cùng chào đón năm mới
Năm mới PD chúc diễn đàn MATVIET ngày càng bền vững lớn mạnh ,gắn chặt tình đoàn kết ,cùng nhau xây dựng diễn đàn
Chúc các gia đình đạo hữu ;
- Tổng cựu nghênh tân.Vạn sự cát tường .Toàn gia an phúc
Sang năm mới chúc mọi người có một bầu trời sức khỏe,một biển cả tình thương,một đại dương tình cảm ,một điệp khúc tình yêu ,một người yêu chung thủy , một tình bạn mênh mông ,một gia đình thịnh vượng

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 23/01/12 18:14 

Hình ảnh

- năm mới lì xì cả nhà ,mỗi người một tờ may mắn nha

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 25/01/12 10:50 

Lược Ý Hình Tượng Đức Phật Di Lặc Trong Ý Niệm Mùa Xuân Phật Giáo Bắc Truyền

Xuân là tương lai, Xuân đem đến cho nhân gian bao điều hy vọng, Xuân đem đến cho cuộc đời những ước nguyện ngày sau, Xuân là hoa, là nắng hồng ấm áp, là nụ cười, là sức sống mới vươn lên, xuân là tháng ngày bình yên và hạnh phúc, là thương yêu của vĩnh hằng gửi đến nhân gian. Cho nên thế gian khi xuân đến người người đều chào đón, vui như tết nên mở hội, nên đón Xuân.

Phật Giáo truyền đến Đông Phương như gió xuân đưa ấm nồng vào mùa đông rét buốt, tín ngưỡng Tịnh Độ của Phật Giáo Bắc Truyền như niềm hy vọng mới cho những dân tộc ảnh hưởng nền văn hóa lễ giáo Nho Gia. Trung Quốc từ thời Bàng cổ, Nghiêu, Thuấn, cho đến Hạ, Thương, Chu rồi Chiến Quốc, Xuân Thu, Tần, Hán. Việt Nam từ họ Hồng Bàng đến Hùng Vương, Âu Lạc. Đất nước luôn biến động, chiến tranh liên miên, xã hội loạn lạc, nhân dân đồ thán, không có lấy một ngày bình yên, Phật Giáo truyền vào Đông Phương làm cho tinh thần người nhân dân bản địa như có nơi nương tựa, Tín ngưỡng cầu sanh về Tịnh độ của Phật Giáo Bắc Truyền như cho nhân dân ở xứ sở này, có một niềm hy vọng mới và nơi ký thác cuộc đời mình về một thế giới yên bình và tốt đẹp hơn.

Nói đến Tịnh Độ mọi người liền nghĩ đến pháp môn Niệm Phật cầu sanh về cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Nhưng thật ra ngoài pháp môn niệm Phật vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ A Di Đà ra còn có Pháp Môn tu hành cầu sanh Tịnh Độ là Đâu Xuất Thiên Cung nơi có Đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật đang thuyết Pháp độ sanh và đợi đến ngày hạ sanh xuống trần gian thay thế cho Đức Phật Thích Ca làm Phật Giáo chủ cõi Ta Bà, giáo hóa chúng sanh.

Trong Kinh Di Lặc Thượng Sanh và Kinh Di Lặc Hạ Sanh đều có chép về Đức Di Lặc: “Đức Bồ Tát có họ là Di Lặc tên là Từ Thị, thuộc dòng dõi Bà La Môn, sau xuất gia làm đệ tử của Đức Thích Ca, trước khi Đức Thích Ca nhập diệt, sanh lên cung trời Đâu Xuất. Sau này khi Đức Thích Ca nhập diệt, trãi qua 56 ức 7000 vạn năm, Đức Di Lặc Bồ Tát từ thiên cung hạ sanh xuống phàm trần, tại vườn Hoa Lâm dưới cây Long Hoa thành Phật, giáo hóa giải thoát chúng sanh.”.

Trong Kinh Đại Thừa Tâm Địa Quán có đọan nói về Đức Di Lặc Bồ Tát rằng: “Di Lặc Bồ Tát Là con của Bậc Pháp Vương, từ khi phát tâm vì muốn kết duyên lành hóa độ hết thảy chúng sanh, nên không ăn thịt, vì nhân duyên đó mà có tên là Từ Thị. Đức Phật trong điện Như Ý có 49 tầng trên cung trời Đâu Xuất, ngày đêm thuyết Pháp bất thối, dùng vô số phương tiện độ trời người…tất cả những ai có duyên đều được độ..”.

Trong Kinh Phật Thuyết Từ Thị Bồ Tát Thệ Nguyện Đà La Ni chép: “Bấy giờ Bồ tát Từ Thị lại phát lời thệ nguyện. Sau này vào thời mạt pháp, nếu có chúng sanh nào, có thể đọc tụng thọ trì, cho đến những người túc nghiệp phải đọa vào A Tỳ địa ngục, khi tôi thành Phật, nguyện dùng Phật lực mà cứu ra khỏi địa ngục, còn thọ ký cho quả vị A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”

Đức Di Lặc Bồ Tát là vị đệ tử được Đức Phật truyền Y và thọ ký trong tương lai, kế thế ngôi vị của Đức Thích Ca Mâu Ni làm giáo chủ cõi Ta Bà. Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm chép: “Thế Tôn bảo Ca Diếp không nên vội Niết Bàn, mà nên chờ Di Lặc ra đời..”. Trong sách Truyền Đăng Lục chương Thích Ca Mâu Ni Phật chép: “Đức Phật bảo ngài Ca Diếp: Ta đem Y Kim Lâu Tăng Già Lê này tuyền cho Ông, khi Phật Từ Thị ra đời, Ông nên truyền lại cho vị Phật đã được bổ xứ, chớ để làm cho hư nát…Ngài Ca Diếp đem y Tăng Già Lê vào núi Kê Túc nhập định chờ đức Di Lặc Từ Thị hạ sanh…”. Trong sách Tây Vực Ký Bộ Ma Kiệt Đà Quốc chép: “Phật dạy Ngài Ca Diếp: Nay ta vào Niết Bàn đem chư Pháp Tạng phú chúc cho ông…Y Kim Lâu Ca Sa do Di Mẫu cúng dường, ông nên giữ lại, truyền cho Từ Thị khi thành Phật...”.

Tín ngưỡng tu hành cầu sanh về Tịnh Độ của Phật Di Lặc là Đâu Xuất Thiên Cung, được truyền vào Đông phương khoảng thời Lưỡng Tấn Trung Quốc (T.L 310), Ngài Đạo An Đại Sư đời Đông Tấn (T.L.312-385) là người khởi xướng và hành trì Pháp môn cầu sanh Tịnh Độ của Phật Di Lặc, Ngài đã từng cùng đệ tử là Ngài Pháp Ngụ và tám người khác ở trước tượng của Đức Phật Di Lặc phát nguyện vãng sanh về Tịnh Độ Đâu Xuất Thiên Cung, Ngài còn trước tác và sớ giải các tác phẩm về Tịnh Độ Pháp Môn như “Vãng Sanh Luận” và “Tịnh Độ Luận”.

Từ đó tín ngưỡng Tịnh Độ của Phật Di Lặc được phổ biến trong dân gian. Đến đời Tống thuộc thời kỳ Nam Bắc Triều (T.L 431) niên hiệu Nguyên Gia thứ 8 có Tỳ Kheo Ni Đạo Quỳnh tạo rất nhiều hình tượng của Bồ Tát Di Lặc, thờ phụng ở khắp nơi, trong đó việc tạo hình tượng Phật Di Lặc tại chùa Ngõa Quan được sử sách ghi lại sớm nhất. Năm Thái Hòa thứ 22 (T.L 498) có Cao Sở tạo tượng Di Lặc ở Thạch quật Vân Cương. Năm Cảnh Minh 4 (T L503) có Tỳ Kheo Hệu Lạc tạo tượng Phật Di Lặc cầu nguyện cho Bắc Hải Vương Nguyên Tường.v.v.. qua đó chúng ta nhận thấy rằng tín ngưỡng Phật Di Lặc ở Đông Phương đến thế kỷ thứ 5 đã hòan toàn phổ biến và hưng thịnh.

Tín ngưỡng Tịnh Độ Phật Di Lặc được người dân bản địa Đông Phương chấp nhận một cách nhanh chóng, và sự phổ cập của tín ngưỡng này vào mọi tầng lớp trong dân gian một cách sâu rộng, một phần cũng do sự ảnh hưởng của xã hội và lịch sử lúc bấy giờ. Cuối đời nhà Hán đất nước Trung quốc chia ra làm 3 nước là Ngụy, Thục, Ngô, nước Việt Nam ta lúc bấy giờ thuộc quyền cai trị của nhà Đông Ngô gọi là Giao Châu. Sau đến nhà Lưỡng Tấn rồi Nam Bắc Triều, 10 nước. v.v… vương triều bao cuộc thay ngôi đổi chủ, đất nước mấy phen dựng lập rồi lại phế, chiến tranh liên miên, giặc dã nỗi dậy ở khắp nơi, thiên tai dịch bịnh hoành hành, dân chúng không có được ngày bình yên, cuộc sống trăm bề cơ cực, lòng người hoang mang không nơi gửi thác.

Thời kỳ đầu Tín ngưỡng Tịnh Độ Phật Di Lặc là “Di Lặc Thượng Sanh” cầu sanh lên Đâu Xuất thiên cung để nghe kinh giải thoát, sự ra đời của ý niệm này đem lại cho mọi người một niềm tin mới, một hy vọng về ngày mai tốt đẹp và an lành hơn. Vì vậy mọi người nương theo lời Phật dạy trong Kinh Di Lặc Thượng Sanh mà phát tâm quy ngưỡng Đức Di Lặc, trong Kinh Phật dạy: “Nếu như có người quy y Tam Bảo, thành tâm hướng thượng, đều có thể sanh sang thế giới Tịnh Độ của Đức Phật Di Lặc, trừ được 100 ức tội nghiệp của sanh tử…”

Nói về cảnh giới phước báo trang nghiêm cũng như thù thắng, trong kinh dạy: “Thế Giới Đâu Xuất có tám dòng nước lớn bằng lưu ly phóng ánh quang minh, trang trí cho mỗi dòng nước hai bên có 500 ức bảo châu hợp thành…ở bốn cổng vào hóa ra những hoa lớn, trên mỗi đóa hoa có 24 vị thiên nữ, thân hình đẹp đẽ vi diệu, vai trai bận áo hoa sen trang sức vô số anh lạc, vai phải đeo vô số nhạc khí, như mây giữa hư không, như dưới nước mà đi lên vậy. Nếu như ai được vãng sanh lên cỏi trời Đấu Xuất, tự nhiên đều được các vị thiên nữ hộ trì.. trong cảnh giới lạc viên thiên đàn Đức Phật Di Lặc vì nhơn thiên mà thuyết pháp đại thừa, giải hết phiền não khổ đâu cho mọi người..”

Khi Tín ngưỡng Tịnh Độ của Đức Phật Di Lặc phát triển và phổ biến, thì tư tưởng “Di Lặc Hạ Sanh” bắc đầu hưng thạnh. Đến đời Bắc Ngụy thì tư tưởng “Di Lặc Hạ Sanh” hòan toàn thay thế cho tư tưởng “Di Lặc Thượng Sanh” của thời kỳ đầu. Tư tưởng Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian dựa theo tin thần của Kinh Di Lặc Hạ Sanh và Kinh Pháp Diệt Tận. Trong Kinh Pháp Diệt Tận Phật dạy: “Di Lặc hạ sanh xuống thế gian làm Phật, thiên hạ thái bình, khí độc tiêu hết, mưa hòa gió thuận, ngũ cốc xanh tốt, cây cối tốt tươi. Dân chúng người người cao lớn đến 8 trượng, sống lâu đến 8 vạn 4000 tuổi. chúng sanh được Ngài độ, số không thể kể hết.” được mọi người đón nhận, vì tính chất gần với tư tưởng xây dựng cảnh giới Nhân Gian Tịnh Độ giữa cuộc đời khổ đau của Phật Giáo Bắc Truyền. đồng thời cũng thích hợp với lối tư duy “ Thế Ngoại Đào Viên” của các dân tộc Đông Phương chịu sự ảnh hưởng truyền thống văn hóa huyền học Đạo Gia.

Tín ngưỡng Tịnh Độ Phật Di Lặc, đi theo đó là sự xuất hiện phổ biến của hình tượng đức Phật Di Lặc trong sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của Phật Giáo Bắc Truyền cũng như dân gian. Hình tượng Đức Phật Di Lặc được tạo căn cứ theo Kinh Di Lặc Hạ Sanh, hình tướng vô lượng trang nghiêm, ngồi trong tư thế hai chân giao nhau, từ bi diện mục, đây là hình tướng ban đầu của Bồ Tát Di Lặc trong nghệ thuật điêu khắc Phật tượng của Phật Giáo Bắc Truyền, thể loại hình tượng Bồ Tát ngồi hai chân giao nhau này, nay còn ở Động Đôn Hoàng. Đến đời Thạnh Đường tượng Bồ Tát Di Lặc xuất hiện thêm một hình tướng nữa, đó là tượng Bồ tát ngồi thả hai chân không còn giao nhau như những tượng Bồ Tát ban đầu. Đến đời Tống sự xuất hiện của Bố Đại Hòa Thượng, hình tượng Đức Di Lặc Bồ tát hoàn toàn được Đông Phương hóa, có hình dáng của một vị Hòa Thượng Thiền Sư của Phật Giáo Bắc Truyền, tùy duyên, tự tại, giai đại hoan hỷ.

Niềm tin có một ngày Đức Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian để hóa độ chúng sanh theo lời Phật dạy trong Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật là tác nhân chính ung đúc cho hình tượng Bố Đại Hòa Thượng Di Lặc ra đời, đồng thời tinh thần hình tướng của Đức Di Lặc Bồ Tát được Kinh A Hàm quyển trung mô tả: “Hình tướng Di Lặc Bồ Tát thường không cố định, có thời là tướng Tỳ Kheo, có khi là tướng Bồ Tát…đôi khi còn có hình tướng của Bạch Y…” cùng với văn hóa Thiền Tông phát triển và thịnh hành vào thời Đường, Tống hình tượng nhập thế của Đức Di Lặc Bồ Tát với nét đặc trưng một vị Thiền Sư bụng to, má sệ, nụ cười tươi như hoa nở, thể hiện đầy đủ tính chất tùy duyên của Phật Giáo Bắc Truyền được đản sanh, và rất mau chóng hòa nhập vào đời sống văn hóa truyền thống và tính ngưỡng dân gian của người Đông Phương cũng như Phật Giáo Bắc Truyền.

Bố Đại Hòa Thượng là ai? vì sao được xưng là Bồ Tát Di Lặc? Trong sách “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” sách “Ngũ Đăng Hội Nguyên” sách “Minh Châu Cảm Ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng Truyện”. v.v… đều có ghi chép về sự tích của Ngài. Theo Sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thời Tống (1004) chép: “Quê ở Minh Châu, huyện Phụng Hóa. Không ai rõ tên họ Ngài là gì, chỉ biết Ngài tự xưng mình là Khiết Thử, mọi người thường gọi là Bố Đại Hòa Thượng, nghĩa là Hòa Thượng Túi Vải.

Tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn. Nói năng vô định, ngủ thì tùy chỗ; thường dùng một cây gậy, quảy một cái túi vải, hễ ai cúng cho món gì, Ngài bỏ cả vào trong túi. Vào chợ, vào xóm, thấy cái gì là xin cái đó, bất kể cá ương hay rau thúi. Xin được, bỏ vào miệng; còn lại thì bỏ vào túi. Người thời bấy giờ gọi là “Trường Đinh Tử Bố Đại Sư”, tức là “ông sư túi vải cây đinh dài”.

Có lần Ngài nằm trong tuyết, mà tuyết không thấm ướt đến mình. Người ta thấy thế cho rằng Ngài là một nhân vật kỳ lạ. Nếu Ngài đến xin hàng bán của ai, hàng đó nhất định sẽ bán chạy. Trời sắp sửa mưa, chắc chắn người ta sẽ thấy Ngài mang đôi guốc gỗ đẫm ướt đi bương bã trên đường. Lúc trời hứa hẹn một ngày nắng ráo, người ta thấy Ngài treo cao đôi guốc gỗ trên cầu, nằm co chân mà ngủ. Cư dân lấy đó mà nghiệm thì có thể biết thời tiết sẽ tới. Cuộc đời Ngài để lại một số giai thoại đầy ẩn ngữ.

Một thầy Tăng đi phía trước Ngài. Ngài chạy tới vỗ vào lưng. Thầy Tăng quay đầu lại, Ngài nói: -Cho xin một quan tiền. Thầy Tăng trả lời: - Nói được thì tôi cho Ngài một quan tiền ngay. Ngài bỏ túi xuống, khoanh tay đứng.

Lần nọ, Hòa Thượng Bạch Lộc hỏi Ngài: - Túi Vải (Bố Đại) là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống. Hòa Thượng Bạch Lộc lại hỏi nữa: - Cái việc của túi vải là thế nào? Ngài quảy lên vai mà đi.

Lần khác, Hòa Thượng Tiên Bảo Phúc hỏi: - Chỗ cốt yếu của Phật Pháp là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống, khoanh tay đứng. Bảo Phúc nói: - Chỉ có vậy, hay có cái gì khác hơn nữa? Ngài liền quảy lên vai mà đi.

Có một lần Ngài đứng giữa ngã tư, một thầy Tăng hỏi: - Hòa Thượng làm gì ở đó? - Ngài đáp: - Đợi một người. - Đến rồi! Đến rồi!; - Ông không phải là người đó; - Ngài đó thế nào?; - Cho xin một quan tiền.

Đời Lương, niên hiệu Trinh Minh thứ hai, năm Bính Tý, tháng Ba , trước khi thị tịch, Ngài có nói bài kệ:

Di Lặc chân Di Lặc

Phân thân thiên bách ức

Thời thời thị thời nhơn

Thời nhơn tự bất thức

Di Lặc thật Di Lặc

Trăm nghìn ức hóa thân

Hiện thân chỉ cho người

Tự người đời không biết

Nói kệ xong, Ngài yên lành mà tịch. Về sau, ở châu khác, có người cũng thấy Ngài mang túi vải mà đi. Nhân đó, người ta mới tranh nhau vẽ tượng Ngài. Toàn thân của Ngài cho tới đời nhà Tống, còn được thấy tại chùa Nhạc Lâm.”. Với những kỳ tích và đạo hạnh cũng như Thiền tư của Ngài, cộng thêm bài kệ thị tịch, Bố Đại Hòa Thượng được Phật Giáo cũng như đại đa số quần chúng trong dân gian tín ngưỡng và lưu truyền, dần dần hình tượng của Ngài được Phật hóa thành hình tượng của Đức Phật Di Lặc trong tương lai, theo quan niệm truyền thống thần thánh dân gian Đông phương, cũng như tư tưởng “ Đại Thừa Ứng Thân” của Phật Giáo Bắc Truyền.

Hình tượng của Đức Phật Di Lặc hoàn toàn được Đông Phương hóa qua hình tướng của Bố Đại Hòa Thượng là điểm cuối cùng của quá trình Đông Phương hóa hình tượng Di Lặc Bồ Tát, vì trước Bồ Đại Hòa Thượng từ nhận mình là hóa thân của Bồ Tát Từ Thị, thì cũng rất là nhiều nhân vật nổi tiếng của Phật Giáo Bắc Truyền cũng tự nhận mình là hóa thân của Bồ Tát Di Lặc như Tống Tử Hiền đời Tùy và Võ Tắc Thiên đời Đường. Qua hiện tượng này thể hiện rõ sự trưởng thành và phát triển mạnh mẽ của Phật Giáo Bắc Truyền về hình tướng cũng như triết lý, hàm ý tính chất độc lập, lập tông của tư tưởng “Tức Tâm Tức Phật” của Thiền Gia và làm sáng ngôn luận “Tâm Phật Chúng Sanh, tam vô sai biệt”.

Tinh Thần “Thánh Phàm Bình Đẳng” của Đại Thừa Bắc Truyền Phật Giáo được thể hiện hết sức sinh động qua hình tượng của Phật Di Lặc Bố Đại Hòa Thượng. Đức Bồ Tát Di Lặc nơi Thiên Cung, với 32 tướng cụ túc, 80 vẽ đẹp trang nghiêm, nhưng khi ứng thân vào đời bằng hình hài của một vị Hòa Thượng mật mạp, bụng to, áo quần xốc sết, nhưng miệng thì luôn điểm một nụ cười, làm cho mọi người đều có thể gần gủi và thân mật. Đại Thừa là thế vì muốn đem đạo vào đời, vì người là Phật, Phật cũng là người nên đâu có cách ngăn.

Lại nữa Bố Đại Hòa Thượng Ngài thường chỉ vào cái bao chứa hết thảy những gì xin được của mình bất cứ là dơ hay sạch của mình mà nói: “ Đây là Nội Viện của Di Lặc” chỉ cho ta một hàm ý nội viện của Bồ Tát Di Lặc ở cung Đâu Xuất Đà cũng không khác gì với cõi Ta Bà ở trần thế, bất cứ như nơi nào nếu như “không còn thấy dơ sạch hay ô nhiễm nữa đó là Tây Phương, không khổ não không ưu phiền đúng là Tịnh Độ” tư tưởng “Nhất Trần Bất Nhiễm” của Đại Thừa Viên Đốn như viên mãn ở nơi đây.

Đại Thừa Bồ Tát Đạo lấy Lục Độ Ba La Mật làm tiêu tướng để tu hành, Nhẫn nhục là Pháp tu không thể thiếu, tinh thần nhẫn nhục của Phật Giáo Đại Thừa vô cùng vô tận cho nên bụng của Bố Đại Hòa Thượng là to nhất trong lục căn, vì vậy người đời khi viết đối liễn tán thán Đức Phật Di Lặc không bao giờ họ quên tán thán cái bụng của Ngài “Đại tu năng dung, dung thiên hạ nan dung chi sự” bụng lớn chứa hết, những gì đời không thể chứa được. Hay là “ Đại Tu Năng dung, dung thiên dung đia, vu sự hữu hà bất dung” bụng to chứa hết, chứa trời chứa đất, không có việc gì mà không thể chứa.

Bồ Tát nhẫn nhục, nhẫn những điều mà chúng sanh không nhẫn được, nhẫn không phải vì mình vô năng hay khiếp nhược, mà nhẫn trong tình thương từ bi vô hạn của Phật, Nhẫn trong tính vô úy hòa diệu của chí khí trượng phu. Kiến giải không đồng, tâm lượng sai khác, lòng từ tế độ quần sanh, nên người có chí Đại Thừa cần một tâm lượng rộng lớn mói có thể độ sanh, cho nên trong văn hóa của người Đông Phương có câu “Hải nạp bách xuyên” biển lớn chứa hết nước của trăm sông. “Đại Thừa Pháp Hải” cũng như thế nên bụng của Đức Phật trong tương lai cần nên lớn như thế.

Hoan hỷ lạc quan là cốt cách của một con người luôn hướng đến tương lai, và tin vào một ngày mai tốt đẹp, đây là tinh thần cốt lõi của Phật Giáo Đại Thừa khi nói về tương lai. Khi con người bỏ xác thân để trở thành quá khứ, thì Đạo Phật tất cả quá khứ là nguồn cội của tương lai, nên Đức Di Đà mới tiếp dẫn chúng sinh về một tương lai mới, mà lúc nào cảnh giới mới mà Phật Giáo đưa ra cũng tốt đẹp hơn trước.

Trong cảnh giới hiện sinh thì Đức Phật Di Lặc của tương lai luôn mĩm cười, nụ cười của Đức Di Lặc, cười buôn bỏ hết tất cả phiền muộn, cười để lạc quan hơn trong cuộc đời lắm nỗi trái ngang. Cười để hiểu đang chờ ta là một tương lai vô cùng tốt đẹp, vì thế nên Đức Di Lặc luôn tươi cười để an ủi nhân sinh. Nụ cười của Đức Di Lặc được ví như mùa xuân hay những gì vui nhất, nếu cười được như Ngài thì ngày thành Phật không xa, cho nên câu đối nào nói về Ngài mọi người đều không quên nhắc về nụ cười của Ngài “Khai Khẩu tiện tiếu, tiếu cổ kim, phàm sự phó chi tiếu”mở miệng tươi cười, cười chuyện xưa nay, mọi việc chỉ cần cười là xong hết. Hay câu “Khai khẩu tiện tiếu, tiếu thế gian khả tiếu chi nhân” mở miệng tươi cười, cười thế gian sao nhiều người đáng cười.

Hình tượng Bố Đại Hoà Thượng là hiện thân của Đức Bồ Tát Di Lặc được tôn thờ trong dân gian bắt đầu từ đời Tống được lưu truyền rộng rãi, chính thức được tôn thờ trong tự viện Phật Giáo Bắc Truyền, cũng như được Tăng lữ Phật Giáo Bắc truyền chính thức công nhận phải đến thời nhà Minh, theo sách Pháp Uyển Đàm Tùng và sách Trung Quốc Phật Giáo Mạn Đàm cũng như sách Đế Vương Dử Phật Giáo đều cho rằng vào cuối thời nhà Nguyên những cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc chống lại triều đình nổi dậy khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc khởi nghĩa lấy hiệu triệu thiết lập một “Thế giới mới”.

Bấy giờ ở Phụng Hóa quê hương của Bố Đại Hòa Thượng xuất hiện một đạo mới Di Lặc Giáo và đạo này với khẩu hiệu “Tân Phật xuất thế, trừ khử chúng ma” làm khẩu hiệu, hiệu triệu nông dân đứng lên khởi nghĩa chống lại nhà Nguyên Mông. Sau khi cuộc khởi nghĩa nông dân dưới sự lãnh đạo của Chu Nguyên Chương thành công lập nên nhà Minh, vì là người xuất thân từ chùa nên triều đình nhà Minh ra lịnh tất cả các tự viện trong toàn quốc, trong Thiên Vương điện thờ Đức Phật Di Lặc đều phải dùng đức tướng của Bố Đại Hòa Thượng là hóa thân Phật để phụng thờ, từ đó hình tượng Bố Đại Hòa Thượng thay thế cho hình tượng của Bồ Tát Di Lặc trong tự viện Phật Giáo Bắc Truyền và được Tăng Tín Đồ Phật Giáo chính thức công nhận hình tượng Bố Đại Hòa Thượng là hóa thân của Bồ Tát Di Lặc.

Đức Phật Di Lặc, Phật của tương lai theo tin thần của Kinh Pháp Diệt Tận Phật dạy: “Di Lặc hạ sanh xuống thế gian làm Phật, thiên hạ thái bình, khí độc tiêu hết, mưa hòa gió thuận, ngũ cốc xanh tốt, cây cối tốt tươi. Dân chúng người người cao lớn đến 8 trượng, sống lâu đến 8 vạn 4000 tuổi. chúng sanh được ngài độ, số không thể kể hết.” chính vì nguyên nhân, mà tín đồ của Di Lặc Giáo cho rằng mùa Xuân là sự khởi đầu cho một năm mới, một hy vọng mới, một tương lai mới ước vọng một thế giới mới, cho nên lấy ngày mùng một tết là ngày vía của Đức Phật Di Lặc. Với những ý nghĩa như vậy nên mùa xuân của Đức Di Lặc ra đời và lưu truyền rông rãi trong dân gian, được mọi người đón nhận.

Trãi qua thời gian vì tính chất gần với tư tưởng xây dựng cảnh giới Nhân Gian Tịnh Độ giữa cuộc đời khổ đau của Phật Giáo Bắc Truyền. đồng thời cũng thích hợp với lối tư duy “Thế Ngoại Đào Viên” của các dân tộc Đông Phương chịu sự ảnh hưởng truyền thống văn hóa huyền học Đạo Gia, nên ngày xuân đến mọi người vui xuân cùng trời đất, đồng thời cũng vui xuân trong tâm niệm đón chờ ngày Đức Phật Di Lặc xuống trần cứu độ và hy vọng của một thế giới mới tốt đẹp hơn xuất hiện trên cõi đời “ Tịnh Độ Trong Thế Gian”, cho nên ngày xuân trở thành ngày tết quan trọng trong Phật Giáo Bắc Truyền.
Sưu tầm

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 18/02/12 11:51 

Cám ơn bài của Phúc Định ,bài hay và đầy ý nghĩa

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: THỰC HÀNH CHÚ ĐẠI BI
Đã gửi: Thứ 6 24/02/12 7:49 

A. Những bước chuẩn bị.
Bồ Tát Quán Thế Âm đã khả hứa với chúng ta: “Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp -khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh- lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang, Mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hay thân mạng của chính họ “.

Như vậy, thế nào là tụng trì đúng pháp?

Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.

Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng.Tóm lại, “Giữ gìn trai giới,ở nơi tịnh thất,tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà... Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.

Bàn thờ.

Hành giả nên có một phòng riêng yên tỉnh để lập bàn thờ Bồ tát. Bàn thờ nên có hình tượng Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào mà mình hiện có. Hình tượng Bồ Tát nên để day mặt về hướng Tây. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ.

Cách thức ngồi, lạy :

Mỗi người nên có một tọa cụ, hoặc đơn giản hơn, một miếng vải sạch hay khăn bông xếp lại để làm chỗ tọa thiền. Hành giả nên ngồi theo cách thức kiết già nhưng nếu gặp khó khăn thì có thể ngồi theo cách thức bán già (ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hay ngược lại), lòng bàn tay để ngữa hướng lên trên, bàn tay mặt để lên trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái đụng vào nhau. Mắt nên mở hé, nếu nhắm hẵn thì dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, nếu mở lớn thì khó định tâm.

Lạy là nghi thức biểu lộ sự cung kính, tôn trọng. Mỗi thời đại có một cung cách khác nhau để biểu lộ sự tôn trọng. Lối lạy kiểu cũ theo cách thức của người Trung Hoa có nhiều điểm rất bất tiện, không thích hợp cho không khí thiền đường. Trước hết, với kiểu lạy này, khi hành lễ mỗi người chiếm một khoảng diện tích đáng kể đủ để có thể đứng và qùy xuống lạy, gây trở ngại cho những thiền đường nhỏ. Việc đứng lên qùy xuống gây ra những tiếng động của động tác, tiếng sột soạt của quần áo, những động tác này cũng có thể làm phóng ra những bụi bặm, vi trùng mà ta mang trên quần áo, những mùi hôi của cơ thể - nhất là trong những xứ khí hậu nóng nực-, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường ta cần có để thở. Chưa kể là việc đứng lên qùy xuống lộn xộn trong những tư thế rất khó coi... Cho nên, chúng ta có thể thực hành một cách lạy tương đối đơn giản trong khi hành lễ, là thiền sinh cứ ngồi theo tư thế hành thiền, kiết già hay bán già, khi lạy chỉ cúi gập đầu xuống sàn phía trước, kéo dài tư thế này một khoảng thời gian ngắn đủ để niệm một câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm BồTát”, xong ngồi dậy.

Cách thức tụng đọc :

Chú Đại Bi phải nên được trì tụng lớn tiếng, giọng điệu trầm hùng, nhanh và liên tục bằng cách lấy hơi từ bụng ra. Lớn tiếng ở đây không có nghĩa là ta phải la lớn lên, nhưng giọng đọc phải rõ ràng, nghe đủ tiếng, không lờ mờ, trại giọng.

Kinh “Nghiệp Báo Sai Biệt” cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây :

1.Dẹp được sự buồn ngủ ám ảnh
2.Thiên ma hoảng sợ.
3.Tiếng vang khắp mười phương
4.Ba đường hết khổ
5.Tiếng đời chẳng lọt vào tai
6.Lòng không tán loạn
7.Dõng mãnh tinh tấn
8.Chư Phật vui mừng
9.Tam muội hiện ra trước mắt
10.Vãng sanh Tịnh Độ

Thật sự, ta cũng sẽ không lo ngại cơn buồn ngủ ám ảnh. Bởi vì khi trì tụng chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta, khi ta rơi vào cơn buồn ngủ, các Ngài sẽ giúp đánh thức ta -mà rồi qúy vị sẽ chứng nghiệm khi thực hành trì chú một cách nghiêm túc- bằng một âm thanh như tiếng sấm nổ ở trong đầu khiến ta hoảng hồn, giật mình tỉnh thức. Thông thường sau đó ta sẽ không còn (hoặc không dám) buồn ngủ nữa. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra một lần thứ hai trong buổi hành Thiền, điều này có nghĩa là thể xác ta quá mỏi mệt, ta nên xin phép được xả thiền để nghỉ ngơi.

Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt phải tụng thầm chỉ riêng cho mình nghe, hoặc chỉ nhép môi không ra tiếng như khi chúng ta đang làm việc, đi chung xe tàu với người khác, hoặc đi nằm trước khi ngủ.

B. Nghi Thức Hành Lễ

Hành giả nên tự mình sắp xếp thời khoá biểu thích hợp và cố định cho việc hành thiền tu tập của mình hằng ngày, vào buổi sáng hoặc buổi tối hoặc cả sáng lẫn tối. Đức Phật dạy rằng mỗi người nên hành thiền ngày hai buổi, buổi sáng sớm lúc mới rạng đông và buổi hoàng hôn lúc ngày chuyển qua đêm, còn nữa đêm thì nên thức dậy để đọc kinh. Đó là thời khóa biểu lý tưởng cho người tu tập, tuy nhiên nếu ta không có điều kiện thì chọn một thời khóa trong ngày cũng được. Thời gian lựa chọn để thiền định vào buổi sáng hay buổi tối rất quan trọng đối với mỗi cá nhân bởi vì có người chỉ hành thiền kết quả vào buổi sáng hoặc ngược lại. Kinh nghiệm cho thấy những người còn sống đời sống thế tục thì hành Thiền vào buổi sáng sớm kết quả hơn, bởi vì buổi tối sau một ngày làm việc, thể xác còn mệt mỏi, tâm hồn lại bị vướng mắc bởi bao nhiêu chuyện lo nghĩ từ chuyện gia đình đến chuyện sở làm ... rất khó định tâm.

Ngoài ra, mỗi cuối tuần nên có một buổi hành lễ chung của những người trong nhóm; đây cũng là dịp để tự sám hối, trao đổi kinh nghiệm tu tập. Việc tu học sẽ tăng tiến nhanh chóng nếu ta có những bạn đồng tu, những thiện trí thức đúng nghĩa.

NGHI THỨC HÀNH THIỀN

Hành giả ngồi xuống theo tư thế kiết già hay bán già. Điều chỉnh thế ngồi, lắc vai, lay chuyển thân thể chừng 5 lần, sửa xương sống cho ngay, chuẩn bị cho mình một thế ngồi thoải mái.

Rải ba tiếng chuông.

Lắng lòng thanh tịnh theo tiếng chuông ngân, hành giả thanh lọc nội tâm, tiêu trừ các tội chướng thân khẩu ý để bắt đầu bước vào nghi thức hành Thiền.

1. Tịnh Pháp Giới và Tam Nghiệp Chơn Ngôn:

ÁN LAM (21lần)
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà phạ, truật độ hám (3 lần)


2. Tác Bạch Cúng Hương:

(Có thể có những bài nguyện hương khác nhau, hành giả có thể tự chọn bài nguyện hương quen thuộc).

Hương thơm giăng bủa
Thánh đức tỏ tường
Bồ Đề Tâm rộng chẳng suy lường
Tùy chỗ phóng hào quang
Lành tốt phi thường
Dâng cúng Pháp trung vương

NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT, MA HA TÁT. (3 lần).


3. ĐÃNH LỄ CHƯ PHẬT, BỒ TÁT

Nhất tâm đãnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Tây Phương Cực Lạc Thế Giới A-Di-Đà-Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Thế Tôn. (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Ức Kiếp, Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quá Khứ Vô Lượng Kiếp, Chánh Pháp Minh Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phương Nhứt Thiết, Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Hiền Kiếp Thiên Phật, Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật Thế Tôn (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Thần Diệu Chương Cú. (Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Quán Âm Sở Thuyết Chư Đà La Ni, Cập Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Tôn Pháp.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.(Chuông, niệm 3 lần, 3 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát(Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Tổng Trì Vương Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Thập Phưong Tam Thế, Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát (Chuông, 1 lạy).

Nhất tâm đãnh lễ Ma HA Ca Diếp Tôn Giả, Vô Lượng Vô Số Đại Thanh Văn Tăng, Chư Lịch Đại Tổ Sư (Chuông, 1 lạy).

4. ĐẠI BI PHÁT NGUYỆN

(Nếu một nhóm hành thiền chung, người chủ trì sẽ dâng lời phát nguyện này, các thiền giả chỉ nhẫm đọc theo và lắng lòng suy nghĩ theo lời nguyện.)

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả Pháp.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được mắt trí huệ.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sanh.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền bát nhã.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được qua biển khổ.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được giới định đạo.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm lên non niết bàn.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi.
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hương về cõi địa ngục,
Địa ngục liền mau tự tiêu tan.
Nếu con hướng về loài ngã quỷ,
Ngã quỷ liền được tự no đủ.
Nếu con hướng về chúng Tu la,
Tu la tâm ác tự điều phục.
Nếu con hướng về các súc sanh,
Súc sanh tự được trí huệ lớn.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm (10 lần)
(chuông, lạy)

Xong tụng đọc:

5. THẦN CHÚ ĐẠI BI
(Tụng 5 ,7 hoặc 21 biến)

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà ra ni.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha.

Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.

Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)

6. Nhập Thiền.

Tùy theo thời khoá biểu và thời gian cho phép, hành giả tự ấn định cho mình khoảng thời gian thiền định (15 phút, 30 phút, 1 giờ, v.v...)

7. Xả Thiền.

Trả Ơn Cửu Huyền Thất Tổ:

Tụng kinh, trì chú cũng là một cơ hội mà hành giả trả ơn cửu huyền thất tổ. Do công đức trì tụng trong pháp hội này, dưới sự chứng minh của thập phương chư Phât, chư Bồ Tát, đặc biệt là vị Bồ Tát Bổn Tôn Quán Thế Âm, ta hướng tâm thành đến các Ngài để nguyện cầu cho cửu huyền thất tổ, những hương linh của thân bằng quyến thuộc đã qua đời (nêu tên hoặc pháp danh) được vãng sanh đến miền Tịnh Độ. Ta cũng nguyện cầu cho những thân bằng quyến thuộc còn ở trong vòng sinh tử luân hồi, nhờ oai lực và sự trợ duyên của chư Phật, chư Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm có cơ hội biết đến Phât pháp, tinh tấn tu tập, và hướng đến giác ngộ. (Phần này mỗi hành giả có một lời nguyện riêng). (3 lạy)

Hồi Hướng:

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo
(3 lạy)

Xong mở miệng thở vài hơi dài. Nhè nhẹ lay chuyển cổ, vai, thân khoảng 5 lần, xong dùng hai bàn tay xoa nhẹ vào nhau xoa lên mắt (khoảng 5 lần). Bắt đầu dùng tay xoa bóp hai bắp vế và tháo chân ra, xoa bóp hai bắp chuối, bàn chân cho nóng lên (khoảng 5 lần).
--- PHUONGDUNG_74@YAHOO.COM.VN
SƯU TẦM

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: KHÁI NIỆM VỀ THẦN CHÚ MẬT TÔNG
Đã gửi: Thứ 6 24/02/12 7:42 


Trong Phật giáo cũng như các Tôn-giáo khác luôn luôn có hai phần Hiển và Mật.

Hiển giáo là những giáo lý được chỉ bày rõ ràng, còn Mật giáo là những lời dạy Bí-mật, khó hiểu, ít được phổ biến.

Mật-tông thuộc về mật-giáo là môn bí yếu nhất trong Phật giáo. Do ở chỗ bí yếu đó chúng ta cần phải hiểu sự khác biệt giữa các loại Thần chú (Dhàrani). Như Đảnh chú, Tâm chú và Tùy Tâm chú.

Chúng sanh trong ba cõi cũng có những Dhàrani, nhưng chẳng phải là Dhàrani giải thoát, mà chỉ là những rung động của thất tình lục dục. Dhàrani của Bồ-tát xuất phát từ hạnh nguyện và trí huệ, ngoài lợi ích phụ về vật chất còn đưa đến chỗ giải thoát rốt ráo.

1. Đảnh chú:
Dhàrani của chư Phật thường phát xuất từ đỉnh đầu có hào quang 1000 cánh (nhập định tuyên thuyết thần chú) được gọi là Đảnh chú. Đảnh chú là thành quả tu tập Tướng-Tánh viên-thông, Bình-đẳng, Bất-nhị. Nếu ai trì Đảnh chú thì với thời gian sẽ đạt Trí-huệ và hạnh nguyện của vị Phật, tác giả Đảnh chú ấy và người đó sẽ có pháp hệ của Ngài.
Đảnh chú là loại Dhàrani tối thượng, có công năng giúp chúng ta đạt được nhiều Tam muội giải thoát, phát huy tối đa các uy lực của Vũ trụ. Các Bồ-tát Thập địa vẫn phải trì niệm Đảnh chú cho đến khi thành Phật.

2. Tâm chú
Tâm chú do các Đại Bồ-tát thiết lập trong khi thực hành bổn nguyện độ sanh. So với Đảnh chú của chư Phật, Tâm chú có công năng kém hơn, chỉ có thể giúp chúng ta đắc một vài tam muội tức là một vài thần thông giải thoát. Khi Bồ tát đã phá vỡ được một sở chấp cố hữu của mình thì liền đó phát sinh những tần số rung động. Tần số đó là kết quả của Lý và Sự được hoàn mãn trong hạnh phá chấp của Bồ tát. Tần số tư tưởng ấy được gọi là Dhàrani nó Tổng trì Lý và Sự. Tâm chú không phải là nhân, là hột giống chánh, mà là nhân phụ có nhiệm vụ hỗ trợ các Đảnh chú bằng cách bứt phá các tạp nhiễm. Vì thế mới nói Tâm chú có công năng tiêu trừ các Nghiệp.

3. Tùy Tâm chú
Tùy Tâm chú thuộc loại phụ phát sinh từ Tâm chú. Một Tâm chú có khi có nhiều Tùy Tâm chú, đó là những câu chú ngắn mà Bồ tát đã phát minh sau khi thành tựu việc đối trị một thứ vọng tưởng nào đó mà Bồ tát thường vướng mắc.

Qua việc trình bầy trên đây, chúng ta thấy rằng Đảnh chú, Tâm chú hoặc Tùy Tâm chú nếu được trì niệm liên tục hàng ngày không những công năng tiêu trừ các nghiệp, mà giúp chúng ta thâm nhập được kho tàng Dhàrani của chư Phật và Bồ tát, từ đó mới rốt ráo hòa nhập vào lực lượng vô tận của vũ-trụ.

Mật tông như đã nói, ít được phổ biến trong giới Phật tử, vì nó là một môn học bí mật, chỉ có các vị Chân Sư mới tâm truyền cho đệ tử mà thôi. Các sách về Mật-tông được lưu truyền từ trước đến nay chỉ đề cập đến hình thức Đàn-pháp, khế-ấn, chớ tuyệt nhiên không phổ biến bí quyết thâm nhập kho Tàng thức và Đàn-pháp (kho tàng Dhàrani). Vì thế công phu Mật-tông bề ngoài tuy có giúp cho hành giả đạt được một vài thần thông. Nhưng trong rất nhiều trường hợp đã khiến cho hành-giả rơi vào nẻo tà. Do đó có thể nói là Mật-tông là con dao hai lưỡi, ngay từ khi nó trang bị cho mình một ít thần thông, nó đã hại mình rồi.

Người ta thường ít để ý đến việc trì niệm Thần-chú, chỉ chú trọng đến công phu quán chiếu do có thể sớm thành tựu định-lực và quán-lực rất cần thiết cho việc phát huy trí-huệ.

Người tu Mật-tông trái lại chuyên trì niệm Thần-chú, nhờ vậy mà các vọng niệm nằm sâu trong tạng thức lần hồi được chuyển hóa thành những chơn niệm do sức mạnh của các tần âm ba trong câu chú. Vô tình họ đã thành tựu Định-huệ mà không mất nhiều thì giờ đã để hành các pháp quán như bên thiền-tông.

Như đã nói, pháp Quán Thế Âm chủ trương Thiền Mật song tu. Nếu hiểu biết đúng và thực hành đúng thì chúng ta rút ngắn thời gian tu tập, bởi các thứ VỌNG trong tạng-thức đã bị hai thứ lực: tự-lực và tha-lực cùng một lúc chuyển hóa. Kết quả đạt được sẽ là một trạng-thái an-vui, Ttự-tại, Đại Niết Bàn Nội-Tâm.
--- PHUONGDUNG_74@YAHOO.COM.VN
SƯU TẦM

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 09/03/12 21:13 

TẢN MẠN VỀ lẬP BÁT NHANG TRONG GIA ĐÌNH

Công việc của Phương Dung hay tới nhiều gia đình nên thấy việc thờ cúng của nhiều nhà lộn xộn, thiếu sự linh ứng, thậm chí rất buồn cười. Ví như có nhà khi mang thai mới được 3 tuần tuổi đem bỏ , nghe thầy đã đi bốc bát nhang để thờ… Lẽ ra người thầy phải phân tích để nhà đó không nên bốc bát nhang thờ, nhưng có lẽ do đồng tiền “sai khiến” nên thầy cứ làm. Phương Dung biết ở Hà Nội có cả một khu tập thể nghe một người thầy nên nhà nào cũng lập bát hương riêng thờ các thai nhi vài tuần tuổi.

Phương Dung còn thấy có những người nhà mất chưa đủ 3 năm, gia đình chưa đưa vào để thờ cùng gia tiên, nhưng để cho đỡ chật và giảm 1 ban thờ nên họ đưa bát nhang người mới mất lên đặt cùng trên ban thờ đang có sẵn. Oái oăm là bát hương đó còn lớn hơn bát hương thờ công đồng gia tiên. Điều này người bình thường đã khó chấp nhận, thì liệu Cửu Huyền Thất Tổ nhà họ có chấp nhận không? Và như thế gia chủ trở thành có lỗi với gia tiên. Mọi người cứ bảo thành tâm là được, các cụ không chấp nhặt với con cháu. Nhưng trần sao, âm vậy bởi nếu người sống không biết cư xử thì sẽ có người trách, đi ăn cỗ phận con cháu cũng phải ngồi mâm dưới… kia mà.

Có những nhà khi Phương Dung xem bảo họ là bát nhang không có sự linh ứng, cũng không có cốt hiệu gì bên trong thì nhà họ không tin vì trước đó họ đã nhờ thầy về làm lễ lập bát nhang rồi. Tới khi hạ bát hương cũ xuống, đổ ra thấy ngoài tro và bên trong đúng là không có gì cả họ mới tin. Một số thầy khi bốc lô nhang thường có thêm 1 cái gương nhỏ ở trong bát hương nữa.(không biết theo họ để gương làm gì)

Để thờ phụng đúng, theo Phương Dung trong một gia đình cần có 3 bát nhang:

- Bát nhang Thần Linh (được đặt ở giữa).

- Bát nhang công đồng Gia tiên (được đặt ở bên phải nhìn vào ban thờ).

- Bát nhang Bà Tổ Cô của họ….. (được đặt bên trái).Có nhiều nhà không thờ Bà Tổ Cô, mà thay là Bà Cô và Ông Mãnh.

Muốn làm lô nhang để thờ phụng các gia đình nên có những bước để chuẩn bị:

- Mua 3 bát nhang: 1 cái phi 20, và 2 cái phi 18 (đối với các nhà có tủ thờ).

- Mua kệ để kê bát nhang.

- 3 gói thất bảo, giấy trang kim.

- Mua khoảng 15 gói tro (đủ cho số lượng bát nhang trên).

Nên mua thêm 1 chậu nhựa nhỏ và khăn mặt sạch (để dùng lúc bao sái bát nhang).

-Về mã và hoa quả tùy theo từng thầy.

Trên đây là một số ý kiến riêng của Phương Dung về bốc bát nhang trong gia đình. Phương Dung nghĩ mỗi nơi lại có những phong tục khác nhau, mong các bạn cùng đóng góp ý kiến.

PHUONGDUNG@YAHOO.COM.VN

---

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 19/03/12 18:21 

Xung quanh việc lập bát nhang tại các gia đình còn nhiều điều hay và lạ, PD đăng lên đây một bài nguyên văn từ chính tả cho đến lời không sửa chữ nào để các bạn tham khảo. Số là khi đến một nhà lập lại bát nhang cho khách, bao giờ PD cũng bảo gia chủ đổ tro ở bát hương cũ ra xem bên trong bát nhang có gì hay không ?
Khi chủ nhà đổ tro ra thì bên trong bát nhang có 1 tờ giấy học sinh kẻ ngang bọc trong túi ny lông màu trắng PD bỏ ra đọc và đây là toàn bộ nội dung;
---- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập tự do hạnh phúc
Con xin lệnh được thờ cha Trời
Con xin lệnh được thờ linh đất
Con xin thờ cha Lạc Long Quân mẹ Âu Cơ
Con xin thờ Chủ Tịch HCM cùng hồn thiêng sông núi
Con xin dẫn cho âm phần gia tiên nội ngoại của họ ... chúng con và gia tiên nội ngoại của họ ... chúng con được âm siêu dương thoát được về cõi an lạc
và con xin dẫn cho trần chúng con được an lành và được giải tai ,giải ách ,được bách bệnh tiêu tán vạn bệnh tiêu trừ tâm hồn được thái thư
Con niệm la vô a di đà Phật < 3 lần >
Đó là nguyên văn ở trong cốt bát nhang nhà đó thờ, từ ngày thầy làm bát nhang xong nhà đó ốm đau bệnh nặng .....
PD viết lên đây để các bạn đọc và hiểu thêm để rút kinh nghiệm thui

PHUONGDUNG_74@yahoo.com.vn

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: BÙA YỂM, LỢI BẤT CẬP HẠI
Đã gửi: Thứ 2 10/10/11 23:35 

Sử dụng bùa yểm, lợi bất cập hại.

Tôi là một thanh đồng đạo quan, công việc hàng ngày của tôi đôi khi phải tiếp xúc với rất nhiều những trường hợp bị trúng vong tà, bùa ngải.
Hôm nay tôi sẽ kể lại một trường hợp mà tôi đã trải nghiệm qua ngõ hầu để chia sẻ với các thành viên hiểu thêm về thế giới âm.
Ngày hôm đó khi cơm tối xong đang ngồi uống nước thì tôi nhận được 1 cuộc điện thoại nhờ tôi đến xem giúp cho một nhà, người gọi điện thoại nói với tôi là gia đình nhà đấy đang có người ốm mà người đấy không đi đến nhà tôi được vì thế rất mong tôi quá bộ ghé qua xem giúp.
Thú thật với mọi người sau nhiều trải nghiệm trong công việc nên tôi cũng hơi e ngại khi phải đến nhà nào mà người ta mới ốm.
Thực ra chỉ cần bất kỳ người nào trong gia đình đó đến chỗ tôi là tôi có thể xem ra bệnh cho người ốm nếu người ấy đang thật sự có vấn đề với phần âm là được, với lại lúc đó tôi thật sự cũng không muốn đi vì người gọi cho tôi cũng không phải là người trong gia đình đó mà chỉ là người quen mà thôi, người ta thấy gia đình đó như vậy lên hỏi hộ nhờ tôi giúp mà thôi .
Nhưng cuối cùng bị thuyết phục bởi sự chân tình của người gọi mà tôi đồng ý đi đến nhà người đó .
Khi tôi đến chỗ đó thì trước mắt tôi là một ngôi nhà 4 tầng khang trang, nhưng bước chân vào tôi cảm giác một cái gì đó ớn lạnh chạy dọc khắp sống lưng, tôi biết ngay mình đã gặp một việc rất khó sẽ không biết giải quyết như thế nào ..
Ra tiếp tôi là ông chủ nhà và khi nhìn tôi anh ý đã tỏ ra ý hoài nghi là liệu tôi có đủ năng lực để giải quyết được vấn đề của gia đình anh ý không (cũng xin nói rõ mọi người hiểu chủ nhà là 1 vị quan chức cũng có vị thế và họ cũng đã nhờ những thầy có tiếng tăm nhưng không giúp gì được).
Ngồi tại bàn nước tĩnh tâm thiền định hướng về phần âm trong ngôi nhà đó tôi giật mình phát hiện ra một số điều và hỏi chủ nhà :
Em hỏi thật anh hãy cho em biết và phải trả lời thật thì e mới có thể giúp được..
có phải hiện nay trong nhà này anh đã chôn 7 lá bùa không..? và 7 lá này của 2 thầy khác nhau, thầy trước cách đây 12 năm đã yểm 4 lá ,3 lá còn lại của thầy sau cách đây có mấy tháng đúng không..?
Nói xong sau đó tôi đứng dậy và theo sự mách bảo gia trì của hội đồng nhà thánh tôi chỉ ra những chỗ mà gia chủ đã yểm bùa. Lúc đó chủ nhà cũng giật mình vì khi anh ta chôn yểm chỉ có 1 mình anh ý biết .
Tôi liền nói rõ với chủ nhà là tại đất nhà anh có 1 vong linh người tàu rất ghê gớm, cách đây hơn chục năm về trước gia trung nhà anh đã xảy ra chuyện vì thế anh đã tìm thầy để yểm bùa trừ vong, nhưng thật sự bùa yểm đó đã không đủ uy lực trấn áp và càng làm cho cái vong đó lồng lộn dữ tợn hơn, giờ đây vong linh đó đã giáng vào người vợ anh làm xáo trộn mọi việc chứ không phai vợ anh bị ốm đâu .
Nghe xong chủ nhà xác nhận với tôi là đúng như vậy.
Cách đây hơn 10 năm đứa con trai tự nhiên cứ điên loạn và sau đó anh chủ nhà đã lên tận Lào cai nhờ 1 thầy giúp, thầy cho 4 lá bùa về yểm ở nhà nhưng với 1 điều kiện hàng năm gia đình anh ý phải lên thầy tiến lễ.
10 năm trôi qua vì đường xá xa xôi cũng như vì công việc bận rộn gây trở ngại cho việc đi lại nên anh đã muốn tìm theo thầy khác nhưng rất lạ kỳ là anh cứ theo bất cứ thầy nào là ở trên Lào cai thầy kia đã biết mà tìm đến nói không giải được đâu đừng mất công .
Đến lúc này anh đã quá mệt mỏi không muốn theo nữa thì tự nhiên vợ anh bắt đầu phát điên loạn không còn nhận biết gì nữa cứ thế lên ban thờ đổ hết các bát hương miệng thì lảm nhảm nói đến ngày chết của các con (những đứa con vẫn đang sống) và chạy nhảy lung tung .
Biết là vì không lên thầy ở Lào cai tạ lễ lên vợ bị như vậy nhưng lần này anh cũng nhất quyết tìm người chữa cho vợ ,anh đã đi rất nhiều thầy làm lễ rồi cũng nhờ các nhà ngoại cảm nhưng không được vì người thầy kia cũng rất cao tay ấn.
Sau đó cách đây mấy tháng anh có nhờ 1 thầy nhưng người đó chỉ nói là tôi không thể làm vợ anh khỏi được nhưng anh hãy cầm 3 lá bùa của tôi về và chôn đi khi chôn xong vợ anh sẽ không đi ra được khỏi nhà mà anh cũng sẽ không phải nhờ người trông vợ a nữa.
Cầm lá bùa về anh làm đúng theo lời chỉ dẫn của thầy thì đúng là vợ anh ý đã không ra khỏi nhà được ,và cũng chính vì thế mà gia đình không thể đưa đến nhà tôi được .
Nghe xong câu chuyện tôi bảo anh là :
Nếu anh thật sự tin ở tôi thì hãy đến nhà tôi để tôi giải bùa đầu tiên ,rồi sau đó sẽ cho vong ra khỏi người vợ anh.
Đến ngày hẹn gia chủ sửa một mâm lễ dâng lên cửa điện, quỳ trước cửa điện tôi nguyện cầu hội đồng Phật Thánh công đồng các giá hội đồng các quan giáng ứng đàn trung gia trì thần lực độ cho đệ tử con hữu đủ năng lực giúp cho gia chủ .
Đầu tiên khi tôi phụng thỉnh Đức Thánh Trần thì người về dạy tôi cách để giải bùa âm trong siêu hình chứ không cần phải đào đất lên để bỏ bùa đi và người dạy thêm :
Dù con có đào bỏ đi thì phần âm khi yểm đã thâm nhập vào đất đó rồi con có đào cũng vẫn chỉ như vậy mà thôi .
Vậy là trước sự chứng kiến của gia chủ và rất đông khách ngày hôm đó đến xem , được sự gia trì thần lực của cha mẹ bề trên tôi bắt đầu nhập vào thiền định đi âm làm và tiến hành pháp sự.
Công việc này mệt mỏi vô cùng và mỗi ngày tôi chỉ bóc được có một lá ,khi chứng kiến cảnh tôi rũ rượi sau mỗi ca làm gia chủ cũng rất lo lắng cho tôi và họ phải thốt lên :
Thôi em ạ, anh ghi nhận việc làm của em nhưng em đừng làm nữa không sợ nguy hại đến tính mạng của em..

Mệt mỏi vô cùng nhưng thấy nỗi khổ sở mà gia đình họ đang phải gánh chịu và ánh mắt hy vọng mà cả nhà họ dành cho tôi.. .nên tôi quyết định không bỏ cuộc và gắng sức làm cho bằng xong.
Đến ngày cuối cùng sau khi làm thì lá bùa đã hiện rõ trên lòng bàn tay phải của tôi .
Lúc đó khi nhìn vào anh ý đã xác nhận đúng là lá bùa mà mình mới chôn có hình dạng đúng như vậy .
Sau khi anh đã xác nhận thì tôi tập trung vào thiền định trượng thừa vào uy lực nhà thánh đánh bật lá bùa hiện ra trong lòng bàn tay mình .
Ngày hôm sau khi đã hoàn toàn giải hết các bùa yểm trong nhà thì cũng là lúc anh ý đưa vợ qua nhà tôi giải vong.
Cái vong này rất tinh quái lên gia đình phải lừa mãi cuối cùng mới đưa được chị ấy đến nhà tôi .
Tôi bảo gia đình bây giờ mọi người hãy lui ra xa và không được xót người nhà khi tôi làm việc vì lúc này không phải là vợ anh mà là vong , anh gật đầu đồng ý.
Sau khi dặn người nhà xong tôi liền kết ấn phụng thỉnh Đức Thánh Trần về trừ tà ,vong này thật là kinh khủng gần 1 tiếng đồng hồ bị chư vị các quan tra khảo đánh đập nó mới chịu quy phục dập đầu lễ và khai hết mọi việc đã gây ra cho gia đình, nó trả lại vía cho chị vợ và hứa sẽ rời khỏi gia đình đó .
Khi nó nói nói xong thì thoát ra và chị vợ ngã ra bất tỉnh luôn , khi chị vợ tỉnh lại chị không thể nào nhớ được những gì mình đã làm khi bị vong giáng .
Gia đình lúc đó rất xúc động cám ơn tôi , và trong lòng họ thầm coi tôi như là ân nhân , thật ra đó cũng chỉ là phúc chủ lộc thầy mà thôi , trong tiền kiếp chúng tôi có mối duyên nợ cho lên chị ấy phải đến tay tôi mới chữa được mà thôi, chứ còn xét ra về năng lực tôi còn phải học về đường âm và dương nhiều, cũng cầu xin cha mẹ chứng cho tâm của con mà gia hộ cho con gặp được bậc thiện tri thức cũng như ấn tâm chỉ dạy trong siêu hình cho con để con có được mở mang trí tuệ kiến thức năng lực để trượng thừa uy lực hội đồng phật thánh hành pháp giúp đỡ chúng sinh.
Kể từ đó đển nay gia đình đó không còn phải lên Lào cai nữa ,nhưng còn tôi sau khi giải xong những lá bùa đó thú thật là tôi cũng bị ông thầy ở Lào cai sử dụng âm binh đánh đường âm ,nhưng chứng cho tâm tôi nên hội đồng phật thánh cha mẹ luôn luôn ngự giá phù trì che chở cho tôi lên tôi vẫn luôn bình an vô sự .
Viết bài này tôi muốn cảnh tỉnh mọi người hảy thật cẩn thận và cân nhắc đừng vội vàng dùng đến bùa yểm để giải quyết chuyện tâm linh vì nó là 1 con dao 2 lưỡi lợi bất cập hại và chả có ông thày bùa nào viết thêm hướng dẫn là hãy đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng cả.

Phương Dung SDT 0915562662

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: TÔN ẢNH PHẬT ADIĐÀ
Đã gửi: Thứ 3 24/04/12 23:17 

muốn cám ơn mà không thấy nút thanhs đâu cả

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Ý NGHĨA NGÀY PHẬT ĐẢN
Đã gửi: Thứ 7 28/04/12 0:40 

Nhân dịp ngày Đại Lễ năm nay, tôi cũng xin ghi lại để cống hiến quý đồng-bào Phật Tử bốn phương cùng tìm hiểu về “Chân lý và nguồn gốc ngày Đản Sinh của Đưc Phật “hầu lưu lại cho các thế hệ mai său, nối gót các bậc tiền nhân, duy trì và phát huy Đạo lý cao siêu của Đức Thế Tôn, trong ánh đạo vàng đến vơi mọi người trên thế-gian.

Phật Đản còn gọi là Quán Phật Hội (hội tắm Phật), Giáng Đản hội (hội giáng sinh) đó là nghi thức tắm Phật. Ngày Phật Đản tức là ngày Đức Phật Thích Ca ra đời.

Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sanh của Đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng năm dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng Phật tử khắp thế giới. Đức Phật sinh nhằm ngày rằm, tháng Vesak, vào buổi sáng, trong thành Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ) gần biên thùy giữa đông bắc Aán Độ và Népan. Ấy là Thái tử Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng Đế Tịnh Phạn (Cuddhodana) họ Cồ Đàm (Gotama), và mẹ của Ngài là hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gautama. Ngài mất mẹ rất sớm. Său khi hạ sanh Hoàng Tử được 7 ngày thì hoàng hậu thăng hà.

Thái tử sanh ra là một đai hạnh, đại phúc, cho tất cả chúng sanh. Dĩ nhiên, đã là Hoàng tử, Ngài sống một cuộc đời vô cùng sung sướng trong cung điện nguy nga, nào biết gì đến cảnh thực ngoài đời. Nhưng ngày qua tháng lại lần lần trong tâm Ngài tự phát giác sự thật.

Khi Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường, có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có gìa có bệnh. Rằng bao nhiêu vinh hoa, phú qúy, khoái lạc vật chất dẫy đầy trước mắt chẳng qua là một bã hư vô, Ngài mới nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu là sự thật, đâu là tịnh lạc. Năm ấy được 29 tuổi, Ngài từ bỏ cung- điện nguy nga và nhửng sa hoa vật chất của một vị Hoàng tử, không phải vì thắc-mắc băn khoăn riêng cho Ngài, mà chính vì cảnh đău khổ trầm luân của kẻ khác.

Lần từ biệt ra đi của Ngài đã dũ sạch nợ trần, để đi tìm một con đường giải thoát cho nhân-loại. Suốt sắu năm trời, Ngài hãm thân vào cuộc đời khổ hạnh, hy sinh, chịu đựng muôn ngàn đău khổ vơí một tấm lòng sắt đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức phàm khó lòng chịu nổi.

Rồi một hôm tinh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội bồ-đề, tại Bồ-Đề Đạo-Tràng (Buddhagaya), Ngài tự nguyện : “Dù ràng thịt ta phải nát, xương phải tan, hơi phải-mòn, mắu phải cạn, ta quyết ngồi nơi này đến khi được hoàn toàn đắc quả vô thượng”. Vào ngày rằm, tháng Vesak, Ngài đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác. Quả này là kết-tinh cuối cùng của một lòng tự tin, tự lực, tự giác, chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp đỡ. Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại cảnh đối với thân tâm để trở thành thanh tịnh chứng pháp, lãnh hội rõ ràng chân tánh của một sự vật : Ngài đã là Toàn Giác, Ngài đã thành Phật. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi. Từ đây người ta gọi Ngài là Đức Phật Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng Phật quá khư và vị lai.

Như vậy thì lễ Visak không những là kỷ niệm ngày giáng sinh mà cũng là ngày đắc đạo của Đức Phật. Khi đã được hoàn toàn sáng suốt và đăc quả Chánh Đảng, Chánh Giác rồi, Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải thoát chúng sanh bằng một lối đường Trung Đạo. “Mở rộng cửa chân-lý cho những ai muốn tìm chân lý; rót thẳng niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm tin tưởng.” Đó là câu bất hủ mà ngài đã thốt ra lần đầu tiên, khi bắt đầu xứ-mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.

Đầu tiên Ngài lập ra Giáo Hội Tăng Già chỉ gồm có năm vị Thanh Tịnh Pháp Sư, đó là 5 anh em Kiều Trần Như. Đây là hột giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để rồi về său này nở muôn ngàn đầy khắp bốn phương : Là Giáo Hội Tăng Già ngày nay, khắp thế giới, một hệ thống tổ chức thật sự dân chủ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Khi rải các đệ tử đi hoằng hoá Giáo Pháp trong thiên hạ, Ngài gửi lời khuyên nhủ chư tăng như său : “Hỡi chư Tỳ-Kheo, các con hãy mạnh dạn ra đi, đi vì ích lợi cho chúng sanh, đi vì hạnh-phúc an vui cho nhân quần, xã hội, đi vì thương xót nhân loại. Các con hãy đi khăp chốn, ban bố giảng dậy Pháp này là diệu Pháp hoàn toàn. Các con hãy nêu cao đời sống Thánh Đức khiết thanh, luôn luôn hoàn toàn và trong sạch.”

Riêng phần Ngài, la ø hoá thân của Đức Độ cao siêu, trí tuệ luôn luôn sáng suốt, đầy lòng nhân đạo, từ bi, bắc ái, hy sinh không bờ bến, đêm nghỉ chỉ một giờ. Trong năm mười hai tháng, hết tám tháng Ngài giãi dầu phong sương khắp chốn, không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt bốn mươi lăm năm trường.

Một hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung săp đến, Ngài gọi tất cả đệ-tử về và nói : “Kiếp sống thật là ngắn ngủi ; Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa lìa các-con ! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy. Các con hãy cố gáng chuyên cần tinh tấn,hãy kỹ càng thận trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả, với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử - sanh và chấm dứt được phiền não, đău khổ. Vạn vật cấu tạo là nhứt dán, là vô thường. Các con hãy cố gắng lên !.

Năm ấy Đức Phật tám mươi tuổi thọ. Ngài trở về Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an tịnh. Ngài tịch diệt, thân nàêm giữa hai cây long thọ (Sala), hôm ấy đúng ngày rằm vào tháng Vesak. Như thế Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba : Giáng sanh, Thành Đạo, và Tịch Diệt của Đức Phật. Ngày nay Phật tử khắp hoản cầu cử hành cuộc lễ gồm ba ấy với một niềm tin tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.

Ngày nay khoa học và văn minh càng tiến bộ thì Đạo Phật càng được phát triển, vì hầu hết những khám phá trong khoa học hiện nay thì Đức Thế Tôn đã nói ra cách đây từ 2546 năm về trước, các kinh sách của Đức Phật đã để lại cho nhân loại một kho tàng quý bắu. Tất cả đều dựa trên cái Tâm và Trí của thực thể con người, không ảo-tưởng, không thần thoại, cũng không có cái gì là siêu hình, mê tín.

H.G. Wells, là một học giả người Anh đã viết : “Đức Phật là một nhân vật vô cùng giản dị, có Tâm Đạo nhiệt thành, tự lực một mình phấn đâu cho ánh sáng tươi-đẹp, một con người sống, chứ không phải là một nhân vật của thần thoại, huyền bí, bên său cái bề ngoài hơi ly kỳ thần thoại mà người đời hay gán cho ngài, tôi chỉ thấy rõ một con người như bao nhiêu vị Giáo Chủ khác. Ngài cũng truyền lại một tuyên ngôn, một hệ thống giáo lý rộng rãi khả dĩ thích hợp cho khắp loài người. Bao nhiêu ý niệm văn-minh của ta ngày nay cũng hòa hợp được với giáo lý ấy. Ngài dậy rằng tất cả cái bất-hạnh và phiền não của ta là do lòng ích kỷ mà ra, Ngài đã nhất định không sống riêng cho Ngài mà phải sống cho kẻ khác, từ đó Ngài sống một cuộc đời siêu nhân trên tất cả moi người. Xuyên qua trăm, ngàn ngôn ngữ khác nhău.

Đức Phật đã dậy đức từ bi, hỷ xả gần 600 năm trước chúa Giesu ra đời. Đứng một phương diện nào đó mà nói, ta có thể cho rằng giữa ta là người Aâu và đòi hỏi nhu cầu Tâm và Trí của chúng ta, với Đức Phật có nhiều chỗ giống nhău vậy. Đối với đời sống thực tại của ta cũng như đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp ta, Đức Phật đã tỏ ra biết trước. Thực vậy, Đức Phật đã nói : “Ta là Phật đã thành, Các ngươi là Phật sẽ thành”.

Vậy mọi người trên thế gian này, nếu có tâm đạo, có ý chí quyết tâm, tu thân, tích đức, lọai trừ cái tham, sân , si mà đi theo con đường Đức Phật đã vạch ra, thì cũng sẽ thành Phật, không phải như các huyền thọai khác lấy tôn giáo thần thánh hoá cá nhân để mê hoặc con người đi tìm một ảo tưởng vô hình. Đức Phật nói đúng, vì chính Phật cũng là một người như ta, nhưng Ngài đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ của loài người để đi tìm lấy một chân lý tối thượng hầu truyền lại cho con người đi theo con đường Chân, Thiện, Mỹ để tiêu diệt cái “Tâm độc ác, cái Trí ngu muội”, trên trần gian, đem đến cho mọi người được thân tâm an lạc, thanh bình, thịnh vượng, hạnh phúc và có trí sáng tạo.

Oâng Bertrand Russell, một học giả triết gia hiện kim người Anh có nói : “Đức Phật rõ là một nhân vật chủ trương thuyết phi thiên cách cao thâm nhất từ cổ chí kim vậy”. Tựu theo giáo lý cuả Đức Phật Ông Thomas Paine, một học giả uyên thâm khác đã viết theo lời Phật dậy : “Thế giới là nhà ta, nhân loại là anh em ruột già ta, và vi thiện là đạo ta”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước Đức Phật há chảng nói : “Chớ nên làm ác, hãy làm lành, cố gắng lên, cố gắng làm cho tâm ngày càng trong sạch”. Đó là điều mà Đức Phật dạy chúng ta phải làm, chỉ có bấy nhiêu. Và chỉ nhờ có bấy nhiêu mà ta sẽ diệt đươc ba nạn là : Tham-ái, sân hận, và si mê.

Để kỷ niệm ngày Đức Phật giáng trần và cũng là ngày Đăc Đạo său sắu năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày rằm tháng tư âm-lịch là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộcø các giáo hội trên khắp thế giới nao nức tổ chức kỷ niệm ngày đản sanh. Tại Hoa Kỳ các Chùa, Viện thuộc Bắc Tông, Nam Tông hay Đại thừa và Tiểu thưa, Mạt Tông, hay Thiền Tông đều tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Để nhắc nhở người con Phật ôn lại những răn dậy tinh hoa của Đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian.

Mặt khác, tưởng cũng nên nhìn lại lịch sử ta thấy bao nhiêu bạo lực độc ác của các đế quốc tàn bạo để nô lệ hóa con người, nhưng tất cả đã lần lượt tiêu tan theo thời gian ngắn ngủi. Chỉ có giáo lý cuả Đưc-Phật là còn tồn tại mãi mãi, bất diệt nơi tâm hồn của hàng triệu, triệu người Phật Tử nói riêng và nhân loại nói chung mỗi ngày một phát triển trên khắp năm châu. Tôi tin rằng giáo lý của Đức Thế Tôn đã và sẽ được phát triển tột đỉnh trong lòng các dân tộc văn minh Tây Phương./-
Cư Sĩ, Nguyễn Đức Can
PHUONGDUNG@YAHOO.COM.VN

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 28/04/12 1:07 


Quán chiếu và theo dõi hơi thở và nhịp đập của trái tim Bây Giờ đang hòa cùng đại thể vũ trụ, chú tâm vào hơi thở vô ra; hơi thở vô đếm một, hơi thở ra đếm hai…cho đến bảy, rồi trở ngược lại từ đầu,. Quán niệm mỗi hơi thở là một đóa sen hồng nở, hoặc đọc thầm thi kệ nào đó mà bạn thích, mỗi câu là một hơi thở.
Nếu bạn là Phật tử, bất kỳ bạn ở đâu, nhằm ngày Phật đản mà bạn không có cơ hội lên chùa tu tập, hành lễ, tưởng niệm ngày Thị hiện hy hữu này, bạn thử cùng tôi tự thực tập bảy bước hoa sen theo tinh thần của kinh Thiện Sanh vào ngày này để cúng dường lên Đức Phật và cũng để thực tập nhân lành nhằm tự hoàn thiện mình, thiết lập môt gia đình, thân hữu tốt bằng sự hiểu biết thương yêu từ tâm hồn an tịnh, và kiến tạo một thế giới hòa bình theo bảy bước chân.
1-Bước Sen Phương Đông (ý thức sâu sắc bổn phận giữa con cái và cha mẹ)
"Every human being under the eastward sun is graciously welcome as the LOTUS." —The Very Rev. James P Morton, the Interfaith Center of New York
(Dưới ánh mặt nhật phương đông, mọi người được chào đón một cách từ nhã như những đóa sen).
Vào ngày Phật đản, sáng sớm bạn có thể tìm một công viên xinh đẹp, hoặc sau vườn nhà hay những con đường quê yên tĩnh và thơ mộng…rồi thả những bước chân nhẹ nhàng, thảnh thơi theo từng nhịp thở, ý thức những bước chân bạn đang đi… bạn đi đúng một vòng theo hướng kim đồng hồ, rồi đứng lại, và ngoảnh mặt về hướng đông, chắp hai tay hoặc đan hai bàn tay trước bụng, nhìn chân trời…quán chiếu rằng ta và phương đông này có sự quan hệ gắn bó không thể tách rời, nhìn hướng đông với những sắc màu của bình minh, hay là những cụm mây trắng đen đang bồng bềnh…đã làm mưa gió và tạo nên sự có mặt của ta…ta và phương đông có sự liên hệ mật thiết và nối tiếp trong quan hệ tổ tiên nòi giống, ông bà, cha mẹ, và con cái. Nghĩ đến bổn phận và tình yêu thương của mình đã và đang dành cho ông bà, cha mẹ và con cái như thế nào…Cúi đầu và chắp tay xá hướng đông, ý thức rằng hôm nay là ngày Phật đản sinh, nguyện sống một ngày trọn vẹn với trách nhiệm và yêu thương đối với ông bà, cha mẹ và con cái bằng bước sen thứ nhất.
2-Bước Sen Phương Tây (ý thức sâu sắc bổn phận giữa vợ và chồng)

“You must be a lotus, unfolding its petals when the sun rises in the sky, unaffected by the slush where it is born or even the water which sustains it!” Sai Baba


(Bạn phải là một đóa sen, những cánh hoa nở ra khi mặt trời mọc, chẳng tác động bởi bùn hay nước nơi nó sinh ra và lại sống cùng trong đó).
Bạn tiếp tục đi thiền hành vòng thứ hai, duy trì hơi thở đều đặn theo những bước chân, nở nụ cười bình thản, hết một vòng rồi đứng lại, ngoảng mặt về hướng tây, nhìn về phía chân trời …quán chiếu rằng hướng tây là đối tác của hướng đông trong sự sinh diệt lưu chuyển của hai mặt âm và dương, của trời và đất vận hành. Nếu là hành giả nữ thì quán rằng ta là đất, và bầu trời xanh đang chan hòa cùng ta. Nếu là hành giả nam thì quán chiếu rằng ta là trời xanh và mặt đất đang giao thoa cùng ta. Ý thức rằng đạo nghĩa vợ chồng là bản tình ca của trời đất, cần phải có sự hài hòa để cân bằng nhịp điệu, quán chiếu rằng bước sen đang nở dưới chân mình như một thông điệp giác ngộ về trách nhiệm của lứa đôi để tạo nên một gia đình và xã hội thực sự hạnh phúc. Cúi đầu và chắp tay xá hướng tây, ý thức rằng hôm nay là ngày Phật đản sinh, nguyện sống một ngày tròn bổn phận đối với vợ hoặc chồng hay người phối ngẫu của mình bằng bước sen thứ hai.

3-Bước Sen Phương Nam (ý thức sâu sắc bổn phận giữa đệ tử và thầy)

“Oh Buddha, my mind is fascinated with the lotus feet as the bumble-bee with the flower; night and day I thirst for them.” Guru Nanak (Indian Spiritual leader, 1469-1539)
(Ồ Đức Phật, linh hồn tôi bị quyến rũ với những bước sen, như con ong với đóa hoa; đêm ngày tôi khao khát chúng)
Bạn tiếp tục đi thêm một vòng kế tiếp, xong dừng lại, ngoảnh mặt về hướng nam, ý thức hơi thở ra vào sâu lắng, nhìn vào những cột điện, những bậc ruộng phẳng phiu, hay những building, những cao ốc tuyệt đẹp được làm từ bàn tay và khối óc con người. Quán chiếu rằng những công trình này cũng như công trình giáo dục, tâm linh, được truyền thừa và đầu tư qua nhiều thế hệ. Quán chiếu rằng kiến thức, đạo đức, và cách ứng xử đã tác thành ta nên một con người là đều nhờ ơn thầy cô dạy dỗ. Tuệ giác và tâm linh của chúng ta được khai mở hôm nay đều nhờ ân thầy tổ khai sáng. Quán chiếu rằng ta đang đứng trên bước sen thứ ba mà ngày xưa đức từ phụ vừa mới sinh ra đã đứng. Chắp tay cúi đầu về hướng nam, niệm ơn ân tình giáo dục và đạo nghĩa thầy trò thế gian và xuất thế gian, và nguyện làm tròn trách nhiệm bằng cách trao truyền lại ánh sáng tuệ giác mà ta đang thừa hưởng cho các thế hệ tương lai bằng tất cả khả năng vốn có của mình.
4-Bước Sen Phương Bắc (ý thức sâu sắc bổn phận giữa tình bạn hữu, đồng môn)

"The LOTUS stands as a living monument to the interfaith ideals." —Dr. Karan Singh, Member of Parliament (India); Internat’l Chairman of the Temple of Understanding

(Đóa sen đứng như một lâu đài sinh động với nhiều lý tưởng tinh thần bên trong)
Bạn tiếp tục thiền hành vòng thứ tư, duy trì hơi thở trên mỗi bước chân nhẹ nhàng, hết một vòng, dừng lại, ngoảnh mặt về hướng bắc, nở nụ cười hàm tiếu; quán chiếu những áng mây bay lơ lững về hướng bắc, những cành lá đung đưa đều nhờ sức gió; quán chiếu âm thanh của một tiếng chim vừa cất lên thì cả đàn chim đều cất cao tiếng; quán chiếu những đàn kiến bò trên cành cây cùng nhau nâng một vật cứng để tha về tổ…Duy trì hơi thở chánh niệm, tư duy về sự trưởng thành của ta đều được tác thành bởi bạn hữu đồng môn (thiện hữu hay ác hữu) dù trực tiếp hay gián tiếp đã thúc đẩy chúng ta học hỏi phấn đấu để chúng ta có được đôi chân đứng vững trong cuộc đời này. Quán chiếu rằng ta đang bước trên bước sen thứ tư mà ngày xưa Đức Từ phụ đã bước. Cúi đầu chấp tay xá hướng bắc, niệm ơn ân tình bạn hữu và nguyện sống trong ý thức có sự hiện diện của họ quanh mình vào ngày Đức Phật chào đời.
5-Bước Sen Phương Dưới (ý thức sâu sắc bổn phận giữa chủ nhân và người làm công)

"I appreciate the LOTUS which promotes understanding among all people and among all religions. May we all come to the path of unity that will allow us to overcome the enemy of separation that is now trying to destroy all of the earth." —Sun Bear, Founder and Medicine Chief of the Bear Tribe Medicine Society

(Tôi cảm kích hoa sen nâng cao sự thấu hiểu giữa tất cả mọi người và tất cả tôn giáo. Chúng ta có thể đi đến con đường hợp nhất, như thế sẽ giúp chúng ta vượt qua kẻ thù của sự phân biệt đang cố sức tàn phá tất cả mặt đất lúc này).

Bạn tiếp tục thiền hành hết vòng thứ năm, xong đứng lại, cúi đầu nhìn xuống dưới hai bàn chân của bạn, ý thức những cây cỏ đang rạp mình dưới lòng bàn chân bạn, nghĩ đến chúng, yêu thương chúng, đừng bước nặng nề mà làm khổ chúng. Nếu là một ông chủ của một tập đoàn, một công ty, một hãng xưởng hoặc một ngôi biệt thự, quán chiếu rằng đây là giờ phút để cho ta tu tập từ tâm. Nếu không có những cây cỏ xanh mát dưới đất thì bàn chân ta đâu dễ bước. Nếu là người làm công hãy quán chiếu rằng ta là cây cỏ đang làm tươi mát cho mặt đất, người chủ như là mặt đất đã tạo cơ hội cho ta sinh tồn. Dù chủ hay là tớ, bạn đều quán niệm sự tương duyên sinh tồn để phát sinh tình yêu thương (của kẻ chủ) và lòng tri ân (của kẻ tớ). Chấp tay xá mặt đất. Quán chiếu rằng ta đang đứng trên bước sen thứ năm và nguyện sống trong ý thức trọn vẹn đạo nghĩa của chủ và tớ vào ngày Đức Phật chào đời.
6-Bước Sen Phương Trên (ý thức sâu sắc bổn phận giữa người thí chủ và vị Đạo sư)
"The LOTUS is a ‘Statue of Spirituality’ equal to the Statue of Liberty. It unites spirituality into the reality of the Oneness of Buddha and Light and gives everybody unity in diversity." —Yogi Bhajan, Sikh Dharma Chief Religious and Administrative Authority for the Western Hemisphere
(Hoa sen là một Tượng đài Tâm linh giống như Tượng đài Tự do. Nó kết nối tâm linh vào thực thể duy nhất của Đức Phật và tuệ giác, và cho mọi người sự hợp nhất trong muôn vẻ hình thù).
Bạn tiếp tục thiền hành hết vòng thứ sáu. Duy trì hơi thở điều hòa, nhẹ nhàng, nở nụ cười hàm tiếu, xong đứng lại, ngước mặt lên để nhìn bầu trời rộng lớn, muôn vạn sắc màu bí ẩn và bạn không hiểu gì hết. Quán chiếu rằng tâm của bạn vốn là một sự bí ẩn, lung linh như bầu trời này. Bạn sẽ không bao giờ hiểu được tâm nếu như bạn không có được sự hướng dẫn để tu tập và khai ngộ. Bạn muốn khám phá bầu trời tâm huyền nhiệm này bạn không thể không cần vị thầy tâm linh đích thực. Quán chiếu rằng mình là thí chủ, là đệ tử, là học trò của các bậc Sa môn phạm hạnh, là nơi mình quay về nương tựa để soi sáng bầu trời tâm linh của mình. Chấp tay xá bầu trời. Quán chiếu rằng ta đang đứng trên bước sen thứ sáu và nguyện sống trong ý thức của một người thí chủ để hoàn thành bổn phận cung kính và hộ trì đối với các bậc thầy tâm linh cao cả mà mình nương tựa vào ngày đức Phật chào đời.
7-Bước Sen Tại Đây và Bây Giờ

"The LOTUS is a visual testimony to interfaith understanding and stands as a beacon of Truth and Peace." —The Venerable Prabhasa Dharma, Founder of the International Zen Center; 45th generational heir of the Vietnamese Lam Te (Rinzai) Zen Lineage

(Hoa sen là một sự biểu thị cụ thể với niềm tin hiểu biết bên trong và tọa lạc như một tia sáng của chân lý và hoà bình).

Tiếp tục thiền hành hết vòng thứ bảy, bạn ngồi xuống trong tư thế hoa sen (kiết già hoặc bán già, nếu đôi chân bạn có vấn đề thì có thể thay đổi), mắt hơi nhìn xuống, hai tay để trên bắp vế một cách thỏa mái, hoặc hai bàn tay đan xéo nhau trước bụng, quán niệm rằng ngay Tại Đây bạn là một đóa sen đang nở trên mặt đất và đôi chân của Phật sơ sinh đang đứng trên hai vai bạn và với hai tay chỉ trời và đất đi theo cùng người. Quán chiếu trời xanh mây trắng đang bay qua đầu bạn, và sự rung chuyển của tiếng nước trong lòng đại dương mênh mông đang reo bên dưới mặt đất nơi bạn đang ngồi. Quán chiếu và theo dõi hơi thở và nhịp đập của trái tim Bây Giờ đang hòa cùng đại thể vũ trụ, chú tâm vào hơi thở vô ra; hơi thở vô đếm một, hơi thở ra đếm hai…cho đến bảy, rồi trở ngược lại từ đầu,. Quán niệm mỗi hơi thở là một đóa sen hồng nở, hoặc đọc thầm thi kệ nào đó mà bạn thích, mỗi câu là một hơi thở, Ví dụ:

Tâm rung nhịp thở hiện tiền

Vào ra chánh niệm ưu phiền băng tan

Ngay đây là cõi Niết bàn

Sen hồng nở giữa không gian nhiệm mầu.

Như thế những ký ức hay tạp niệm sẽ yếu đi, không còn, hoặc không thể hiện diện một cách chủ quan nữa. chỉ còn một cõi hoa lung linh hiện tiền với tâm và cảnh nhất như huyền nhiệm.
Chúc các bạn Phật tử có một ngày Phật Đản tròn đầy niềm hạnh phúc bình an!
SƯU TẦM
phuongdung@yahoo.com.vn

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: BƯỚC SEN THỨ BẢY QUẢ VỊ PHẬT
Đã gửi: Thứ 7 28/04/12 0:54 


Một vị Phật ra đời, hay một con người ở thế gian phát tâm bồ đề, đều có thể tu giải thoát, đạt đến địa vị Tôn Quí Tối Thượng. Sự đản sanh của một vị Bồ Tát hy sinh cả cuộc đời vì lòng đại từ đại bi vô tận và đã hành Bồ tát đạo nhiều đời nhiều kiếp, kiếp cuối (nhất sanh bổ xứ) trải qua nhiều khổ hạnh và thiền định, với tâm tầm đạo giải thoát, cứu khổ chúng sinh.

Mùa Phật Đản đối với những người con Phật là mùa hoa sen nở, thật khó có thể diễn tả hết được niềm hỷ lạc bình an một cách vi diệu trong mùa lễ hội nầy. Hạnh phúc thay, lành thay bậc trí tuệ giác ngộ ra đời.

Cách nay 2635 năm, tại vườn Lâm tỳ ni, thành Ca tỳ la vệ, Thái tử Tất đạt đa chào đời, như bao hài nhi khác, là một con người sống trên thế giới ta bà, thật sự có cha mẹ, có gia đình và thân bằng quyến thuộc.
A.- Theo truyền thuyết, ngay khi đản sanh, Thái tử Tất đạt đa đi 7 bước, có 7 đóa sen đỡ chân. Truyền thuyết nầy mang nhiều ý nghĩa thâm sâu và nếu hiểu theo tinh thần tu học, có rất nhiều lợi ích cho người tu.

Một vị Phật ra đời, hay một con người ở thế gian phát tâm bồ đề, đều có thể tu giải thoát, đạt đến địa vị Tôn Quí Tối Thượng. Sự đản sanh của một vị Bồ Tát hy sinh cả cuộc đời vì lòng đại từ đại bi vô tận và đã hành Bồ tát đạo nhiều đời nhiều kiếp, kiếp cuối (nhất sanh bổ xứ) trải qua nhiều khổ hạnh và thiền định, với tâm tầm đạo giải thoát, cứu khổ chúng sinh.
1.- SÁU BƯỚC HOA SEN

HÀNH BỒ TÁT ĐẠO
Thái tử Tất đạt đa sau khi cắt đứt mọi trần duyên ràng buộc, xuất gia tu hành chứng túc mạng minh, thấy biết nhiều đời kiếp trước, Ngài đã từng sanh ở đâu, làm gì, trong lục đạo; tất cả những chuyện quá khứ, được chính Đức Phật thuyết và các vị tỳ kheo kết tập lại trong Kinh Bổn Sanh Bổn Sự.

Như vậy, đã nhiều kiếp trước khi thành Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật cũng đã trải qua sáu nẻo đường sanh tử luân hồi.

Hình ảnh bánh xe luân hồi diễn tả sự trôi lăn tử sinh của chúng sanh trong lục đạo, tức sáu cảnh giới: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh.

Giáo lý đạo Phật chủ trương không tin vào một thượng đế sáng tạo, toàn năng, toàn quyền, thưởng phạt con người tùy tiện theo lòng thương ghét.

Giáo lý đạo Phật giải luật nhân quả rất rõ ràng. Niềm tin sâu xa vào luật nhân quả bình đẳng, giúp con người tâm bình an, dù bao phiền não xảy ra, bởi: từ thân, khẩu, ý, người tạo nghiệp thiện hưởng kết quả, người tạo nghiệp ác chịu hậu quả; dù là người thân yêu nhất muốn cứu hay thay thế cũng không được.

Dụ như hòn đá nặng tất phải chìm trong nước, giọt dầu nhẹ tất nhiên nổi trên mặt nước, đó là nhân quả không sai.

Niềm tin sâu luật nhân quả thiện ác ảnh hưởng vào sự tái sanh 6 cõi luân hồi (thiên, nhơn, atula, địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh).

Cõi Thiên: Sanh về cõi trời, nơi phúc lạc thế gian, hưởng phước đã tạo tác.

Cõi Nhơn: Sanh vào nhân gian làm người, giàu hay nghèo, có thiện có ác.

Cõi TuLa: Sanh nhà quyền quí, phước báo gia đình, cùng chung cộng nghiệp.

Cõi Địa Ngục: Sanh vào nơi đau khổ, vì nghiệp ác sâu dầy, thiện nghiệp ít.

Cõi Ngạ Quỉ: Sanh vào nơi bất tịnh, vì nghiệp bỏn sẻn, tham lam ích kỷ.

Cõi Súc Sanh: Sanh vào nơi cầm thú, vì nghiệp sát, si mê quá nặng.

Tuy sống trong lục đạo luân hồi, nhưng các tiền kiếp Đức Phật là vị Bồ Tát hằng sống với Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) và thường hành Lục Độ Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ).

Sự nổ lực tu tập Bồ tát hạnh, thực hành Bồ tát đạo của riêng từng cá nhân con người trong thế gian, có thể vượt thoát khỏi lục đạo sanh tử hay không?

Bước hoa sen thứ 7 nói lên rằng: điều đó có thể, điều đó không do ân huệ trời ban cho, hay thần linh thượng đế dành phần riêng cho ai cả, mà chính do nơi tâm đại từ, đại bi, đại lực, đại tinh tấn của người tự tu, tự chứng đạt được mà thôi.

2.- BƯỚC SEN THỨ BẢY

QUẢ VỊ PHẬT

Sáu bước sen tinh khiết được tích tụ từ Bồ tát hạnh trong lục đạo. Với tâm từ bi, thanh tịnh, sáng suốt, nhiều đời nhiều kiếp tu hành, Bồ Tát từng xả bỏ thân mạng, cứu khổ ban vui, chan rải ánh sáng từ bi và trí tuệ cho muôn loài.

Ý nghĩa của 6 bước hoa sen đầu tiên thể hiện sự luân hồi trong lục đạo. Thái tử Tất đạt đa dừng lại ở bước sen thứ 7, đó chính là kiếp cuối cùng, chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, ngay trong cõi nhân gian này.

Đức Phật khi đản sanh bước đi được đến đóa sen thứ bảy, chứng thực một sự thật sâu xa, thật khó thấy khó hiểu, khó nghĩ bàn. Đó là Niết Bàn tịch tịnh của chính con người tu từ bi và trí tuệ, tự cảm nhận được một cách rõ ràng, chứng đắc quả vị Phật.

Đệ tử Phật môn, muốn vượt thoát ra khỏi sự khổ nạn trong 6 cõi luân hồi sanh tử và bước vào được hoa sen thứ 7, đạt đến Niết Bàn an tịnh không còn đau khổ nữa, cần phải tu học và thực hành theo lời Đức Phật dạy:

Con người phải chiến đấu mạnh mẽ với tâm tham lam, tâm sân hận, tâm si mê và phải dùng gươm trí tuệ cắt đứt những đam mê dục vọng danh lợi mà người thế gian cho là quí cần chiếm đoạt và hưởng thụ.

*B. Theo truyền thuyết, ngay khi đản sanh, Thái tử Tất đạt đa đi 7 bước, có 7 đóa sen đỡ chân. Khi dừng lại trên hoa sen thứ 7, Thái tử Tất đạt đa tay mặt chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất, có ý nghĩa là làm tốt thì sanh lên cõi trên (thiên, nhơn, atula), làm ác thì đọa xuống cõi dưới (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh) và tuyên bố:

“Thiện thượng thiên hạ,

duy ngã độc tôn”.

Trong cuộc đời này, con người thường sống với vọng tâm, vọng ngã, trôi lăn theo cảnh trần đối đãi thị phi, thương ghét, thay đổi tùy duyên tốt xấu bên ngoài, cho nên tâm luôn luôn bất an, loạn động, phiền não, khổ đau.

Cốt tủy của đạo Phật dạy là: con người nên biết sống với chân tâm, chân ngã, không dính mắc, không trôi lăn, dù cảnh trần đời vô thường, biến đổi, tâm vẫn an nhiên tự tại. Đó chính là ý nghĩa thâm sâu của thuyết vô ngã, hay duy ngã độc tôn.

Đức Phật dạy:

Ai còn tham luyến tức còn ngã ái chấp đây là của tôi, ngã mạn chấp đây là tôi, ngã kiến chấp đây là tự ngã của tôi, thời có dao động.

Ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an thời không còn chấp . Ai không còn chấp, thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có sanh diệt. Ai không còn sanh diệt, thời không có đời này đời sau, không có giữa hai đời.

Đây là sự đoạn tận khổ đau.

(Niết bàn - Tương Ưng Bộ Kinh)

Chấp ngã, ham muốn, dục vọng càng to, càng xa Niết Bàn. Đức Phật là bậc đại từ, đại bi, đại trí, đại lực, xa rời tất cả ác pháp, sáng suốt phá tan vô minh phiền não, vượt qua đối đãi (nhị nguyên), đạt được Niết Bàn tịch tịnh. Người phàm trần thường chấp đúng sai, hơn thua, thương ghét, tốt xấu, khen chê, thật giả, nên bị chi phối, trói buộc, mê mờ, vô minh luân hồi sanh tử mãi, không thoát ra được.

Cũng chính vì cái bản ngã ràng buộc mà chúng sanh chìm nổi trong biễn khổ luân hồi. Đức Phật dạy pháp quán vô ngã, nhìn cho thấu đáo tứ đại đều do duyên hợp thành, chưa diệt được cái ta tự tôn tự đại, thì còn đau khổ, còn sanh tử. Chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc, bước ra khỏi lục đạo là giải thoát sanh tử.

Theo "Lý duyên khởi" thì:
- Cái nầy có, thì cái kia có (có ham muốn ích kỷ, thì có đau khổ tranh chấp)
- Cái nầy sanh, thì cái kia sanh (có trói buộc tham ái, thì có thù oán sân hận)
- Cái nầy không, thì cái kia cũng không (không có tham dục, không có ưu bi khổ não)
- Cái nầy diệt, thì cái kia cũng diệt (bản ngã diệt, vô minh sanh tử diệt).
Vô minh sanh tử diệt,

đạt cứu cánh Niết Bàn.

Đức Phật không đến từ một cõi siêu nhiên thần bí nào. Bản chất một con người, Ngài luôn cảm nhận được một cách trọn vẹn nỗi thống khổ của đời người, từ lúc sanh ra, già, bịnh và chết.

Sau khi chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, Đức Phật lưu lại thế gian thuyết pháp và giáo hóa cho tất cả chúng sanh bằng tâm từ bi bình đẳng tuyệt đối, chỉ rõ con đường tu để đạt đến Niết Bàn tịnh lạc. Đức Phật tuyên bố:

Ta là Phật đã thành,

chúng sanh là Phật sẽ thành.

Phiền não biết, phiền não đoạn.

Tham sân biết, tham sân dứt.

Vui buồn biết, buồn vui dừng.

Thiện ác biết, thiện ác bặt.

Từng sát na biết, còn gì dính mắc.

Tự tại vĩnh hằng.

Trời xanh mây trắng bay. []

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Nữ Chân Liễu
PHUONGDUNG@YAHOO.COM.VN
sưu tầm

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: TƯƠNG TRUYỀN VỀ TỲ HƯU
Đã gửi: Thứ 2 30/04/12 11:39 

Con vật linh thiêng Số Một mang lại may mắn về Tài lộc - Công danh

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.

Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người” (Trong phim “Tể Tướng lưng gù hoặc Lưu gù (Lưu Dung)” chúng ta đã biết về nhân vật Hòa Thân). Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổi tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.

Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.

Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là NGỌC PHỈ THÚY xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng BẠCH NGỌC. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Và ngày nay sự linh nghiệm của Tỳ Hưu vẫn hiện hữu trong nhân gian, vẫn mang lại nhiều may mắn về tài lộc, sức khỏe, công danh cho người sử dụng theo từng màu sắc của Tỳ Hưu. Đặc biệt là khi sử dụng đúng Tỳ Hưu thỉnh từ Bắc Kinh, được chế tác từ các loại ĐÁ QUÝ TỰ NHIÊN, kể cả Tỳ Hưu được chế tác từ NGỌC PHỈ THÚY quý hiếm (mà chỉ có Vua, Quan ngày xưa mới được sở hữu), đã được thông qua các thủ tục phong thủy cần thiết… Và được ngành chủ quản tại Bắc Kinh cấp phép lưu hành.

Lưu ý: Tỳ Hưu chính gốc từ Bắc Kinh từ thời nhà Minh đến hiện nay chỉ có 1 sừng. Thông tin Tỳ Hưu 1 sừng gọi là Tịch Tà (trừ tà) và 2 sừng gọi là Thiên Lộc (tài lộc) hoàn toàn không chính xác, là thông tin nhiễu. Tỳ Hưu 2 sừng là hình dáng đã được biến đổi qua quá trình điêu khắc và truyền miệng trong dân gian, không có tác dụng phong thủy như đã nói.

Nguồn: Tổng hợp.

SƯU TẦM ;PHUONGDUNG@YAHOO.COM.VN



 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 30/09/11 21:02 

Uống một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào cancer tự tử trong ống nghiệm.

Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào cancer tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân cancer, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi chụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng radiation và chemotherapy.

Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev, năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào cancer trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường.Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính.từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU.

Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis)

Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào cancer tự tử gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death).

Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào cancer tự tử trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào cancer bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào cancer thì tế bào lành vẫn sống bình thường.

Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo.

Ngay sau đó, sự khám phá đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng.

Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một lý thuyết: trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một “chương trình tế bào chết”. Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào cancer.

Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa.

Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào cancer, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào cancer.

Đó là lý do tại sao.trang trại của Zabidov – nơi duy nhất trồng cây sả (lemon grass) tại Do Thái – đã trở nên một thánh địa cho những bệnh nhân này. May mắn thay họ đã tự tìm thấy đôi bàn tay thần diệu. Zabidov đón tiếp những người khách viếng thăm với những ấm trà cây sả và những đĩa bánh ngọt bằng thái độ niềm nở, ông ta nói: ‘ Cha tôi chết vì cancer, chị vợ tôi chết khi còn trẻ cũng vì cancer. Vì vậy tôi hiểu rõ những gì họ đã phải chịu, và tôi có thể không biết gì về thuốc men, nhưng tôi biết lắng nghe. Những bệnh nhân thường nói với tôi về sự điều trị đắt tiền mà họ phải trải qua. Tôi không bao giờ bảo họ ngưng chữa trị, nhưng cũng rất tốt khi họ dùng thêm trà cây sả.

Zabidov biết rõ tiếng gọi của nghề nông đã đến với ông từ thời trai trẻ. Ở tuổi 14, ông đã theo học trường trung học canh nông Kfar Hayarok.Sau khi phục vụ trong quân đội, ông làm việc cùng nhóm lý tưởng chủ nghĩa hướng về phương nam, trong vùng sa mạc Arava một moshav mới (argriculture settlement) gọi là Tsofar.

Ông ta mỉm cười và nói:’ chúng tôi rất thành công. Chúng tôi trồng trái cây và rau. Chúng tôi cũng nuôi nấng những đứa con xinh xắn. Trong một chuyến du lịch sang Âu châu vào giữa thập niên 80, ônng ta bắt đầu thích dược thảo. Do Thái, ở một thời, thường có khuynh hướng là không gì thích hơn các món ăn Đông phương và chỉ có một số thể loại được trồng có tính thương mại như cây cần tây (parsley), cây thì là (dill), cây ngò thơm (coriander).

Đi lang thang trong khu chợ Paris, tìm kiếm một vài loại dược thảo, Zabidov đã thấy được một tiềm lực có thể xuất cảng to lớn nằm trong một góc chợ. Zabidov mang mẫu về nhà, ông ta mỉm cười, nói: đây là sự bất hợp lệ có tính kỹ thuật, để xem chúng có thể lớn lên trong nhà kính vùng sa mạc không. Không bao lâu ông ta có thể trồng các loại như rau húng quế (basil), cây kinh giới (oregano), cây ngải giấm (tarragon), một loại tỏi (chives), cây đan sâm (sage), và bạc hà. Công việc của ông ta là phát triển cơ ngơi vùng sa mạc, ông ta quyết định di chuyển về phía bắc, lập trang trại moshav tại Kfar Yedidya, môt giờ rưỡi lái xe ở phía bắc Tel Avis. Bây giờ ông ta bán hàng mấy trăm kí lô cây sả mỗi tuần và đã ký kết những hợp đồng phân phối hàng với các tiệm thực phẩm. Zabidov đã chính mình học hỏi về

dầu cây sả và giúp khách hàng của ông ta hiểu biết hơn nữa, cũng như mời các chuyên gia y khoa tới trang trại của ông ta, nói chuyện về công dụng của cây sả. Ông ta cũng có trách nhiệm để nói chuyện với khách hàng của mình về cách dùng dược thảo này, Khi tôi nhận thấy có gì xảy ra, tôi cầm phone lên và gọi bác sĩ Weistein ở đại học Ben Gurion, vì những người này hỏi tôi cách tốt nhất để dùng dầu cây sả. Ông ấy nói ngâm sả trong nước sôi và uống 8 ly mỗi ngày.

Zabidov là người có công tìm ra cây sả, không phải đơn giải chỉ cho công việc trong trang trại, mà còn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của chính ông ta. Ngay cả trước khi sự lợi ích của cây sả được biết đến và xử dụng, ông ta và gia đình đã uống trà cây sả hằng năm’bởi vì hương vị thích thú của nó’.


 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 04/05/12 11:56 

LIENHOADIEUPHAP đã viết
Áp vong có nguy hiểm không?
Có nguy hiểm. Người thầy không có đủ sắc lệnh hay đến lúc giải nghiệp làm việc nên nó vô rùi nó không chịu ra.
Một người bị nhập thì vòng bảo vệ (hào quang) sẽ bị thủng (có nhiều môn phái mở luân xa cho vong nhập vào), khi bị thủng rùi mà sức khỏe không ổn hay đi áp quá nhiều dẫn đến bản thân giống như một cái như chung cư ai vô cũng được.
Còn nhiều chuyện về vấn đề này.)

- Cách đây 10 ngày PD đã gặp 1 trường hợp ;hôm đấy là ngày giỗ của ông chồng nhà đó ,vì muốn biết từ trước đến nay khi ông ý mất có vào được nhà hay không ?gia đình đó có nhờ 1 người về áp vong tại nhà ,khi vong lên lại nhập vào người ngoài chứ không phải người trong gia đình ,trước lúc chết người chồng này là 1 người nghiện rượu nặng lên khi vô mượn thân xác người trần ông đòi uống rượu ,gia đình đưa cho rượu ,ông cầm cả bình rượu thuốc ngâm 5l uống vào .....cả bình rượu lúc PD đến còn khoảng 1lit5 ,thế là người thầy đến áp vong đó không thể cho vong linh thoát rời khỏi thân xác người trần kia được và bảo người nhà đó gọi cho PD đến giúp (trước đây ngày 23 tháng chạp năm 2010 chính Pd đã giải vong cho người thầy đó ,lên họ có số đt của PD )
- Sau khi tìm hiểu rõ mọi việc và đáp ứng 1 số yêu cầu ,nửa tiếng sau nhờ ngũ bộ chú của Mật Tông PD đã cho vong linh thoát khỏi thân xác người trần
-Công việc xong về sau PD cũng giải thích cho gia đình cách thờ phụng sao cho đúng vì trước khi đi lúc nghe điện thoại xong thì PD cũng được các chư vị báo cho biết vấn đề gia đình đó thờ phụng bị sai và cũng khuyên gia đình hãy nhờ nhà chùa làm lễ cầu siêu cho vong linh người chồng đó được siêu thoát
-Câu chuyện trên PD chỉ đưa vắn tắt để các bạn tham khảo
PHUONGDUNG@YAHOO.COM.VN

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 04/06/12 23:48 


Đó là ông Hoàng Phúc Vậy, 58 tuổi người dân tộc Tày ở bản Đon, xã Nghĩa Đô (Bảo Yên – Lào cai). Ngoài biệt danh ấy ra, ông còn là một thầy Tào chuyên “nói chuyện” với người âm.
Trước ngưỡng cửa của thế giới chưa biết: “Cao thủ giải bùa”
Thầy Vậy trong một lần giải bùa

Thung lũng “ma cà rồng”

Gặp chúng tôi trong bộ trang phục của thầy Tào kể về cái nghề “nói không ai tin”, ông Vậy khề khà về công việc “giải bùa” huyền bí này.

Trong phong tục tập quán của người dân tộc, “ma cà rồng” (ma gà) là loại “ăn sống cũng được, ăn chín cũng xong”. Loại ma này thực chất là vía của một nhóm người biến thành, người ta quan niệm ma cà rồng không làm cho người chết được. Nhưng khi nó nhập vào người nào thì người đó bị ốm yếu, đau đớn triền miên, tinh thần hoảng loạn, gia đình sẽ bị khuynh gia bại sản dẫn đến đổ vỡ. “Ma cà rồng” muốn hại người thì phải bán “khoăn” (vía) cho quỷ để đổi lấy cái mà nó cần.

Theo ông Vậy, “ma cà rồng” chẳng khác gì những kẻ nổi loạn của loài người, con ma này thường xúi bẩy cho làng xóm mất đoàn kết, gia đình lục đục. Để đối phó với loại ma này, thầy cúng phải mời đến một loại ma khác là “ma cao công” đến mới trị nổi vì nó là anh em ruột thịt với vua Xích Ca.

Hiện nay, người Tày khắp nơi vẫn cho rằng bản Đon là thung lũng sống của “ma cà rồng”, và đó cũng là nơi sinh ra các thầy phá bùa giỏi nhất để “trừ ma diệt quái”

Bí ẩn giải bùa
Trước ngưỡng cửa của thế giới chưa biết: “Cao thủ giải bùa”
Chuẩn bị lễ cúng

Trước khi trở thành một cao thủ phá bùa, ông Vậy từng là thầy bỏ bùa nổi tiếng. Ông bảo, có nhiều loại bùa như: bùa yêu, bùa ghét, bùa phát, bùa diệt… Mỗi loại bùa tương ứng với một loại thần chú và một con ma. Để bỏ bùa không hề đơn giản, người bỏ bùa sẽ bị nguy hiểm nếu không am hiểu “pháp thuật”.

Sau nhiều năm tháng chứng kiến cảnh người dân bị bỏ bùa, ông Vậy quyết định chuyển sang phá bùa giúp người. Tính đến nay, ông Vậy đã phá bùa được cho hàng nghìn người bị hại. Từ những trường hợp thường xuyên ốm yếu, điên khùng đến những thanh niên bị bỏ bùa yêu… họ đã tìm đến ông Vậy nhờ hóa giải.

Lễ vật giải bùa khá cầu kì, ngoài một con gà và con lợn nhỏ, còn có một món cỗ tạp là thịt sống nhuộm máu gà, một bát tiết tươi, củ nâu, chuối xanh thái lát nhuộm máu. Các thứ ấy bày thành một mâm cỗ tạp đặt cạnh mâm gà và đầu lợn. Địa điểm đặt mâm ở một góc ngoài của ngôi nhà.

Ông Vậy cho biết, mỗi loại bùa đều có một con ma nên không thể đưa mâm cỗ vào nhà, khi hành lễ phải mời khéo con ma về nhận lễ. Khi con ma này đi ra khỏi nhà, thầy phá bùa phải dùng thần chú “yểm” không cho nó quẫy phá.

Trong bài cúng giải bùa phải mời tổ thư, pháp thư, binh thư, binh mã… đến nhà sau đó đọc thần chú xin quẻ. Tuy nhiên, cũng có những kiểu phá bùa đơn giản bằng cách dùng “mẹo” dân gian chứ không cần thiết phải lễ vật hay thần chú.

Trong các cuộc phá bùa, “đệ nhất cao thủ” này không ít lần thoát chết vì sức mạnh siêu nhiên do bùa ngải gây ra. Cách đây 3 năm có trường hợp của chị Nguyễn Thị Đào bị bùa làm cho điên dại, suốt ngày chỉ khóc lóc, chửi rủa, gia đình đưa đi chạy chữa khắp các bệnh viện nhưng không thuyên giảm. Không còn cách nào, chồng chị Đào đã tìm đến “cao thủ” bản Đon để xin ông giải giúp. Vì bùa chú chị Đào dính phải thuộc dòng “sừng sỏ” hiểm hóc nên trong lúc giải, bùa chú ấy đã “vật” lại cả ông Vậy.

Hai lần giải, ông Vậy đều thất bại, chỉ có thể giúp chị Đào bình thường được một hai ngày rồi lại tái phát. Giải đi giải lại mấy lần, cuối cùng ông phải mời tất cả anh em họ hàng của chị Đào trực tiếp làm lễ. Từ đó đến nay chị Đào đã bình phục hoàn toàn.

“Ai dám theo nghề tôi?”

Nghề thầy bùa thường là cha truyền con nối. Ông Vậy là đời thứ tư trong gia đình theo nghề này, khi còn sống bố của ông cũng là một “cao thủ giải bùa” có tiếng ở miền Bắc những năm 1970.

Đến nay, ông Vậy hành nghề được hơn 30 năm, đã lặn lội khắp các bản làng để giải bùa. Từ đó, ông đã thu thập được nhiều cách giải bùa khác nhau và những câu thần chú có một không hai trong thế giới bùa ngải.

Đến nay tuổi đã như mặt trời xế núi, sức trai bản điền đã hết, ông đang đi tìm một đệ tử chí nghĩa có thể đón nhận từ ông kho pháp thuật huyền bí. “Nhưng ai dám theo nghề tôi? Nghề giải bùa nguy hiểm gấp vạn lần so với việc đi bỏ bùa. Tôi cần một người có tâm và rất thông minh để truyền nghề…” – Ông Vậy cho hay.

Hiện chưa có khảo cứu khoa học nào về bùa ngải. Các nhà nghiên cứu cho rằng, những người đi xin bùa thường có ý thức giải quyết những vướng mắc của mình. Bùa chỉ giúp họ củng cố niềm tin, yên tâm hơn trong những sự việc không hay đang xảy đến cho gia đình. Do vậy nên nhìn nhận bùa ngải dưới góc độ văn hóa dân gian với tư cách là một hiện tượng tồn tại từ rất lâu trong đời sống của bà con dân tộc và loại trừ các quan điểm mê tín dị đoan.
SƯU TẦM

Bạn đang xem trang 1 / 5 trang [ Đã tìm thấy 110 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh