Hôm nay, Thứ 6 28/01/22 19:13

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 12 bài viết ]  Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 13/11/11 23:33 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
Tăng già khất sĩ việt nam – Tịnh xá Chuẩn Đề
Mật sư: Thích Giác Tiến – Thiền nhân

THIÊN MẬT SỬ

Đức Đại Nhật Như Lai là một vị Phật thành tựu quả Tô Tất Địa đầu tiên ở trung tâm vũ trụ, chân truyền giáo môn Mật Tông trong thời kỳ chính pháp tại thế giới Ta Bà.
Đến đời tượng pháp đức Tỳ Lô Giá Na Phật lại xuất thế, ngài đem giáo môn Mật Tông này phổ biến rộng khắp nhân gian rồi thị tịch. Qua thời kỳ Mạt pháp, có ngài Uế Tích IL Ô Sô Sáp Na định tiếp tục truyền thừa giáo môn này. Nhưng thế lực của bọn ngoại đạo quá lớn, nên ngài Uế Tích Kim Cang im lặng giữ gìn giáo môn này cho đến lúc thu thần nhập diệt. Từ đó giáo môn Mật Tông xem như chấm dứt, trãi qua bảy đức Phật : Tỳ Lô Giá Na, Thi Khí, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm, Ca Diếp cho đến đức Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Trong những thời kỳ như vậy, người ta chỉ nghe đến danh từ Mật Tông bằng thần chú, linh phù (dịch là bùa) của ngoại đạo, mà không biết Mật Tông là gì ? Các bộ Mật Tạng ghi chép lại toàn bộ đều là chú thuật, đại linh phù, nhưng không có lời dạy đích đáng của Phật, khiến cho giới trí thức nghi ngờ và thất vọng vì Mật Tông là một tà pháp.
Mãi đến đời đức Từ phụ Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật, thời kỳ chính pháp được lập lại, phá vỡ toàn bộ hệ thống mê tín, dị đoan, bùa, chú. Phật đã khéo léo đem Thiền Tông dẫn dụ phương tiện chỉ bày pháp giải thoát cho chúng sinh qui tựu bỏ tà về chính. Đức Phật chỉ nhắc nhở sơ lược về giáo môn Mật Tông mà không nói rõ sự xuất phát và lai lịch của nó.
Đến khi Phật nhập diệt trãi qua 28 đời Tổ Sư Đông Độ, các vị Tổ Sư, Bồ Tát cũng không có luận cứ truyền thừa pháp môn Mật Tông, các ngài chỉ chiêm nghiệm các bộ thần chú như: Lăng Nghiêm, Đại Bi, Thập Chú, Phật Đỉnh Tôn Thắng, Sư Tử Quang Tam Muội v.v… Giới trí thức tuy rất hâm mộ pháp môn này, nhưng các nhà nghiên cứu cũng không có các tài liệu sử luận đáng tin cậy để nói rõ về pháp môn này, nên đều bó tay im lặng.
Ngài Uế Tích Kim Cang IL Ô Sô Sáp Na được hai vị Phật là Tỳ Lô Giá Na và Oai Âm Vương thọ ký thành Phật Mẫu Chuẩn Đề Tại thế giới tổng trì, quốc độ Trung Thiên.
Phật Mẫu Chuẩn Đề đem giáo môn Mật Tông này khai sáng con đường chính pháp rất được chúng sinh tôn thờ. Ngài nhớ lại bản nguyện độ sinh nơi thế giới Ta Bà nên khiến các phân thân của Bồ Tát hội nhập vào hư không đem bản kinh Chuẩn Đề Bản Tôn này mà lưu truyền. Rất mong các nhà nghiên cứu quan tâm khai sáng thêm.

Mật sư: Thích Giác Tiến – Thiền Nhân

NGHI THỨC SÁM HỐI

TRƯỚC KHI TỤNG KINH
(Tắm gội sạch sẽ, kiêng ăn ngũ vị tân, không cười giỡn quá độ, nói năng nhẹ nhàng. Dùng 3 nghiệp thanh tịnh mà tụng kinh).

VĂN PHÁT NGUYỆN
Cúi lạy đấng Tam Giới Tôn
Quy mạng mười phương phật
Tôi nay phát Mật Nguyện
Thọ trì kinh Chuẩn đề
Bản Tôn đại tạng pháp
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ Tam-Đồ
Nếu có kẻ nghe thấy
Đều phát tâm Bồ Đề
Hết một báo thân này
Sinh qua cõi cực lạc
Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

TÁN PHẬT
Nguyện mây hương mầu này
Khắp cùng mười phương cõi
Cúng dường tất cả Phật
Tôn pháp các Bồ Tát
Vô biên chúng Thanh Văn
Và cả thảy Thánh hiền
Duyên khởi đài sáng chói
Trùm đến vô biên cõi
Khắp xông các chúng sanh
Đều phát lòng Bồ Đề
Xa lìa những nghiệp vọng
Trọn nên đạo vô thượng
Nam mô Hương vân Cái Bồ Tát (3 lần)

SÁM VĂN
Nay đệ tử chúng con
Đem hết lòng thành kính
Làm Lễ đức Thế Tôn
Tu tập Kinh Chuẩn Đề
Bản Tôn Đại Bí Mật
Hùng lực phẩn nộ sân
Hiện thần thông tinh tấn
Điều phục chúng quân Ma
Khiến bỏ tâm nương gá
Dứt trừ các phiền não.

Nay con cúi đầu lễ
Nhờ oai lực Thế Tôn
Chuyển tất cả tạng báu
Đà Ra Ni Tổng Trì
Chuẩn Đề Phật vi diệu
Thắng phục tham sân si
Vào ngũ trược ác thế
Độ chúng sanh khó độ
Khiến thoát khỏi nhà lửa
Được mau đến Bồ Đề.

Nay con cúi đầu lễ
Bảy mươi ức đức Phật
Đồng danh hiệu Chuẩn Đề
Ủng hộ sức thọ trì
Kim cang đại thần chú
Vào món môn vô ngại
Tam muội định, huệ, trí
Các pháp môn vô kỵ
Bố thí nhẫn nhục thảy
Sẽ đắc đại Bồ Đề.

Nay con cúi đầu lễ
Các đức đại Bồ Tát
Thường thông đạt trí mầu
Là bực đại thượng thủ
Chúng sinh khéo về nương
Gần gũi đặng cúng dường
Nghe thiện pháp vô lậu
Thân tâm chẳng thóai chuyển
Làm lợi ích Trời, Người
Chứng quả vị Chánh Giác.

Nay con cúi đầu lễ
Các bậc Hiền Thánh Tăng
Du hành nơi tứ xứ
Thủ trì pháp vô ngại
Thường dạy người Lễ bái
Các công hạnh khó làm
Khiến vào các Tất Địa
An ổn cả đại chúng
Chứng pháp Kim Cang Tâm
Thành Vô Thượng Bồ Đề
Án phạ nhật ra vật. Án phạ nhật ra hồng (3 lần)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Nam mô Tỳ Lô Giá Na Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Lô Xá Na Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Thi Khí Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Thức Khí Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Ca Diếp Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Đại Ấn Tỳ Lô Chuẩn Đề Vạn Quang Phật
Nam mô Thiên Thủ Thị Hiện Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Hải Huệ Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Tổng Trì Môn Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Phổ Quán Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Tam Ma Địa Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Mật Tạng Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Hư Không Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Già Tỏa Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Liên Hoa Chuẩn Đề Vương Phật
Nam mô Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chuẩn Đề Vương Phật

PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI
Nay đệ tử hết lòng sám hối
Các tội tình quá khứ. vị lai
Xin đem ba nghiệp chỉ bày
Là chỗ sám hối hàng ngày thành tâm.
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (3 lần)

NGHI THỨC TRÌ TỤNG
Lô hương xạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật Hải Hội tất dao văn
Tùy xứ kết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát ma ha tát (3 lần)

Tổng trì chơn ngôn cẩn đương trì tụng thị đại thần chú :
Án Lam
Án sĩ Lâm
Án ma ni bát di hồng
Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha
Bộ Lâm ( 7 lần )

Phổ cúng dường chơn ngôn:
Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (3 lần)

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH
Thanh Trừ Tai Kim Cang
Bích Độc Kim Cang
Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang
Bạch Tinh Thủy Kim Cang
Xích Tinh Hỏa Kim Cang
Định Trì Tai Kim Cang
Tử Hiền Kim Cang
Đại Thần Kim Cang
Kim Cang Huyền Bồ Tát
Kim Cang Sách Bồ Tát
Kim Cang Ái Bồ Tát
Kim Cang Ngữ Bồ Tát

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH
Nhất tâm phụng thỉnh thập phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật, Bát Bộ Thiên Long, Long thần hộ pháp, chư Thiên nhất thiết thiện thần đồng thùy gia hộ.
Hiện tiền đệ tử cẩn đương trì tụng Phật Mẫu Chuẩn Đề thần chú :
Khể thủ quy y Tô Tất Đế
Đầu diện đảnh Lễ thất cu chi
Ngã kim xưng tán đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha.
Án chiếc Lệ chủ Lệ Chuẩn Đề ta bà ha (3 lần).

KHAI KINH KỆ
Kinh Chuẩn Đề Bản Tôn rất rộng sâu
Pháp môn Bí Mật khó tìm cầu
Chân lý mở khai đường chính giác
Hiển tà lộ chánh trí gồm thâu
Phật ngự cõi mê điều sanh chúng
Để lại ngữ ngôn kệ từng câu
Con nay nghe đặng chuyên trì niệm
Nguyện giải Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Khai Mật Tạng Bồ Tát (3 lần)

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ NHẤT
PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THÀNH ĐẠO PHẨM THỨ NHẤT
MẬT SƯ : THÍCH GIÁC TIẾN – THIỀN NHÂN

Lúc bấy giờ đức BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT ngự trong thành CÂU THI NA, khí hậu oi bức, nắng cháy đất nứt nẻ khô khan, cây cổ thụ rụng lá, cỏ xanh biến thành màu vàng, động vật bị chết rất nhiều. Ngài A NAN thưa hỏi duyên sự, đức PHẬT im lặng quan sát sự chín mùi của các pháp nhân duyên trong thế giới TA BÀ để khai môn Cam Lộ nhiệm mầu làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.
Khi ấy bốn bộ chúng thấy sự đói kém bức ngặt của nhân dân trong thành CÂU THI NA nên cùng nhau vân tập vây quanh đức THẾ TÔN để thưa hỏi. Lúc ấy đức PHẬT từ trong chánh định TỐI THƯỢNG MẬT CHÚ ĐÀ RA NI dậy an lành, vì đại chúng cùng ngài A NAN thưa hỏi mà thuyết về giáo môn MẬT TÔNG nhằm lấy lại sự cân bằng của khí hậu.
ĐỨC BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT nhiếp luồng tịnh quang từ nơi vô lượng vô số thế giới chư PHẬT cõi nước ở phương Đông, rồi vì bốn bộ chúng mà kể lại tiền thân của Phật Mẫu Chuẩn Đề tu tập pháp môn bí mật trải qua vô lượng câu chi ức kiếp thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Khi đại chúng nghe đến danh hiệu của Phật Mẫu Chuẩn Đề thời chư Phật mười phương thế giới đồng vân tập trên hư không cùng nhau khác tiếng đồng lời ca ngợi công đức vô lượng vô biên Đà Ra Ni của Phật Mẫu Chuẩn Đề. Lúc ấy khí hậu liền trở lại trạng thái cân bằng, mưa nắng thuận hòa, cây cối xanh tươi, nhân dân an lạc. Đó là do sức mạnh thù thắng nhanh nhẹn cảm ứng thần kỳ của Phật Mẫu Chuẩn Đề khiến cho thời tiết được thuận hòa mát mẻ êm dịu như vậy.
Phật dạy vào thời kỳ đức Oai Âm Vương Mật Tích Như Lai, mãn qua ba trăm ức câu chi tại thế giới Tổng Trì quốc độ Trung Thiên, nước tên Đông Thắng Phương tại thành Độ Đàn Việt. Bỗng nghe trong thành phát ra tiếng sấm lớn, trong tiếng sấm vang ra Phật Đảnh Tâm Ấn : Bộ Lâm, Bộ Lâm, Bộ Lâm, rồi ẩn mất.
Vua thành Độ Đàn Việt là Đại Oai Vương thống lãnh bốn châu thiên hạ đều được thái bình, nghe trên hư không bỗng vang ra tiếng sấm lớn như thế. Nhà vua bèn hội hợp bá quan văn võ để tìm hiểu điềm lạ này. Bấy giờ có ông quan THIÊN VĂN tên là TƯ DUY LẠC đến tâu cùng đức vua rằng :
Muôn tâu ĐẠI VƯƠNG, xin ĐẠI VƯƠNG chớ lo âu, đây là tiếng sấm lành, sau sẽ có một vị Phật ra đời tại quốc độ này, rất mong ĐẠI VƯƠNG ân cần hộ đạo cho đời thêm cường thịnh.
Vua Đại Oai Vương nghe nói rồi lòng thành hoan hỷ mà nghĩ rằng : Nay ta đã có chỗ sở cầu, rất mong Đại Pháp Sư vì ta mà khai ngộ.
Nghĩ xong, đức vua phán rằng : – Thuận theo ý của ta, khanh đã làm cho ta sinh lòng hỷ lạc vô tận. Ta sẽ ban cho khanh châu báu ngọc ngà tùy ý sử dụng.
Trải qua thời gian không bao lâu, có một con Khổng Tước to lớn thân mình chứa đầy lửa dữ đang lăn lộn giữa sa mạc dường như muốn chết. Con Khổng Tước này rớt xuống thuộc địa hạt nước Đông Thắng Phương khiến cho thành trì nhà cửa đều bị chấn động mạnh, nhưng không làm tổn hại cho bá tánh. Bấy giờ nhân dân nước ấy đến gần con Khổng Tước thì thấy nó đã bất tỉnh. Một cậu bé từ bên hông con Khổng Tước bước ra dáng điệu oai nghi đáng được mọi người kính phục. Nhân dân nước ấy nghĩ rằng con Khổng Tước sinh ra cậu bé này. Nghe tin ấy đức vua liền cho người triệu đứa bé về cung nuôi dưỡng cho đến lớn. Con Khổng Tước sau khi tỉnh lại nó bay về hướng Bắc mất dạng.
Vua Đại Oai Vương hỏi về gốc tích cậu bé, thì được cậu kể lại là con của đức Bồ Tát hiệu là Thiên Nhãn, còn cậu tên là Thiên Thủ. Trong lúc dạo chơi trên cung Trời Đao Lợi, bị con Khổng Tước từ đâu bay đến nuốt cậu vào bụng. Nhưng thân của Thiên Thủ là thân chuyển kiếp Kim Cang Ô Sô Sáp Na Uế Tích không thể nào hại nổi. Do đó cậu không bị tiêu hóa trong bụng con Khổng Tước, mà ngược lại cậu còn lai chuyển trái tim của nó, làm cho nó đau đớn chao đảo rơi xuống sa mạc của thành Đông Thắng Phương. Vua nghe rồi vui vẻ nhận Thiên Thủ làm Thái Tử, vì ngài không có con nối nghiệp. Từ ngày Thiên Thủ được Bồ Tát Thiên Nhãn giáo hóa cho đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, lòng nhớ tưởng in sâu vào tâm não, hôm nay bỗng nhiên xa cách đấng Đạo Sư, Thiên Thủ biếng ăn ít nói, đôi bàn tay thường chắp lại để cầu Phật gia hộ.
Thời gian trôi qua tuổi ấu thơ không còn nữa Thái Tử Thiên Thủ có trí nhớ thông minh độ lượng, từ bi vô chướng ngại, văn chương súc tích, lời nói như chuông thanh thoát nhẹ nhàng. Một hôm Thái Tử bỗng nghe trên hư không có tiếng kêu lạ thường :
Thiên Thủ ! Thiên Thủ ! hãy đi đi ! hãy đi đi ! đừng chần chờ nữa!?
Tiếng kêu lạ thường ấy như bên tai khiến cho Thái Tử lấy làm lạ lùng, và gọi đi gọi lại đến ba lần như thế.
Đêm đó Thái Tử trầm tư mặc tưởng rồi xin vua cha cho đi xuất gia tu hành, vua cha nghe nói lòng sầu muộn thêm tăng, muốn giữ Thái Tử lại, nhưng ý chí của Thái Tử làm cho vua Đại Oai Vương đủ niềm tin. Tuy nhiên đức vua vẫn thử thách Thái Tử bằng đủ mọi cách để cầm chân, cuối cùng Thái Tử đã vượt khỏi thành Đông Thắng Phương đến núi Thạch Bàn cắt bỏ râu tóc tìm tu đại đạo.
Khi Thái Tử vào rừng sâu để tầm đạo gặp lúc tháng trời oi bức, khí hậu nóng khô khan, thiếu nước uống, cây cối cằn cổi, hoa lá không còn, tất cả đều biến thành màu vàng cháy. Sở dĩ khí hậu bức ngặt như thế, đó là do các đạo sĩ tu trong núi Thạch Bàn làm ra. Ông Uất Đơn Đầu là người đạo sư ở trong chúng thuộc hệ thống của Khổng Tước Vương truyền đạt pháp thuật gây ra ảnh hưởng khí hậu trái nghịch. Thái Tử Thiên Thủ đã trải qua những thử thách đối đầu với các đạo sĩ ở núi Thạch Bàn. Cuối cùng vì sự tu tập không có kết quả làm lợi ích cho chúng sanh, nên ngài đã quyết định bỏ núi Thạch Bàn đến rừng Sa La tu tập trầm tư và nhớ đến lời dạy mật truyền của đạo sư Thiên Nhãn.

Khể thủ qui y Tô Tất Đế
Đầu diện đảnh Lễ Thất Cu Chi
Ngã kim xưng tán đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha.
Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha.

Thái Tử ngồi dưới gốc cây Đa La bên dòng thác có tên là suối thần Ra Đát Tha. Ngài suy tư trầm lặng nơi đạo vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác qua hình tướng trung tâm Viên Minh Bố Liệt Phạn Thư Đồ vẽ hình chữ Án sáng như mặt nguyệt trên đỉnh Tỳ Lô hàng phục Ma Chúng, trừ các phiền não điên đảo suốt sáu năm tham thiền, và một trăm lẻ tám ngày mật định ngài đã thành tựu quả vị Tô Tất Địa, tổng trì các môn Tam Muội đà ra ni thành vô thượng Tối Chánh Giác. Trong trận chiến cuối cùng với Ma Vương Đin Sa Da, có đạo sĩ Uất Đơn Đầu và năm trăm đạo sĩ hùng mạnh từ núi Thạch Bàn kéo sang để thử thách Thái Tử.
Các đạo sĩ ra sức dùng chú thuật gió cuốn, lửa cháy, nẽ đất, mưa rơi tầm tả, khí hậu lạnh buốt để mong phá hoại công hạnh tu hành của Thái Tử, nhưng tất cả đều bị thảm bại. Đạo sĩ Uất Đơn Đầu liền thu chú thuật, ngửa trán lên trời triệu thỉnh Khổng Tước Vương. Chỉ trong khoảnh khắc Khổng Tước Vương liền xuất hiện bay đến chỗ Thái Tử, mình nó đầy lửa dữ, mắt miệng phun lửa làm cháy rừng Sa La trông rất thảm hại. Thái Tử vẫn ngồi tu thanh tịnh dường như ngài không chú ý về ngoại cảnh, và do lòng từ bi, nước giải thoát mưa Cam Lộ đã rưới tắt được lửa dữ. Khổng Tước Vương tức giận khiêu chiến rằng :
- Nhà ngươi hãy đứng lên đi ! Ta sẽ cùng nhà ngươi thi đấu.
Ma Vương đắc ý cười vang làm chấn động cả khu rừng. Thái Tử trong cơn tư duy đại đạo lòng không thóai chuyển chẳng màng đến ngoại cảnh, ngài vẫn im lặng tu hành. Khổng Tước Vương tức giận liều lĩnh xông đến há miệng nuốt Thái Tử vào bụng. Nhớ lại việc làm năm xưa của Khổng Tước Vương, Thái Tử đã đưa tay bóp nhẹ vào mạch máu cơ tim của nó, làm cho nó bị chấn động và tê liệt cơ thể. Thái Tử ôn tồn nói :
- Này Khổng Tước Vương, ngươi chớ quá hung hăng tạo thêm tội ác nữa. Hãy mở miệng ra mau!
Khổng Tước Vương sợ hãi kinh cuồng bèn mở miệng ra. Thái Tử từ trong miệng của nó bay lên hư không và ngự trên lưng của Khổng Tước Vương, thân của Thái Tử hóa thành to lớn dị thường. Khổng Tước Vương thấy thế liền dùng đôi mắt căm hờn phóng ra những tia lửa xanh biếc để chế ngự Thái Tử, nhưng trong thân của ngài bỗng nhiên cụ túc mười tám cánh tay sắc vàng óng ánh với mười tám món binh khí khác nhau để hàng phục Khổng Tước Vương. Nó tuy thua về pháp thuật nhưng vẫn còn lý luận để giành phần hơn mà nói rằng :
- Nhà ngươi là con đẻ của Ta, tại sao dám hổn hào ngồi trên lưng của Ta, không sơ phạm tội bất hiếu hay sao ?
Thái Tử đáp rằng :
- Này Khổng Tước Vương đã hai phen ta đều tha chết cho ngươi, hôm nay duyên cớ gì ngươi lại nói ta mạo phạm như thế ? Ơn cứu tử đó ngươi chưa báo đền cho đúng nghĩa, nay ta ngự trên lưng nhà ngươi bay dạo khắp hư không đại địa cho tất cả Trời, Người đều trông thấy thì phước báu này thật là vô lượng.
Lúc ấy giữa hư không bỗng có tiếng của chư Phật vang lên khen ngợi danh hiệu của ngài :
- Hay thay ! Hay thay !
đức Phật Mẫu Chuẩn Đề lay động phát ra ánh sáng sấm sét lớn cụ túc các binh khí khác nhau trên các bàn tay đánh vào các căn của Khổng Tước Vương khiến cho nó toàn thân tê liệt, vì chịu không nổi sự đau đớn, Khổng Tước Vương đã quy y sám hối.
Bấy giờ bảy mươi ức câu chi đức Phật đồng lời khác tiếng hiện lên ca ngợi tán thán công đức của Phật Mẫu Chuẩn Đề đã làm xong Phật sự vô thượng đại Bồ Đề. Chúng sinh thảy đều phát tâm chiêm bái đỉnh lễ tán thán. Chư Thiên, Đế Thích, Đao Lợi Thiên Cung, các vì Tiên Đế, thần A Tu La hoan hỷ rãi hoa cúng dường. Bồ Tát Đà Ra Ni trên cung trời Đao Lợi hiện đến nói kệ khen Phật :

1. Chúng con xin đỉnh lễ
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề
Hay hàng phục Ma chúng
Tiêu trừ các tội lỗi
Ánh sáng chiếu đến khắp
Chúng sinh được vui mát
Như bóng Bồ Đề thọ
Hàng Thanh Văn hữu học
Duyên Giác hoặc Bồ Tát
Thảy đều nên đỉnh lễ
Bậc đạo sư vô thượng
Trừ phiền não ảo giác
Xóa sạch cả vô minh
Sáu loài đều nương nhờ
Bậc vô lậu giải thoát
Đà Ra Ni tổng trì
Mật pháp tu vi diệu
Khiến đại chúng hoan hỷ
Thanh tịnh vào tam muội
Chẳng móng động trần nhơ
Như hoa hương cỏ lạ
Như vật hiếm Thế Gian
Lâu lắm mới được gặp
Nay xuất hiện độ thế
Trời người đều tôn thờ
Xưng tán công đức Phật
Tiếng âm điệu giải thoát
Lời thanh thoát nhẹ nhàng
Chia vui các đạo hạnh
Án ngữ các việc ác
Che ngăn bít phiền não
Đại Thánh Chuẩn Đề Vương
Hùng bị đại trí lực
Soi sáng chiếu đêm đen
Trang nghiêm thân oai đức
Đầu đội mũ Tỳ Lư
Mắt xanh trông bốn bể
Trí nhiếp cả càn khôn
Sức tinh cần Mật Định
Không diêu động pháp thí
Giới ngăn mà chẳng ngăn
Khiến đại chúng dứt sạch
Lòng phàm mau buông bỏ
2. Bồ Tát chân Bồ Tát
Hạnh Mật dễ lợi tha
Thường ăn uống pháp mầu
Bỏ quên cả vật dục
Hay khởi động từ tâm
Cứu chúng được giải thoát
Dù khổ mà chẳng khổ
Việc đạo đức khó làm
Việc tu hành khó được
Nơi nghìn muôn vạn kiếp
Xa xôi nhiều hiểm nạn
Bồ Tát hiện đang làm
Noi gương theo Phật Mẫu
Chuẩn Đề công đức tu
Thuyết pháp vang vọng lớn
Như đám mưa tưới mát
Vui đẹp cả Trời, Người
Tiếng khen ngợi đồn xa
Tuyên dương pháp Chánh Giác
Dạy khổ lìa nơi khổ
Khổ nhơn chẳng có vui
Tầm nguyên nhân các khổ
Thế gian là trọng trược
Trần mê không phước báu
Chết khổ không biết khổ
Mê lầm chẳng nghỉ ngơi
Tranh nhau trong thắng bại
Chẳng để tâm hành thiện
Tu tập các công đức
Phật chỉ rõ các khổ
Không bến bờ giải thoát
Như kẻ thất lạc cha
Như nhà không có chủ
Như tớ chẳng có thầy
3. Này nam tử ! nữ nhân !
Trong Tam Giới nóng bức
Khổ ngục hình đáng thương
Ta là cha muôn loại
Cứu thoát độ giải thoát
Xuất gia phá ba cõi
Mặc y phục pháp Phật
Dứt hữu lậu khờ khạo
Bỏ gánh nhẹ trần lao
Bệnh khổ chóng tiêu mất
Còn lại tịnh an vui
Học tám pháp cứu cánh
Chánh đạo khéo về nương
Thanh tịnh là bậc nhứt
Phật Mẫu hằng tuyên dương
Trời người sinh hỷ lạc
Hoa rãi cúng mười phương
Bát bộ Thiên Thần chúng
Ủng hộ Phật vô sanh

Lúc ấy Phật Mẫu Chuẩn Đề thu nhiếp hóa thân rồi đến núi Thạch Bàn độ cho năm trăm người ông Uất Đơn Đầu thành A La Hán, và khai ngộ cho vua Đại Oai Vương chứng vô sinh pháp nhẫn cúng dường Phật Pháp Tăng Tam Bảo không hề mỏi mệt.
Trãi qua trong hiền kiếp Phật Mẫu Chuẩn Đề đã giác ngộ cho vô lượng chúng sinh bằng thần chú của giáo môn Mật Tông. Ở trong chúng ngài Kim Cang Mật Tích Bồ Tát làm thượng thủ được Phật dự ghi nối truyền chánh pháp Mật giáo trong tương lai. Phật Mẫu Chuẩn Đề trụ được tám mươi bốn vạn năm, qua thời kỳ tượng pháp gấp bội chánh pháp cứ như thế lưu truyền mãi không dứt.
Sau khi đức BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT thuyết kinh này xong khiến cho vô lượng chúng Bồ Tát giữ gìn thủ hộ thần chú Phật Mẫu Chuẩn Đề, ngài A Nan, Xá Lợi Phất cùng với hàng Thanh Văn, Duyên Giác hơn tám nghìn người đều được pháp Tổng Trì Đà Ra Ni. Đại hội tán thán mọi người đều đặng pháp hỷ rộng lớn, nghe rồi tín thọ phụng hành.

Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần).
Hết Phẩm Thứ Nhất

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN

Tăng già khất sĩ việt nam – Tịnh xá Chuẩn Đề
Mật sư: Thích Giác Tiến – Thiền nhân

TẾ ĐỘ ÁC LONG PHẨM THỨ HAI

Một thời tại quốc độ trung thiên, thế giới Tổng Trì có một nước tên A La Hảm, vua nước ấy tên là Đệ Nhất Thiên Lãm Vương ngự tại thành Điểm Đà, nhân dân sống trong cảnh thanh bình thịnh trị. Một hôm ông quan Thiên Văn tên là Tinh Tú Thiên vào chầu vua Lãm Vương báo hung tin khi ngài thấy các vì sao yêu nghiệt vây phủ các vì tinh quân của đức vua. Cả triều thần đều lo lắng, nhưng nhờ có quân sư Tuệ Mạng trấn an nên vua Lãm Vương và bá quan đều có mỗi ý khác nhau về điềm lạ lùng này.
Khi ấy tại Hắc Long động chỗ ở của Hắc Long quái nhân khi xưa bị vua Lãm Vương cắm thanh gươm giáng Long để giam giữ Hắc Long quái nhân khiến cho nó sinh lòng thù oán. Hôm nay bỗng nhiên thanh gươm ấy bị ngã xuống, Hắc Long quái nhân mừng rỡ tung hoành ngang dọc, nó bay lên hư không làm cho phong vũ bất kỳ, rồi bay sang núi Tuyết Sơn Hồng Thạch (núi này đá màu hồng) thấy ở dưới núi có ánh sáng phát ra màu xanh biếc chiếu đến tận mây xanh. Đây là viên thần châu của cõi Trời Đế Thích làm rớt xuống nhân gian. Vua cõi Trời muốn để viên thần châu này lại cõi thế nên khiến cho Tứ Đại Thiên Vương xây thành một ngôi cổ tháp bằng đá hình xoắn ốc cao một nghìn do tuần thẳng đứng khổng lồ. Bên trong ngôi cổ tháp có thờ các vị Trời Đế Thích: A-KA-MA, VÊ-ĐA-RA, GA-ĐÊ-RA hùng vĩ.
Dưới chân ngôi cổ tháp có Tứ Đại Thiên Vương sức mạnh vạn năng đón đỡ ngôi tháp cổ ấy. Phía trước ngôi cổ tháp có để một tấm biển bằng đá “ Đế Thích Cổ Tháp “, chung quanh ngôi cổ tháp là những hoa viên cây thơm cỏ lạ, ao nước chạy dọc theo hành lang uốn khúc rất đẹp. Đi sâu vào bên trong có nhà mát cầu vồng, khe suối vách đá khắc nhiều cảnh non bồng nước nhược rất thanh lịch. Phía bên trái là chỗ ở rất rộng lớn cho các đạo sĩ Bà La Môn tu hành, cầm đầu là Lão Tôn Sư Đại La Thiên Duyệt Bát và Thất Đạo tinh quân.
Bên phải là chỗ ở của các Tiên Cô cầm đầu có Đại Tiên Cô La Bà Phất, cảnh trí nơi đây rất nghiêm tịnh. Hắc Long quái nhân đến gặp Lão Tôn Sư định dùng sức mạnh để cướp lấy viên thần châu. Nhưng Lão Tôn Sư đã khéo léo chỉ cho Hắc Long quái nhân tìm đến vua Lãm Vương lấy chìa khóa thần kỳ mới có thể mở cửa “Thạch Động Thần Châu”. Hắc Long quái nhân cất mình bay về thành Điểm Đà mất dạng.
Lúc bấy giờ, đức Phật Mẫu Chuẩn Đề đang ngự tại nước Đông Thắng Phương vườn cây của Tể tướng Mục Đằng giác ngộ cho ông và năm trăm người đồng tu theo pháp môn Mật Tông và tổng trì được các pháp bằng sức mạnh của tối thượng minh chú :

Khể thủ qui y Tô Tất Đế
Đầu diện đảnh lễ thất cu chi
Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha.
Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha.

Đương lúc thọ trì bài thần chú này bỗng có một con Rồng đen bay ngang vườn cây của Tể tướng Mục Đằng và rớt xuống lãnh địa nước Đông Thắng Phương trong thành Độ Đàn Việt. Tất cả đồ chúng thấy có điềm lạ, ông Uất Đơn Đầu bạch Phật rằng :
- Bạch đấng Giác Giả Đại Thánh, chúng con chưa từng thấy loài Rồng xuất hiện. Hôm nay bỗng nhiên có một con Rồng đen rớt xuống khu vực phía Nam của thành Độ Đàn Việt. Chúng con mắt phàm chưa rõ ấy là nhân duyên gì? Cúi xin đức Đại Thánh Thế Tôn chỉ bày duyên sự để cho chúng con được mắt trí huệ rộng lớn ?
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề mở ánh Thiên quang nơi con mắt giữa, hào quang chiếu sáng diệu hiền phớt qua đại chúng vài trượng rồi thu lại vào bên trong khoảng sát na. Phật khẽ mĩm cười an lòng chúng mà dạy bảo :
- Này ông Uất Đơn Đầu ! Tất cả chúng sanh hữu tình vô tình nếu có ác tâm đều bị thu phục bởi thần chú nhiệm mầu do ta tu tập trong vô lượng câu chi ức kiếp. Hôm nay sở dĩ Rồng đen bị rơi xuống thành Độ Đàn Việt hôn mê như thế, đó là do nó có ác tâm nguy hiểm muốn hại người. Nhưng nghiệp duyên oan báo nào ai tránh khỏi, trừ khi người gây tội biết quy y Tam Bảo.
Ông Uất Đơn Đầu La Hán bạch Phật :
- Ngưỡng mong đức Đại Thánh Thế Tôn dạy cho chúng con biết tại sao chúng sanh làm ác, và tại sao chúng sanh biết thiện nghiệp? Nếu chúng sanh đã giác ngộ mà vẫn còn làm ác là nguyên nhân nào? Và chúng sanh đã giác ngộ chuyển nghiệp tu theo thiện nghiệp là duyên cớ sao? Ngưỡng mong lòng bi mẫn, trí huệ phi phàm phi Thánh và lượng hải hà của đức Thế Tôn chỉ bày những nguyên nhân duyên cớ tường tận để chúng con đi theo giáo pháp mầu nhiệm vi mật của pháp môn Mật Tông mà tu hành.
Phật Mẫu Chuẩn Đề nghe qua lời tác bạch sâu rộng của ông Uất Đơn Đầu, ngài mĩm cười dẫn giải :
- Này ông Uất Đơn Đầu! Bản lai diện mục của chúng sinh xưa nay vốn phi phàm, phi Thánh, phi chúng sanh, phi Phật tánh. Hôm nay sở dĩ mà có là do nhân duyên sanh ra trong ba đường : Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh tạo nên ác tâm, và ba nẽo Trời, Người, A-Tu-La mà tạo ra tâm thiện.
- Này ông Uất Đơn Đầu! Người làm ác không biết mình làm ác nên vui ưa khen ngợi xúi Bảo kẻ khác làm ác, quyết tâm làm ác. Đây gọi là Đại Ác Nhơn.
- Người làm thiện lại khác với kẻ làm ác ở chỗ họ biết hối lỗi xưa mà chừa lỗi nay, biết khuyên người phát huy thiện lực và quyết tâm hành thiện không hề sợ khó sợ khổ. Người này ở trong pháp vi mật hay khởi đại thần chú Chuẩn Đề căn bản để tiến tới đạo vô thượng Đại Bồ Đề thậm thâm vi diệu.
- Này ông Uất Đơn Đầu! Tại sao ông bảo rằng người giác ngộ rồi lại ở trong Phật Pháp làm việc quấy ác ? Đó là do chúng sanh điên đảo thấy người này làm ác mà thực ra người ấy khéo dùng phương tiện ác để cứu độ giáo hóa chúng sinh khó giáo hóa mà thôi.
Nếu kẻ đã giác ngộ chân lý rồi ở trong đạo Bồ Tát chẳng bao giờ dám nói người ấy tạo ra những nghiệp ác. Đây là pháp khó vào khó nhập, khó có thể nghĩ bàn của Đại Bồ Tát ma ha tát mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải noi gương lành tu học.
- Này ông Uất Đơn Đầu! Nếu người giác ngộ tu theo thiện nghiệp giữ gìn thân khẩu ý thanh tịnh, đó là một điều khó làm, lại hay tinh tấn quyết tâm hành thiện khuyến hóa mọi người tu nhân học Phật nghe Pháp giúp đời hồi hướng chúng, việc làm này lại khó hơn. Người này ở trong thiện pháp đã không thóai chuyển lại hay cầu bậc Tôn Sư cao minh trí huệ để rèn luyện tu hành đạo đức, tham thiền, nhập định Tổng Trì môn Tam Muội Đà ra ni. Đây gọi là những người Tối Thượng Thiện Nhân sẽ đi thẳng một con đường duy nhất đến đạo vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chí cầu giải thoát không mệt mỏi. Nếu có người tu hành không luận là kẻ xuất gia, tại gia hay siêng năng cần cầu pháp môn Đà Ra Ni của giáo môn Mật Tông này công đức thiệt là vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn khó ai sánh được, mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu học phải học.
Khi ấy Phật Mẫu Chuẩn Đề chuyển động oai thần Đại Tự Tại nơi vô lượng câu chi ức kiếp, trong thân thò ra một cánh tay sắc vàng óng ánh hào quang linh diệu cầm một tịnh bình bằng bảy báu đưa cho ông Uất Đơn Đầu rồi dạy rằng :
- Nay ông đem tịnh bình Thánh Thủy này rãi lên mình con Rồng ấy để cứu nó tỉnh lại và dạy cho nó thần chú Chuẩn Đề đà ra ni tối thượng này, ắt sẽ giúp nó quay đầu hướng thiện. Bây giờ ông làm đúng theo lời dạy của ta mà đi đi.
Ông Uất Đơn Đầu vâng chỉ cáo lui. Ngài Bồ Tát Kim Cang Mật Tích hửu nhiễu ba vòng chung quanh đức Phật rồi tán thán công đức nói kệ khen rằng :

1. Đức Đại Thánh cứu thế
Đạo sư của Trời, Người
Hay khởi lòng đại bi
Che chở cho tất cả
Sáu loài chúng sinh khắp
Được an ổn không lo
Thân Phật rất khó gặp
Đạo pháp rất khó tầm
Trong đời cả Trời, Người
Trãi qua vô số kiếp
Mới thị hiện một lần.
2. Thuyết pháp Tổng Trì Môn
Đà Ra Ni thần chú
Sức mạnh Đại Oai Đức
Đè bẹp tâm ác kiến
Xô ngã các phiền não
Quân ma nghe tán loạn
Các câu chấp dứt mất
Đoạn diệt sạch ngã ái
Bệnh dục mau tiêu trừ
Nhờ công hạnh thanh tịnh
Không lay động diêu động
Thế gian vua cám dỗ
Không ai chẳng bị hại
Tai nạn do tâm ác
Bệnh khổ do tâm sinh
Thù oán do nghĩ nhớ
Các Hiền Thánh tuy biết
Cả thảy đều rung sợ
Phật Chuẩn Đề thị hiện
Dạy ngăn các tà kiến
Bỏ Mê Lầm trần sa
Viễn ly ba đường khổ
Dắt chúng khỏi ba cõi
Xa lìa tham sân si
Tiêu trừ các vọng nghiệp.
3. Thân tâm liền thanh tịnh
Kiến đạo nhẹ an vui
Hàng hữu học vô học
Nương pháp cứu cánh giác
Nhập vào các Tam Muội
Tinh tấn định, huệ, trí
Hiểu sâu chân Mật Tạng
Như hoa nở mùa xuân
Chuyển xoay theo chiều pháp
Tăng trưởng các công đức
Trang nghiêm tịnh đạo tràng
Lợi ích cho sáu nẻo
Cứu vớt nơi ba đường
Đặng thành Tối Chánh Giác.

Ông Uất Đơn Đầu nghe rồi lòng hoan hỷ lạy tạ đức Phật Mẫu Chuẩn Đề rồi lãnh lấy tịnh bình bay lên hư không nhẹ nhàng như loài chim, trong khoảng phút giây đến chỗ Rồng đen bị nạn. Ngài dùng nước Thánh Thủy rãi lên người của nó xong, lại tụng thần chú Chuẩn Đề Đà Ra Ni để cảm hóa loài chúng sinh có ác tâm. Đọc xong bảy biến ngài quay về vườn cây của Tể tướng Mục Đằng chờ nghe lời dạy bảo của Phật.
Bấy giờ con Hắc Long tỉnh dậy cơ hồ như được một giấc ngủ say, nó lại nghĩ đến chìa khóa thần kỳ của “ Thạch Động Thần Châu” và mối thù cắt xương tủy với vua Lãm Vương, lòng căm hận tiếp tục nung nấu, nó tung mình bay lên hư không làm cho gió cuốn đá cát tung tóe mù mịt cả một khu vực, nhà cửa dân cư bị sụp đổ gây thương tích cho bá tánh.
Khi ấy vua Lãm Vương đang dạo hoa viên chiêm ngưỡng các loài hoa thơm cỏ lạ. Bỗng thấy có một luồng gió nóng phớt qua mặt rồi cuốn ngài bay đi mất dạng. Tình cờ Khổng Tước Vương bay ngang sớt lấy Rồng đen đem về thành Đông Thắng Phương đáp xuống trong pháp hội của Phật Mẫu Chuẩn Đề thả Rồng đen xuống đất cùng với vua Lãm Vương, rồi bay về hướng Bắc mất dạng.
Ông Uất Đơn Đầu cùng bốn bộ chúng đều kinh lạ thấy chuyện xưa nay chưa từng có, bèn làm lễ đắp y bày vai hữu đi nhiễu quanh Phật ba vòng đảnh lễ chắp tay mà bạch rằng :
- Kính bạch đức Đại Thánh Thế Tôn ! Xin Thế Tôn vì tất cả chúng sanh mà thuyết pháp khiến cho kẻ ác biết tu tâm, người hành thiện biết lỗi lầm, kẻ trí thức biết giác ngộ, người tấn tu đến chỗ đại đạo. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn vì thương xót chúng sanh mà mỡ lòng bi mẫn độ cho tất cả được chỗ an lạc.
Bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề trong cơn đại định Tỳ Lô quán đảnh tâm chú :
“Án ma ha tát đát đa bát đát ra”
của chư Phật mười phương, trên đảnh chiếu ra vô lượng đạo hào quang sáng suốt dậy an lành mà nói với đại chúng rằng :
- Lành thay ! Lành thay ! Chúng sinh từ vô thỉ đến nay kẻ vô tình người cố ý tạo tội đều mắc phải quả báo như nhau. Đã bao phen Như Lai tuyên bố rằng Thế gian là ác khổ, nó là gốc của sự khổ, muốn giải thoát sự khổ bức phải tầm bậc thiện trí thức chỉ rõ cội nguồn và nguyên nhân của sự khổ nơi thân và tâm. Đồng thời phát đại thệ nguyện cắt ái ly gia tu hành thiện niệm, thực hành tám phương pháp chân chánh để được an lạc.
- Này Thiện nam tử ! Thiện nữ nhân ! Nếu có người tín tâm biết niệm thần chú Chuẩn Đề Như Ý Đà Ra Ni của Như lai đã tu tập trong vô lượng kiếp, thời các nghiệp báo của người ấy đều bị che đậy nhanh chóng, phiền não mau tiêu diệt, ác Ma khó quấy nhiễu, kẻ ngu được trí huệ, người bệnh mau hết v.v… Đây là lời của Như Lai đã nói cũng như lời của bảy mươi ức câu chi đức Phật đã nói và hiện nay đây giữa đại chúng Trời, Người, Ma, Phạm, ta cũng nói như vậy.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề nói xong im lặng vào định Tổng Trì Vương Tam Muội. Hoa cõi Trời trên hư không rãi xuống giữa chúng hội. Bồ Tát Đà Ra Ni vì bốn chúng mà nói kệ rằng :

1. Phật là đấng Chân Giác
Hay khởi lòng đại bi
Ban ơn và bố phước
Giúp chúng con diệt ngã
Diệt não tưởng ham vui
Phá mê mờ cõi ác
Chúng con làm Bồ Tát
Mà chẳng phải Bồ Tát
Thâm tâm rất yếu kém
Tuy các Pháp đã nghe
Mà không được thuần phục
Tu hạnh lành khó tu
Trải qua vô số kiếp
Các hạnh khổ khó làm
Nay nghe đức Thế Tôn
Danh hiệu Chuẩn Đề Vương
Hay hàng phục Ma chúng
Phá ác và diệt ác
Nhờ sức Tam Tịnh Mật
Khẩu Mật khởi chân ngôn
Định Mật giáng bạt chú
Ý Mật điểm viên minh
2. Đà Ra Ni tinh tấn
Im lặng rộng thênh thênh
Chịu đựng lòng kham nhẫn
Thọ nhận pháp xuất thế
Trừ tối tăm trần tục
Sức mạnh chuyển thế gian
Như một Kiện Lực Sĩ
Bứt xiềng xích nhẹ nhàng
Bỏ tham tài hưởng dục
Mặc y phục đại pháp
Đi vào nơi ba cõi
Tuyên bố pháp Chánh Giác
Chuyển mạnh Đại Pháp Luân
Xô ngã gốc tội khổ
Khiến chúng sinh ngưỡng mộ
Phát lòng đại quy y
3. Như Lai dạy bốn đế
Diệt khổ trừ các khổ
Gốc khổ bứng lên xong
Đạo lành gieo cấy xuống
Chánh đạo diệu sáng soi
Pháp lành chân Mật Giáo
Thành tựu đại chơn ngôn
Tô Tất Địa Chánh Giác
Sức mạnh đại Tổng Trì
Trừ dẹp các nạn khổ
Cứu thoát nơi ba cõi
Giọng pháp vang tiếng lớn
Thông đạt cả sáu đường
Chúng sinh được tĩnh nghĩ
Chúng đạo vô sinh nhẫn
Bồ Tát vâng pháp chỉ
Lưu bố dạy kinh này
Khiến chúng nương theo pháp
Trời, Người sáu loài thảy
Vui mừng sinh hỷ lạc
Rãi hoa hương cúng dường
Nơi đấng Đạo Sư Vương
Tôn thờ cùng tán thán
Các công hạnh khó làm
Khiến vảo các tất địa
Trọn nên đạo vô thượng.

Lúc bấy giờ, do sức mầu nhiệm không thể nghĩ bàn và tinh thần thiện niệm của đại chúng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ – Tát và cả Trời, Người, Thần, Quỷ v.v… qui hướng kính Lễ tán thán, cúng dường, ngợi khen công đức Phật Mẫu Chuẩn Đề, khiến cho Hắc Long quái nhân sinh lòng thiện cảm, tự nhiên sát khí biến mất, đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi quỳ xuống bạch rằng :
- Ngưỡng bạch đức Thế Tôn! Tôi nay đã đến đây nghe được lời chỉ dạy vi mật khéo léo của Phật khiến cho tâm tôi được tỉnh ngộ biết tự sai lầm, xin đấng từ bi cao cả cứu vớt tế độ cho tôi vào chỗ thanh tịnh của chư Phật.
Tôi xin quy y Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Tôi xin quy y Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Đức Phật biết được tâm niệm của Hắc Long quái nhân hôm nay đã thuần thục thánh thiện, ngài mĩm cười khoan tay chỉ dạy :
- Này Thiện nam tử ! Chư Phật đã xa rời oán thù phiền não mà được vô lượng thiện pháp, lại hay giáo hóa cho kẻ oán thù lòng không mệt mỏi chán nản.
Như Lai ở trong chỗ oán thù hay lập chí tu hành không sinh tâm thù oán. Như Lai đã tu vô lượng thiện pháp đã làm, đang làm và hiện nay đang tu tập. Ý nghĩ lời nói ngay thật, thâm tâm thanh tịnh ưa chỗ vắng lặng hồn nhiên hay khởi sự tu tập các món Đà Ra Ni cho trọn đạo vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nay ông đã biết được lỗi lầm trong chốn ác đạo, tức là đã an trú vào nhà của Như Lai rồi.
Nói xong Phật Mẫu Chuẩn Đề nhập vào chánh định Đà Ra Ni Tổng Trì bản tôn :
“Án chiết lệ chủ lệ chuẩn Đề ta bà ha”.
Ông Uất Đơn Đầu vâng chỉ thừa hành Phật Pháp đắp chiếc y Ca-sa cho Hắc Long quái nhân đổi pháp hiệu là Thiện Long hành giả. Ở trong pháp hội của Phật do sức chí tâm cần cầu đạo pháp, bảy ngày sau ông đã tu chứng quả vị A La Hán.
Bấy giờ Bồ Tát Tổng Trì Môn nói kệ khen rằng :

1. Pháp xuất thế bực nhứt
Bỏ y phục trần gian
Tài sản cùng Cha Mẹ
Vợ con, anh chị em
Và của cải đáng yêu
Gửi thân chốn sơn lâm
Hoặc cốc am, tịnh xá
Mặc áo giáp nhẫn nhục
Chí cầu đạo quên ăn
Tu hành theo ngày tháng
Các tam muội tịnh tu
Dưỡng đạo siêng hành đạo
Chấn chỉnh tham sân si
Bằng phương tiện pháp môn
Chuẩn Đề chân mật chú
Tối thượng Đại Từ Tôn
Tối linh tùy thời hiện
Giáng bạt hàng Ma chúng
Cứu khổ địa ngục môn
Oai thần Đại Tự Tại
Không có gì sánh kịp
2. Nhất tâm niệm chân chú
Quán đảnh Tỳ Lô môn
Lòng không chút xao động
Chẳng chấp trước các pháp
Như giọt nước Cam Lộ
Như vi trần qua lại
Như ngọn gió khẽ lay
Thâm tâm hằng kiên cố
Giữ gìn các cấm giới
Đầy đủ các công đức
Bồ Tát hành như thế
Mà chẳng thấy chỗ hành
Chỗ ta và người thảy
Khen chê chẳng máy động
Linh hoạt khéo diệu dụng
Chuyển xoay đạo mình làm
Khiến chúng đều quy phục
Hàng Thanh Văn Duyên Giác
Chỗ tu tập thiếu sót
Thấy lỗi và bỏ lỗi
Thấy ác và bỏ ác
Các chấp mê biến động
Không nhận rõ nguồn cơn
Chúng sinh nhiều mê chấp
Tưởng dục nặng si mê
Ăn nhiều hay ngủ nghĩ
Nên chẳng thấy chân lý
3. Hàng xuất gia Bồ Tát
Hoặc tại gia Bồ Tát
Các khổ hạnh siêng tu
Để tảo trừ ác dục
Chân lý khó thực hành
Thường tu và lễ bái
Cầu đạo không chán nản
Ngồi im chỗ vắng vẻ
Nghĩ nhớ lời Phật dạy
Chiêm nghiệm các món pháp
Suy tư các quấy ác
Tu tập vững niềm tin
Đè bẹp cơn ảo giác
Chư Thiên cõi Dục giới
Ngó thấy rải hoa cúng
Trống Trời tự nhiên vang
Cúng dường đức Bồ Tát
Khen ngợi cùng tán thán
Việc khó làm như thế
Để thành tựu thiện pháp
Mau chứng quả Bồ Đề.

2. Bấy giờ vua Lãm Vương nghe Phật thuyết pháp xong cúi đầu lạy tạ rồi trở về nước phát tâm cúng dường trai Tăng thỉnh Phật đến chứng minh. Đại hội tán thán Phật Mẫu Chuẩn Đề vô lượng công đức Đà Ra Ni tâm chú, Ba ngàn thánh chúng phát Bồ Đề tâm. Tám vạn người đặng pháp Tổng Trì , hàng Thanh Văn Duyên Giác được pháp Bất Thóai Chuyển. Các vị đại Bồ Tát thượng thủ ghi nhận lời Phật dạy tín thọ phụng hành.

Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ NHẤT

Quốc độ trung thiên, từ Khổng Tước đản sinh, khi khôn lớn xuất gia tầm chơn lý. Ba phen tầm tu học đạo, chẳng rõ được pháp báu, vào rừng vắng tịnh tu nơi Mật Hạnh. Giác ngộ bừng sáng. Hàng phục Khổng Tước Vương thành Phật Mẫu Chuẩn Đề. Mười phương chư Phật tiếng vang đồn rộng khắp. Tế độ Uất Đơn Hầu, Hắc Long đều qui phục. Trí tuệ lớn gồm thâu.

Nammô Thường Trụ Thập phương Phật
Nammô Thường Trụ Thập phương Pháp
Nammô Thường Trụ Thập phương Tăng
Nammô Chuẩn Đề Vương Phật (3 lần)
(Hết Phẩm Thứ Hai)




Sửa lần cuối bởi minhthien vào ngày Chủ nhật 20/11/11 20:51 với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 13/11/11 23:37 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ HAI
BỒ TÁT VÂN TẬP PHẨM THỨ BA
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN – THIỀN NHÂN

Lúc bấy giờ nơi thế giới Liên Hoa Tạng trên mành lưới báu bỗng nhiên xuất sinh ánh sáng lớn chưa từng có, sáu điệu vang động lên, tất cả các loài hoa báu phát ra mùi thơm vi diệu. Bồ Tát Sư Tử Hoa Tạng Lễ nơi chân Phật Tỳ Lô Mâu Ni Kim Cang đi nhiễu ba vòng, rồi ở giữa đại chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di và Bát-Bộ Kim-Cang Thần mà bạch rằng:
- Thế Tôn! Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề nơi thế giới Tổng Trì hay thị hiện mười tám cánh tay sắc vàng phát ra muôn đạo hào quang diệu huyền. Hiện nay Phật ấy đang nhập vào chánh định mật môn đệ nhất Viên-Minh-Bố-Liệt Phạn Thơ-Đồ khó tu khó ứng dụng, sở hành đa dạng, sức biến hóa tự tại vô cùng tận, trí huệ bậc nhất thu nhiếp chúng sinh nơi pháp giới mà vẫn lặng im thanh thản dường như hư không. Chúng con muốn đến đó để viếng thăm và cúng dường, xin Phật từ bi chấp thuận cho. Xin Phật từ bi chấp thuận cho… Đức Phật Tỳ-Lô Mâu-Ni Kim-Cang mỉm cười im lặng nạp thọ lời thỉnh cầu ấy.
Ở nơi thế giới Bảo Tòa Kim Cang có đức Bồ Tát thượng thủ tên là Thánh Sư bỗng thấy ánh sáng màu xanh biếc chiếu diệu ở trong chúng hội. Đức Bồ Tát đến đảnh lễ đức Mật Âm Đại Oai-Đức Như-Lai rồi bạch rằng :
- Ngưỡng bạch đức Thế Tôn! Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề thị hiện mười tám cánh tay sắc vàng phóng ra muôn đạo hào quang vân tập các vị đại Bồ Tát. Chúng con chưa từng thấy sức đại tự tại mạnh nhanh trang nghiêm quốc độ bằng ánh hào quang sáng suốt, trong hào quang có vô số cõi Phật đang ngự, hàng Bồ Tát vây quanh làm hàng cây báu, tiếng linh báu ca ngâm, tiếng tỳ bà, ống tiêu, ống địch hòa reo nhẹ nhàng thư thái. Xin đức Phật mở lòng bi mẫn cho con được đến đó cúng dường Phật Mẫu Chuẩn Đề. Phật im lặng nhận lời thưa thỉnh. Bồ Tát Thánh, sư nói kệ rằng;

1. Xin Phật mở lòng thương
Cho chúng con thăm viếng
Cúng dường Phật Chuẩn Đề
Chổ trang nghiêm hiếm có
Hay tàng trữ Mật-Pháp
Bí yếu khó lường được
Diệu môn Đà Ra Ni
Kim-Cang đại phương tiện
Nơi chánh định im lặng
Như hư không vô tận
Xuất sinh phạn thơ đồ
Ma ha Phật đảnh chú
Tiếng thanh tao lạ tường
Các trói buộc ghê sợ
Quỉ quái cùng hổ dữ
Nghe tiếng đều qui phục.
2. Cõi Trời Đại-Tự-Tại
Thích, Phạm cùng Ma chúng
Đang rãi hoa cúng dường
Trãi số trăm nghìn kiếp
Các hoa héo lại nở
Các hương thơm xuyên suốt
Khiến mười phương cõi Phật
Thảy đều biết mùi ấy
Thật vi diệu khó lường
Xin Phật cho chúng con
Đến cúng dường Phật Mẫu

Lúc ấy ở phương Nam nơi thế giới Siêu Độ có Bồ Tát thượng thủ tên là Thiên Tịnh Chủ bạch cùng đức Thiên-Thượng Tổng-Trì Phật rằng :
- Thế Tôn ! Nơi thế giới Tổng-Trì đức Phật Mẫu Chuẩn Đề đang thị hiện thần biến tướng phát ra mười tám cánh tay sắc vàng chiếu khắp cả mười phương cõi nước, ý muốn vân tập chư đại Bồ Tát thượng thủ. Nay xin đức Thế Tôn cho con đến cúng dường vị Phật có sức thần thông lớn, sức oai đức mạnh nhanh, trang nghiêm các cõi Phật độ không ai sánh bằng. Chư Thiên, Nhân cùng tám bộ Quỉ, Thần đều rải hoa cúng dường, đồng phát ra lời ca tụng ngơi khen, trong hào quang xuất sinh bốn loại sen báu xanh, đỏ, trắng, vàng mùi thơm lạ thường. Xin Phật mở lòng lân mẫn chấp nhận và hộ niệm cho.
Đức Phật Thiên Thượng Tổng-Trì im lặng. Bồ – Tát Thiên-Tịnh-Chủ nói kệ khen rằng :

1. Đức Phật lòng lân mẫn
Hay cứu khổ chúng sinh
Chúng con nhở đuốc tuệ
Thắp sáng ngọn đèn pháp
Lưu bố cả Thế Gian
Trời, Người, Rồng, Quỷ, Thần
Cả thảy đều quy phục
Tín ngưỡng và tán thán
Nghe pháp như say đắm
Quên mất việc làm ác
Bậc xuất thế cao thượng
Chẳng nhiễm chút trần nhơ
Chúng sinh mê tục lụy
Sinh lòng yếu mỏi mệt.
2. Phật dạy thóat sinh tử
Diệt ba độc phá nghi
Chỉ có Phật với Phật
Mới hiểu được việc này
Chúng con thường điên đảo
Nay thế giới Tổng-Trì
Chuẩn Đề Phật vi diệu
Chúng con lòng tham chấp
Muốn làm pháp cúng dường
Xin Phật hộ niệm cho.

Ở phương Bắc nơi thế giới Mỹ-Âm có Bồ Tát thượng thủ tên là Mật Ngữ Đà La Ni bạch cùng đức Phật Diệu-Ấn-Tướng rằng :
- Bạch đức Thế Tôn ! Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề nơi thế giới Tổng-Trì đang thị hiện mười tám món thần thông, ánh sáng chiếu thông cả mười phương thế giới, các cõi Phật quốc đều được trang nghiêm, trong hào quang có vô số hóa Phật. Các chúng Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di và Bát-Bộ Kim-Cang Thần vây quanh các đức Phật. Chư Thiên cõi Trời, Người rưới hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn thù sa khắp cùng cõi nước. Nay con thấy điềm lành này kính mong Phật từ bi thương xót giúp thần lực cho con đến cõi nước ấy mà cúng dường nơi Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Lúc ấy Phật Diệu-Ấn-Tướng im lặng nhận lời đó. Bồ Tát Mật ngữ Đà La Ni nói kệ khen Phật :

1. Thấy Phật lòng thanh tịnh
Trãi qua vô số kiếp
Mói được gặp một lần
Như sa mạc rớt mưa
Cõi trần gian tham đắm
Chúng sinh ưa nghĩ tưởng
Chạy theo hướng ngũ dục
Không hay trong sinh tử
Nhiều cạm bẫy bỏ thân
Chúng con nay được phước
Nương nhờ nơi Phật độ
Lòng thanh tịnh nhẹ nhàng
Dứt mọi sự lo sợ
Đấng cha lành Tam giới
Vui ưa vào thiền định
Chúng con muốn nương theo
Nay nghe Phật Chuẩn Đề
Thị hiện tướng oai đức
Chúng con muốn chiêm ngưỡng
Gần gũi để cúng dường
Mong Phật hộ niệm cho

Bấy giờ, ở phương Đông nơi thế giới Đại-Bảo có Bồ Tát Pháp Mật là bậc thượng thủ đúng đầu trong chúng bạch cùng đức Phật Liên Hoa Vương rằng :
- Thế Tôn ! Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề đang hiện tướng thần thông biến hóa khắp mười phương cõi nước, ánh sáng chiếu diệu như một mành lưới lan rộng ra khắp hư không đại địa, trong ánh sáng có vô số vị hóa Phật, các hàng Bồ Tát vây quanh vòng trong vòng ngoài tứ phương theo hình viên minh rất lớn. Các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni tụng thần chú Mật Pháp Chuẩn Đề như đang vào nơi thiền định. Các hàng Cận Sự nam, Cận Sự nữ, Trời, Rồng, Thần, Quỉ đều rải hoa cúng dường cung kính ủng hộ. Rất mong Thế Tôn thương tưởng mà cho chúng con đến thế giới Tổng-Trì của Phật Mẫu Chuẩn Đề để cúng dường. Xin đức Thế Tôn thọ nạp lời thỉnh cầu tha thiết này.
Đức Phật Liên-Hoa-Vương im lặng nhận lời. Bồ Tát Pháp Mật nói kệ khen rằng :

1. Ánh sáng Phật chiếu diệu
Soi thấu suốt chúng sinh
Thoáng qua nhẹ nhàng đến
Sáu loài chúng sinh thảy
Như tắm ánh hào quang
Bỏ quên các khổ não
Vui ưa và muốn thấy
Cảm niệm ý không rời
Chúng con hàng Bồ Tát
Giữ y báo chánh báo
Thấy việc khó làm này
Siêng tu quên cực khổ
Nay gặp Phật nghe pháp
Lòng đã nhuốm đầy đủ
Gặp Phật rất ít thấy
Rất mong đức Thế Tôn
Cho con được cúng dường
Chuẩn Đề Phật vi diệu
Mong Phật lân mẫn cho

Ở thế giới Tây Phương có đức Bồ Tát thượng thủ tên là Đại Bi Quán Thế Âm bạch cùng đức Vô Lượng Thọ Phật rằng :
- Thế Tôn ! Nay đức Phật Mẫu Chuẩn Đề đang quay mạnh bánh xe pháp để nhắc nhở hàng Đại Bồ Tát thủ trì giáo môn Mật Tông nên hiện thần biến tướng thi triển mười tám món thần thông, chính là vì để vân tập các hàng Bồ Tát ở mười phương thế giới. Trong háo quang có vô số vị hóa Phật và Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, Trời, Rồng, A-Tu-La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân Phi, Nhân… v.v… đang vi nhiễu chung quanh đức Phật thành một vòng tròn lớn, trong hư không có hoa rải xuống, tiếng ca ngâm đàn sáo, tiếng linh báu hòa reo cúng dường nơi thân cửa đức Phật Mẫu Chuẩn Đề. Kính xin đức Thế Tôn từ bi thọ nạp lời thỉnh cầu, cho con được đến chỗ Phật đó để cúng dường.
Đức Phật Vô-Lượng-Thọ từ bi im lặng nhận lời. Bồ Tát Quán-Thế-Âm nói kệ khen Phật rằng :

1. Đức Thế Tôn vô thượng
Dung nhan sắc tốt đẹp
Trí đại hùng đại lực
Hay cứu khổ thế gian
Việc làm hiếm ít thấy
Khiến trời, Người kính phục
Tu công hạnh khó làm
Nhẫn trì nhiếp Mật pháp
Bố Pháp thật kiên cố
Tinh tấn vượt ba cõi
Khiến pháp Ma qui thuận
Trời rưới hoa cúng dường
Im lặng như hư không
Tam muội không chen lộn
Bụi trần đều biến mất
Nay Chuẩn Đề Phật Mẫu
Hiện các món thần biến
Phóng vô lượng hào quang
Trong mỗi tia hào quang
Hóa ra vô số Phật
Để vân tập Bồ Tát
Chúng Thanh Văn Duyên Giác
Số đông vô cùng tận
Nhạc Trời tự nhiên vang
Tiếng trống, đàn hòa tấu
Dùng để cúng dường Phật
Xin với Đức Thế Tôn
Thọ nạp lời thỉnh cầu
Cho con viếng Phật đó.

Bấy giờ, các vị Bồ Tát mười phương thấy ánh sáng của Phật Mẫu Chuẩn Đề chiếu đến cùng cõi quốc độ của mình; các vị Bồ Tát thượng thủ đồng đến thỉnh cầu đức Phật của mình xin đến tham dự cúng dường nơi Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Giữa hư không trỗi các kỹ nhạc, hương hoa, lọng phướn, cờ bốn màu xanh, đỏ, trắng, vàng. Mỗi vị thượng thủ Bồ Tát của mỗi vị Đức Phật đều có các thất bảo khác nhau mỗi thứ đều đẹp lạ màu sắc cổ kính, cách trang nghiêm y phục cùng các Loại sen báu cũng đều khác nhau. Các tướng chính của mỗi vị oai đức đoan nghiêm, tướng phụ như hình long phụng uy nghi tự tại. Khi ấy Phật Mẫu Chuẩn Đề thu nhiếp các vị hóa Phật ở mười phương thế giới trong khoảng sát na cùng với mười tám món thần thông, rồi nhập vào môn Tam Muội Quán-Đảnh Tâm Chú :
“Án ma ha tát đa bát đát ra”
an nhiên tự tại giữa đại chúng hơn năm nghìn người. Bốn bộ chúng thấy việc từ xưa đến nay chưa từng có mà sinh lòng nghi hối.
Ông Uất-Đơn-Đầu cung kính tin chắc nơi đạo vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên cùng với đại chúng hữu nhiễu ba vòng cúng dường nơi thân Phật. Trên hư không các vị thượng thủ Bồ Tát đều rải hoa cúng dường nơi thân Phật rồi đồng tiếng nói kệ khen rằng :

1. Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương
Tiếng vang dội bốn phương
Sức thủ trì Mật chú
Nơi mật tịnh tam muội
Mạnh nhanh khó nghĩ bàn
An nhiên không chướng ngại
Vân tập cả đại chúng
Bồ Tát khắp mười phương
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni
Ưu-Bà-Tắc, Bà-Di
Trời, Người cùng Quỉ, Thần
Ca Lầu Na, Khẩn Na La
Với Ma Hầu La Già
Nhân và phi Nhân thảy
Đủ Bát-Bộ Kim-Cang
Khiến đó được hiểu đạo
Mà tu tập pháp môn
Tuyên bày tạng Bí Mật
Trong đời cả Trời, Người
Không ai hay làm nổi
Khai mở đạo giải thoát
Vẹt bóng mờ vô minh
Giữ gìn Luật nghi giới
Thanh tịnh pháp đà la
Ra vào nơi ba cõi
Không lường sức thần bí
Qua lại ở mười phương
Chư Phật đồng khen ngợi
Bồ Tát hay tín ngưỡng
Giúp chúng sinh thấy đạo
Ưa vui phát lòng từ
Tu tập hạnh chất trực
Mà ngộ pháp chân thường
Siêng năng cùng tinh tấn
Mật định trí phát ra
Thần lực vô cùng tận
Huệ mầu soi sáng khắp
Chúng sinh ưa pháp nhỏ
Chẳng biết gì mê, ngộ
Ưa vui chọn ngũ dục
Phật khéo dùng phương tiện
Dẫn dắt ra ba cõi
Độ tất cả chúng sinh
Mà hiện tướng thần biến
Chúng con hàng Bồ Tát
Từ xa mới đến đây
Chúc tụng rải hoa cúng
Để chiêm ngưỡng lễ bái
Và xem cõi Phật tịnh
Phát huy đạo vô thượng
Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

Hết Phẩm Thứ Ba

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
PHẨM MẬT HẠNH BỒ TÁT THỨ TƯ
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN – THIỀN NHÂN

Lúc bấy giờ Chư Đại Bồ – Tát ở mười phương thế giới đều là bậc thượng thủ ngự trên hư không nói kệ tán thán công đức của Phật Mẫu Chuẩn Đề vừa xong. Các vị Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật vi nhiễu ba vòng đồng quỳ xuống hiệp chưởng hướng Phật khác tiếng đồng lời bạch rằng :
- Ngưỡng bạch, đức Đại Thánh Chuẩn Đề Vương Phật. Chúng con vâng mệnh đức Thế Tôn từ nơi bản quốc đến đây kính lễ thưa hỏi Phật thân tâm có thư thái không? Có ít bịnh ít não chăng? Chúng sinh có dễ độ chăng? Chuyển lời đức Thế Tôn chỉ dạy chúng con nương nơi thần lực mà đến đây thưa hỏi.
Kính mong Phật từ bi chỉ dạy phương tiện tu hành thiết thực để chúng con học hỏi những điều chưa học tập và tu tập những pháp còn thiếu sót, xin đức Phật mở lòng rộng độ mà hứa khả cho, xin đức Phật mở lòng rộng độ mà hứa khả cho…
Bồ Tát Kim Cang Mật Tích vì chúng Bồ – Tát ở mười phương mà nói kệ khen rằng :

1. Oai nghi rất đẹp lạ
Tướng tốt phước trang nghiêm
Thị hiện khác phàm phu
Do công hạnh tu tập
Cần khổ nơi ức kiếp
Nghiệp đạo sâu vô lượng
Bỏ thân thể đáng yêu
Hy sinh không lẩn tiếc
Làm lợi ích chúng sinh
Để cầu vô thượng đạo
2. Các Bồ – Tát thượng thủ
Việc làm đã đầy đủ
Hôm nay đến viếng Phật
Ngỏ lời tán cúng dường
Chuẩn Đề Chân Phật Mẫu
Trí cầu tạng Bí-Mật
Tỳ lô đại quán đảnh
Xuất sinh nhất nghĩa chú
Nhập tam muội thành tựu
Không lường muôn ức cõi
Thoáng qua như hư không
Độ ba cõi sáu đường
Nơi địa ngục đau khổ
Sức chuyên trì chú độ
Khổ luyện thành tinh tấn
Nhập định chuyển diệu âm
Đà-Ra-Ni hộ pháp
Chúng Ngạ Quỉ nghe thấy
Cổ họng nở to ra
Lưu thông sự ăn uống
Nhập vào định Ác Thú
Đà-Ra-Ni ngữ ngôn
Loài súc sinh chuyển động
Kiếp thú mau chuyển hóa
Thoát khỏi mê ác hại
Nhập vào định vô tâm
Đà-Ra-Ni vô ảnh
Chúng cõi trời mê đắm
Ngũ dục trói buộc nhau
Liền thức tỉnh rời bỏ
Mà theo tu đại đạo
Nhập vào tịnh Toái-Trừ
Đà-Ra-Ni vô trước
Bứt rơi các phiền não
Thanh tịnh nhẹ hư không
Xú uế liền tan biến
Cõi nhân đều cung kính
Nhập vào định giáng bạt
Đà-Ra-Ni đại chú
Các sân nộ tiêu diệt
Ánh mắt khởi lòng từ
Gươm đao buông xuống đất
Chư Quỉ Thần qui phục
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề
Thần lực như thế đó.

Bấy giờ Ông Uất-Đơn-Đầu cùng bốn bộ chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di và chúng hội Trời, Người, Quỉ, Thần… mà bạch Phật rằng :
- Thế Tôn ! Chúng con hàng hữu học, chưa từng thấy sự cảm ứng diệu dụng mạnh nhanh của các vị đại Bồ – Tát thượng thủ ở mười phương thế giới câu hội đến trong pháp hội này. Lại thưa hỏi những điều chưa từng có dịp nghe Phật chỉ dạy cho hàng Bồ – Tát, rất mong Thế Tôn thọ nạp lời thỉnh cầu của chúng con.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề từ nơi tam muội Du Hí Đà Ra Ni Giáng Bạt Chú Đại Vũ nhẹ nhàng xuất định mà mở bày pháp âm phương tiện dạy cho tất cả đại chúng rằng :
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Lời của Phật nói ra đều đúng đắn không hư dối. Đúng như vậy ! Như Lai là đấng ứng cúng chánh đẳng giác, thân tâm ít bịnh, ít não, các phiền trược nhiễm nhơ đã quét không còn chừa. Các pháp Như Lai đã được như đang ẩn hiện trước mắt không bị lệch lạc. Như Lai thị hiện ra cõi đời ác ngũ trược chính là vì có nhân duyên căn lành lớn đối với chúng sanh nơi quốc độ này. Nay ta đem pháp Bí-Mật của giáo môn chỉ dạy riêng cho hàng Bồ Tát để lưu bố kinh này và tất cả chúng sinh trong pháp giới nơi mười phương cõi được sự lợi ích lớn. Sự lợi ích lớn này trong tánh của Như Lai là một sự bất động vĩnh cửu khó ai bì kịp.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Pháp Bí Chú của giáo môn Mật Tông xưa nay có tướng mà chẳng phải tướng, vì đó là tường hư ảo chẳng phải chân thiệt. Tướng chân thiệt không thể dùng mắt mà thấy được, không thể dùng tai mà nghe được… v. v… cho đến không thể dùng ý mà suy nghĩ được.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Pháp Bí Yếu của giáo môn mật Tông xưa nay có tính mà chẳng phải tính, vì đó là tính hư ảo chẳng phải là chân thật tính. Tính chân thật không thể dùng mắt mà thấy được, không thể dùng tai mà nghe được… v. v… nhẫn đến không thể dùng ý mà suy nghĩ được.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Pháp Bí Chú của giáo môn Mật Tông xưa nay vốn có tướng mà tướng bất hư, vì tướng này không ở ngoài, ở trong hay khoảng giữa. Tướng bất hư này không thể dùng mắt mà thấy, không thể dùng tai mà nghe được… v. v… nhẫn đến không thể dùng ý mà suy nghĩ được.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Pháp Bí Chú của giáo môn Mật Tông xưa nay có tính mà tính bất diệt, vì tính này không ở ngoài ở trong hay khoảng giữa. Tính bất diệt này không thể dùng mắt mà thấy, dùng tai mà nghe được… v. v… nhẫn đến không thể dùng ý mà suy nghĩ được. Cho nên pháp tướng và pháp tính của giáo môn MậtTông chỉ có Phật với Phật mới hiểu nhau mà thôi. Các hàng Thanh Văn Duyên Giác không thể hiểu được. Duy có hàng Bồ Tát nương nơi sức thần của chư Phật mới có thể biết được tính tướng chân thật của các pháp.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Pháp tướng Đà-Ra-Ni vốn không diêu động, Thanh Tịnh Đại Cú Nghĩa không thể nghĩ bàn, chưa từng luận thuyết là chỗ sâu mầu tiềm tàng ẩn chứa không thể đến được. Pháp tướng này khó tu khó học, hay xuất sinh các môn Tam Muội Biến Pháp Giới, giúp cho người tu hành nhanh chóng thành tựu môn Tổng-Trì- Đà-Ra-Ni. Pháp tướng Đà-Ra-Ni này ở nơi thế gian hay bị kẻ ác phê phán, Trời, Người không hiểu biết ưa vui thử thách, vì Pháp tướng này chẳng xuất sinh, chẳng biến hiện, chẳng hư ảo chẳng đến đi. Pháp tướng này không bị người tu và kẻ chẳng tu làm tốt làm xấu, làm cho thanh tịnh mà được, vì Pháp tướng này chẳng xuất sinh, chẳng biến hiện, chẳng hư ảo chẳng đến đi. Pháp tướng này không bị người tu và kẻ chẳng tu làm tốt làm xấu, làm cho thanh tịnh mà được, vì Pháp tướng này chẳng bị ô hợp bởi phiền não vọng chấp, chê bai hay bỏ quên, nên gọi Pháp tướng ấy là một trong những tạng Bí Mật khó tu khó học và khó thành tựu. Pháp tính ấy cũng lại như vậy.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Trong thời kỳ Mạt Pháp nơi quốc độ Thiện Vô Úy ở thế giới Bảo-Đài. Bấy giờ đức Phật Hoa Đăng Vương đã nhập diệt hơn ba ngàn tiểu kiếp. Lúc ấy ta mới sinh trở lại nước Nhân-Đà nơi thế giới Bảo-Đài tu hành Bồ Tát đạo, gặp lúc đất nươc bị hạn hán, thủy triều dâng cao làm trôi dạt tài sản, ruộng vườn, voi ngựa v..v… bị cuốn trôi theo dòng nước. Nhân dân đói khổ lầm than không nơi nương tựa, bệnh dịch nổi lên, tai ách họa hoạn rất nặng nề.
Lúc ấy ta vì tất cả chúng sanh mà thủ trì tu tập pháp tướng Đà-Ra-Ni nơi thần chú Tài-Bảo chân ngôn :
Úm hoa ti ra, hoa ti ra, hoa ta ra hùm phấn tra ….
Trong một thời gian ngắn khiến các vị thần cảm đức đều đem đến cúng dường tài bảo vật thực nơi thân ta. Bấy giờ các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di thấy ta có nhiều tài bảo vật thực như thế, đều rủ nhau xa lánh, họ nghĩ ta chẳng còn chí tâm tu hành nữa. Nhân đó ta đem của cải ấy mà phân phát cho bách tính để cứu khổ do thiên tai gây ra.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Không phải ta chỉ mới tu tập bài thần chú mầu nhiệm này, mà ta đã từng nhiếp tâm tu tập vô lượng đại thần chú của giáo môn Mật Tông và đến nay đã thành tựu quả vị Tô-Tất-Địa. Vì do sức trì niệm mạnh nhanh như thế, nên ta đã cụ túc mười tám tay sắc vàng óng ánh, trên đỉnh môn lúc nào cũng ẩn hiện chữ
( Án Bộ Lâm – Án A Hồng).
Đó là những tướng pháp của giáo môn Mật Tông mà ta đã không ngần ngại giữ gìn suốt trong vô lượng kiếp, thân và tâm không hề chán mỏi.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Lúc ta hành đạo Bồ Tát nghe Mật Chủ Đạo Sư Đức Phật thuyết về tạng Bí Yếu của chư Phật và dạy cho ta chuyên trì thần chú Tỵ hỏa Đà Ra Ni. Vì sơ ý bỏ quên, nên khi mạng chung ta sinh vào cõi nước có thế giới là Đa-Hỏa, kiếp tên là Hửu Hoại, quốc độ Đại Linh Ứng là chổ có nhiều tai nạn đất nứt, lửa cháy, nước trôi, và đầy rẫy nạn binh đao.
Thế giới Đa Hỏa không có Phật, không có hiền Thánh, chúng sinh ngu si chỉ biết sát hại lẫn nhau, hận thù, máu và khói lửa là món ăn chính. Bấy giờ ta ra đời trong dòng dõi Thủ Đà La, thấy dân chúng bị đói khổ vì tai nạn nước lửa nặng nề, nên ta thưa cùng với Cha Mẹ đem của ra bố thí. Không bao lâu của cải hết sạch, Cha Mẹ ta chịu không nỗi sự đói khổ nên đã qua đời. Ta âm thầm vào rừng cạo bỏ râu tóc mặc y phấn tảo ngồi nhập định dưới cây đại thọ. Khi ta nhập vào môn tam muội Định Phân Thủy Đà Ra Ni thời nước liền rút xuống đất và trở về nguồn. Nhưng lửa đã làm khô mặt đất nhanh chóng khiến cho loài người và súc vật đều bị chết lần chết mòn không thể chịu đựng lâu được. Nhà cửa, đền đài, cung điện, vườn cây, ruộng lúa và các nơi cư trú đều bị lửa thiêu. Sức nóng tỏa ra càng lúc càng mạnh mẽ. Chỗ ta ngồi tu cỏ cây đều biến thành màu vàng úa và bốc cháy thành từng cụm, mồ hôi nơi thân thể của ta chảy liên tục. Xác người chạy đến bên ta ngã chết không kể xiết. Trãi qua hơn một tháng ta không có gì để ăn và uống chỉ còn lại bộ xương gầy mặt mày hốc hác, hơi thở yếu ớt. Cây đại thọ cũng vàng úa không còn lá xanh, ta dùng dao cắt vỏ cây để vắt nước mà uống, rồi ngồi kiết già nhập vào tam muội Tỵ Hỏa Đà Ra Ni, nhưng không đạt được. Quá thất vọng và kiệt sức, trong cơn hôn mê ta thấy đức Đại Nhật Như Lai rải lên thân thể ta một dòng nước tịnh thủy, rồi dạy cho bài thần chú Chuẩn Đề :

Khể thủ qui y Tô-Tất-Đế
Đầu diện đỉnh lễ thất cu chi
Ngã Kim xưng tán Đại Chuẩn Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha.
Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha.

- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Do nhân duyên ấy, khi ta tỉnh lại thời thấy thân thể phấn chấn khỏe mạnh cơ hồ như trong giấc chiêm bao. Lửa bốn phía càng cháy mạnh, xác nhiều người bị lửa dữ thiêu rụi thành than.
Ta liền ngồi xếp bằng kiết già niệm thần chú Chuẩn Đề hơn một nghìn biến lửa dữ bị xô bạt bốn phía an lành. Có nhiều người chạy thoát khỏi lửa đến gần bên ta tức thời được êm mát nhẹ nhàng dường như thoát nạn. Bấy giờ ta liền thúc liễm thân tâm nhập vào đại định Chuẩn Đề Bản-Tôn Đà-Ra-Ni khiến cho trời đất trở lại quang đãng khí hậu điều hòa, cây cối hoa lá trở lại xanh tươi, nhưng chúng sinh chết vô số kể. Từ đó nạn kiếp thiêu mới chấm dứt.
Do lẽ ấy mà ta tôn trọng bài thần chú Chuẩn Đề và phát nguyện tu tập trong hằng hà sa ức kiếp đến khi thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác được chư Phật mười phương ca ngợi và thọ ký cho ta thành Phật hiệu là Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Không phải ta thành tựu thần chú Chuẩn Đề vi diệu Đà-Ra-Ni này ở nơi thời chánh pháp, mà ở trong hiền kiếp ta vì tôn trọng đức Đại Nhật Như Lai mà thủ trì tu tập và làm lợi ích cho vô lượng chư đại Bồ Tát chư hiền Thánh Tăng cùng với Trời, Người, tám bộ quỉ, Thần và được tất cả chúng sinh phát tâm tu học theo con đường của giáo môn Mật Tông mầu nhiệm này.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề vừa nói xong, ngài Đại Luân Kim Cang Thủ Bồ Tát cùng chư Thiên Nhơn rải hoa cúng dường. Ngài Kim Cang Mật Tích Bồ Tát nói kệ khen Phật:

1. Đức Chuẩn Đề Phật Mẫu
Bậc tối thượng Đại Thánh
Thủ trì pháp vô ngại
Đà Ra Ni bổn tôn
Nơi Phật Đảnh quang minh
Sắc vàng kim óng ánh
Mũ Tỳ-Lô chiếu diệu
Sức Đại Mật hàng Ma
Nhẫn tu phương tiện pháp
Bỏ thân vô số kiếp
Để cúng Phật và Tăng
Siêng hành Bồ Tát đạo
Nghiệp duyên lành cùng dữ
Báo ứng có chậm nhanh
Sức tinh tấn uyển chuyển
Chẳng thóai chẳng sợ sệt
Các côn trùng cỏ cây
Nghe tiếng mầu vi diệu
Mật giáo đại thần bí
Thác sinh đều tiến hóa
Cọp, Voi, Beo, Sư Tử
Bồ Cạp, Nhộng, Rắn Rết
Hoặc Ly Mỵ Võng lượng
Nghe âm thanh mật chú
Bỏ ác đều quy thuận
Sự nhiệm mầu khó bàn
Diệu chú, Quán Đảnh chú
Bi chú, Thanh Tịnh chú
Nhất chú, Vô Lượng chú
Diện chú, Thâm tâm chú
Thiên Thủ, Thiên Nhãn chú
Nhập tam muội Từ Tôn
Im lặng hằng muôn kiếp
Thí ác năng bỏ ác
Chí tâm hành Mật Pháp
Chẳng ai thấu hiểu được
Phiền não hay tảo trừ
Hết lòng tế độ chúng
Tu món pháp vô lượng
Nguyện sẽ thành Phật đạo.
2. Thế gian nhiều đau khổ
Biết khổ vui giải thoát
Đại chúng lễ cúng dường
Bậc Tối Thượng Đạo-Sư
Đã lìa sự khủng bố
An nhiên định tâm chú
Đà Ra Ni tổng trì
Vui vẻ khắp đại chúng
Lòng Tham lam dập tắt
Lửa dữ cõi trần mê
Thoáng biến vào hư không
Mật pháp hàng Ma Pháp
Diệu pháp phục Quỉ-Mỵ
Đạo pháp trừ khổ não
Chư Phật hằng khen ngợi
Đệ nhất Đại Tổng Trì
Viên Minh Mật Tạng chú
Oai đức lớn trùm khắp
Hư không cùng vũ trụ.
3. Tiếng Án, ôm, Um, Um
Các thế giới chuyển động
Khơi lòng từ lân mẫn
Nơi chúng sinh cư ngụ
Khiến đó phát tâm lành
Tu tập món Mật Giáo
Hiển chú đại chân ngôn
Sức oai thần chú võ
Thông suốt các tiếng tăm
Sáu loài chúng sanh thảy
Địa Ngục, Quỉ, Ác Thú
Thảy đều đến qui phục
Trên suốt Trời Cứu-Cánh
Dưới đến ngục A-Tỳ
Năng trừ tai gió lửa
Hoặc kiếp nạn thiêu đốt.
4. Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề
Khi hành Bồ Tát đạo
Dùng tâm từ bố thí
Khiến chúng sinh qui ngưỡng
Dùng tâm bi, trì giới
Phá mê đặng giác ngộ
Dùng tâm hỉ, nhẫn nhục
Vượt chướng ngại vô minh
Dùng tâm xả, tinh tấn
Chuyên cần nơi đức hạnh
Dùng tâm bất động chuyển
Nơi mật định nghiêm trì
Khiến đó đặng huệ pháp
Rồi nương Đại Tâm chú
Cúng dường Phật và Tăng
Chư Thiên Long ủng hộ
Hoa rưới như trái núi
Ủng hộ người trì chú
Tán dương đại công đức
Trống Trời tự nhiên vang
Âm nhạc nhẹ êm dịu
Để cúng Phật và Tăng
Xuyên suốt pháp mãi mãi
Nhơn duyên từ nơi Phật
Chuyển đạo từ nơi pháp
Tu tập nhờ nơi Tăng.
5. Nên đức Phật Vũ Trụ
Mở bày đại thần chú
Thọ ký nơi thân ta
Thành Phật Mẫu Chuẩn Đề
Mười phương các đức Phật
Khen ngơi đồn vang khắp
Vô lượng chúng Trời, Người
Quy- y pháp Mật Giáo
Khó nói khó nghĩ bàn
Chứng vào môn Tam Muội
Thành Vô Thượng Chánh Giác.

2. Bấy giờ các vị đại Bồ Tát ở mười phương nghe lời dạy của Phật Mẫu Chuẩn Đề thảy đều đặng pháp Vô Thượng Đà Ra Ni thành tựu Tam Muội Chuẩn Đề Bản Tôn, vi nhiễu ba vòng rải hoa cúng dường thành kính nói kệ khen Phật :

3. 1. Đấng Tỳ-Lô Mật-Tạng
Chiếu soi rõ chân pháp
Đà-Ra-Ni Tịnh Địa
Vượt khỏi pháp Thế gian
vững chắc như Tu-Di
Trùm khắp các Phật-Quốc
Công đức thật vi diệu
2. Chúng con hàng Bồ Tát
Nương Phật lực đến đây
Thấy nghe học pháp mầu
Tâm tư mau lắng đọng
Ít có khó nghĩ bàn
Khiến vào các Tất Địa
An ổn cả đại chúng
Trời, Người đều tin hiểu
Vui mừng thấy được Phật
Quy-y Pháp mầu nhiệm
Viên thành Tối Chánh Giác.

4. Các vị đại Bồ Tát thượng thủ nơi mười phương cúng dường tán thán Pháp Phật vừa xong, rồi làm Lễ đức Phật Mẫu Chuẩn Đề xin trở về bản quốc. Sáu ngàn chúng Thanh Văn được pháp hỷ Đại Tổng Trì. Ba nghìn Bồ Tát được môn Tam Muội Mật Định Bổn Tôn, vô lượng Thánh chúng trong pháp hội đều vui mừng đặng pháp chưa từng có của giáo môn Mật Tông. Tất cả đều tín thọ phụng hành rồi cáo lui.

Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ HAI

Thế Tôn hiển thần thông, chuyển động mười phương cõi. Bồ Tát nghe tiếng tăm, viếng Phật cầu Phật mở lòng từ. Bánh xe pháp xoay mạnh, mở bày tướng chân thật của giáo môn. Nước Nhân Đà hành đạo Bồ Tát. Kiếp Hữu Hoại, Đức Đại Nhật Như Lai truyền Mật Giáo, kiếp thiêu chấm dứt Chú Tổng Trì gợi khơi cơn Mật Định.

Nammô Thường Trụ Thập phương Phật
Nammô Thường Trụ Thập phương Pháp
Nammô Thường Trụ Thập phương Tăng
Nammô Chuẩn Đề Vương Phật (3 lần)
(Hết Phẩm Thứ Tư)



KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ BA
TẾ ĐỘ Ô NẪU VƯƠNG PHẨM THỨ NĂM
Mật sư: Thích Giác Tiến – Thiền Nhân

Khi ấy vào tiết mùa đông, đức Phật Mẫu Chuẩn Đề ngự tại rừng Uôn-Ba thuyết về tạng Bí-Yếu của giáo môn Mật Tông. Một hôm có Tỳ Kheo Sim-Sum Pa đi đến nhiểu quanh Phật ba vòng rồi quỳ xuống chắp tay bạch rằng :
- Ngưỡng bạch đấng Đại Thánh Thế Tôn! Hôm nay có nhân duyên lành, hàng Tỳ kheo chúng con số đông vô lượng, nay xin đức Thế Tôn lập ra giáo hội Tăng Già để có người trông coi trước sau tiện lợi cho việc đi lại tu hành trong chúng và giúp cho chúng con bớt phần lo lắng mệt nhọc, ngưỡng mong Thế Tôn từ bi hứa khả lời cầu xin tha thiết này.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề im lặng không đáp. Tỳ Kheo Sim-Sum Pa tác bạch ba phen thưa thỉnh. Bấy giờ Phật vì ông mà mở lời dạy bảo :
- Này Tỳ Kheo Sim-Sum Pa! Những lời giáo hóa vi mật thậm thâm của ta hằng dạy cho các ông từ trước đến nay đều nhắm vào một hướng tu thân và tâm. Hôm nay duyên cớ gì ông xin ta thành lập Giáo Hội ? Giáo Hội Du Già Tỳ Kheo Tăng đã thành lập từ lâu rồi, ông không biết hay sao? Ta đã làm những chỗ không cần làm, vì đó chỉ là hình thức mà thôi. Nếu các ông không chịu tu hành thì thành lập Giáo Hội có ích lợi gì? Ông hãy lo tu hành đi đừng nên vọng tưởng quá đáng sẽ có hại cho tinh thần tu tập. Bấy giờ Phật nói kệ rằng :

1. Hỡi này các Tỳ Kheo
Chớ nên nhiều lo lắng
Bỏ đi các tục đế
Mà nhẫn tu Mật Pháp
Phiền não là cơ nguy
Đưa người đến chổ ác
Kẻ trí nên tránh khỏi
Chẳng lầm chẳng thay đổi
Ai biết được việc này
Tinh tấn khéo tu tập
Như Lai thường tán thán
Công đức chẳng nghĩ bàn.

2. Nói xong Phật im lặng vào thiền định Mật Giáo Môn Tam Muội Đà-Ra-Ni. Ông Tỳ Kheo Sim-Sum Pa biết không lay chuyển được Phật nên ngài cúi đầu lễ Phật rồi lui ra bên ngoài hiệp cùng ông Diêm Đê Ra Tỳ Kheo và năm trăm vị Tỳ Kheo lặng lẽ rời chỗ Phật ngự ra đi thành lập Giáo Hội riêng biệt. Bấy giờ Ông Uất Đơn Đầu hay tin ấy bèn cùng đại chúng đến bạch Phật rằng :
- Kính bạch đức Đại Thánh Thế Tôn ! Ông Tỳ Kheo Sim-Sum Pa và ông Tỳ Kheo Diêm Đê Ra đã hội hợp năm trăm vị Tỳ Kheo vừa rời khỏi đại chúng mà ra đi. Xin Thế Tôn dạy rõ nguyên nhân nào đã khiến cho các thầy Tỳ Kheo làm như thế ?
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề ở giữa đại chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di mà dạy rằng :
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhơn ! Các ông nên biết đường Chân Lý khó đi dễ bị thóai tâm. Người tu hành khó sửa tính ý thanh tịnh, những hạng người biết tu hành rất hiếm ít trong nhân gian, còn những người không tu thời rất nhiều không thể tính đếm thí dụ cho được. Nay ta đem thí dụ để chỉ rõ nghĩa trên. Ví như bọn thương thuyền thích ham sóng gió, bão táp, ngọc ngà, châu báu ..v.v.. nên họ rủ nhau làm thủy thủ sống giữa biển cả.
Kẻ cờ bạc ham mê đỏ đen thời chỗ họ thường đến là sòng bài .v.v… Những hạng người này trong chốn nhân gian rất đông. Những người Hiền Sĩ tìm cầu Thiện Hửu-Tri-Thức thời lại rất hiếm ít. Nay Ông Sim-Sum Pa cùng với năm trăm Tỳ Kheo hẹn ước nhau bỏ đi đó là điều tất yếu so với ví dụ của ta. Nếu năm ngàn người trong pháp hội này muốn bỏ đi, ta cũng không ngăn cản được, vì sự giác ngộ và mê mờ không có chổ nương gá, nên không ai có thể phủ nhận việc làm của mình khi đã lỡ gây ra. Tỳ Kheo Sim-Sum Pa ao ước lập ra Giáo Hội, nhưng ta ngăn cản là để trừ vọng nghiệp của vị Tỳ Kheo này, còn các thầy theo ta tu tập công hạnh Bồ Đề số đông vô kể, như vậy ta tuy không lập Giáo Hội Du Già, mà thật ra đó mới chính là Giáo Hội Du Già vậy. Phật Mẫu Chuẩn Đề nói kệ rằng :

3. Hạnh Phật xưa nay đã sẵn rồi
Thực hành tu tập khó xét soi
Trí nhân nghe thấy đều đúng đắn
Lo việc tịnh tu thoát luân hồi
Sống chết lại qua trong chớp mắt
Có ai hiểu được khéo dừng thôi
Lập nguyện chí tu hồi hướng chúng
Giác mê nào khác chổ đứng ngồi.
Các thầy Tỳ Kheo nghe lời Phật chỉ dạy đúng với chân lý, khiến cho đại chúng và Ông Uất Đơn Đầu sinh lòng quý trọng sâu xa, phát tâm vô thượng Đà-Ra-Ni tu hành không thóai chuyển ghi nhận những lời Phật chỉ dạy mà y giáo phụng hành.
Khi ấy ông Sim-Sum Pa rời khỏi rừng Uôn-Ba đến núi Lâu Phất Già dựng lập Giáo Hội, đặt để quyền hành hung hăng ngang ngược khiến cho hơn ba trăm người hiểu được lời Phật dạy quí báu ban đầu mà quay về rừng Uôn-Ba.
Tỳ Kheo Sim-Sum Pa không ngừng tạo tội ác, ông cho người giao hảo với vua đại ác tên là Ô-Nẫu-Vương tính ưa chinh phạt, lúc nào thân vua cũng ngồi trên lưng ngựa mang theo cung kiếm, dao nhọn để sát hại kẻ trái nghịch làm vui. Dân chúng trong nước Lan-Ca-Lan bị vua áp bức lưu đày kẻ có tài, phụ nữ có nhan sắc bị đưa vào cung. Cư dân ngoài biển bị khổ sai mò ngọc chết chóc không cùng. Tiều phu trong rừng núi bị sai đi đào vàng kiếm sừng, ngà voi đem về kho tàng lưu trữ. Học trò không được vào trường, bắt làm khinh binh, sách vở bị đốt. Bà già phụ nữ, trẻ con đều lùa ra ruộng đồng cày cấy vất vả có đốc phu đánh đập sai khiến rất là tệ bạc, cơm không đủ ăn. Dân chúng than oán thấu tận trời xanh.
Bạo chúa này có một người con trai là Thái Tử Ô-Phiến, lúc sinh ra và lớn lên tính ý hiền hậu thường khuyên cha dừng bớt việc làm phi nhân phi nghĩa. Nhưng vua Ô-Nẫu-Vương không nghe, trái lại trong lúc nóng giận đã toan giết chết Thái Tử. Do đó vua ít gần gũi Thái Tử, những việc làm độc ác đều giữ kín không cho Thái Tử biết, sợ ngài ngăn cản mà hỏng việc đại sự.
Lúc ấy Tỳ Kheo Diêm Đê Ra thừa hành lệnh của Tỳ Kheo Sim-Sum Pa đến nước Lan-Ca-Lan, Kinh Thành tên là Diêu-Ác do vua Ô-Nẫu-Vương thống lĩnh cải sửa danh hiệu Tỳ Kheo Diêm Đê Ra đến diện kiến Ô-Nẫu-Vương, rồi dùng lời xúi giục khiến cho vua nổi giận. Ô-Nẫu-Vương liền hẹn ước với Tỳ Kheo Sim-Sum Pa sẽ bất thần tấn công vào rừng Uôn-Ba để chinh phạt Phật Mẫu Chuẩn Đề. Tỳ Kheo Diêm Đê Ra nghe lời ấy xong vui mừng đứng dậy cáo lui.
Trên đường về núi Lâu Phất Già, Tỳ Kheo Diêm Đê Ra đi ngang qua ngôi làng Khon-Sa-Bút gặp một thiếu nữ sắc nước hương trời tên là Ma La La. Tỳ Kheo Diêm Đê Ra thuyết phục dụ dẫn khiến cho thiếu nữ Ma La La sinh lòng cảm mến. Thiếu nữ về xin cha mẹ đi theo Tỳ Kheo Diêm Đê Ra làm tín đồ của Giáo Hội Du Già do Tỳ Kheo Sim-Sum Pa chỉ đạo đứng đầu. Những cơ hội ác đã đến, Tỳ Kheo Sim-Sum Pa quên lời Phật dạy sanh ác tâm, có tham vọng muốn chiếm đoạt cả đại chúng của Phật Mẫu Chuẩn Đề, nên tự xưng mình là Giáo chủ Sim-Sum Pa chí tôn, ngầm cho người đến rừng Uôn-Ba gặp ông La Hán Uất-Đơn-Đầu hợp tác với Giáo Hội Du Già bằng những lời khuyến dụ.
Nhưng Ông Uất-Đơn-Đầu đã từ chối và im lặng. Giáo Chủ Sim-Sum Pa sai Tỳ Kheo Diêm Đê Ra dẫn thiếu nữ Ma La La sang rừng Uôn-Ba để phá hoại công hạnh của Phật Mẫu Chuẩn Đề, đồng thời ước hẹn với vua Ô-Nẫu-Vương xua binh mã tàn sát khu vực rừng Uôn-Ba chỗ Phật đang ngự cùng với bốn bộ chúng.
Lúc bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề từ nơi chánh định dậy an lành, rồi bảo các thầy Tỳ Kheo rằng :
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Các ông hãy y theo giáo môn Mật Tông này của ba đời chư Phật, an trú tâm mình vào con đường Thánh Thiện thanh cao, phiền não của các ông sẽ xoay chiều chuyển động như cái chong chóng, rối loạn tơi bời không còn hàng ngũ, như kẻ bại trận, chỉ còn con đường duy nhất là phải quy thuận chánh niệm Mật Pháp.
Đây là lời của ta đã nói cũng như lời của bảy mươi ức câu chi đức Phật đã nói trong sự quyết định để cho hàng Thanh Văn, Duyên Giác các ông tu tập, biết được tâm mình như đang soi gương đẹp xấu tự rõ nét.
- Này Thiện Nam Tử ! Thiện Nữ Nhân ! Những ai tự gieo điều ác cảm phiền não cho riêng mình, kẻ ấy như người mù loạng choạng té xuống bùn nhơ, trần lao vọng nghiệp rất nặng, đời đời sinh ra không thấy đạo Chánh-Giác, ví như người mù suốt đời không thấy được ánh sáng. Nếu có thấy đó chỉ là một cơn ảo giác huyễn mộng.
Chúng sinh khi tạo tội ác dù lớn hay nhỏ cũng đều ham thích, họ tạo tác một cách mù quáng mà không biết tai nạn sẽ đến trong khoảnh khắc. Chư Phật đã tự rõ biết tâm mình và tâm chúng sinh mà hằng ban bố cho Pháp hỷ Thanh-Tịnh Đà Ra Ni, cho bầu diệu dược Thánh Thiện mật ngôn, cho pháp Đà Ra Ni chú mênh mông để che đậy tội lỗi và ảo giác quán.
- Này các thầy Tỳ Kheo ! Các thầy biết cái nhân khổ là khổ khổ thì tu tâm tức là hết khổ, vì khổ ấy không có nguồn gốc, mà tâm ý vốn dĩ vô căn. Hai thứ này gặp nhau đối trị thời cái khổ nhân liền tan biến, cái tâm tu cũng không còn, chỉ còn khoảng không vắng lặng. Sự im lặng đó chính là chữ Om nằm trên đỉnh môn, cũng là tạng Bí Mật Du Gìa của giáo môn Mật Tông vậy.
- Này các thầy Tỳ Kheo ! Các thầy biết cái quả là khổ thời chớ nên gieo cái nhân khổ. Do chẳng gieo nhân nên cái quả khổ chẳng từ đâu mà sinh. Hai thứ này bị cắt đứt nguồn gốc cái khổ liền tan biến, mà cái tâm cũng không còn, chỉ còn khoảng không vắng lặng. Sự im lặng đó chính là chữ Om nằm trên đỉnh môn, cũng là tạng Bí-Mật Du-Già của giáo môn Mật Tông.
- Này các thầy Tỳ Kheo ! Các thầy biết tạo lành là cái nhân vui giúp đỡ chúng sinh, nên nỗ lực tu hành. Cái nhân vui này vốn dĩ không có nguồn gốc và tồn tại không bao lâu. Tính và tướng không có chỗ trụ nên cái nhân vui liền tan biến, cái tâm tu cũng không còn, chỉ còn khoảng không vắng lặng. Sự im lặng đó chính là chữ Om nằm trên đỉnh môn, cũng là tạng Bí Mật Du Già của giáo môn Mật Tông.
- Này các thầy Tỳ Kheo ! Các thầy biết đạo lành là cái quả vui giúp đỡ chúng sinh nên nỗ lực tu hành. Cái quả vui này vốn không có nguồn gốc và tồn tại không bao lâu. Tính tướng không có chỗ trụ nên cái quả vui liền tan biến, cái tâm tu cũng không còn, chỉ còn khoảng không vắng lặng. Sự im lặng đó chính là chữ Om nằm trên đảnh môn cũng là tạng Bí Mật Du Già của giáo môn Mật Tông vậy.
- Này các thầy Tỳ Kheo ! Các thầy thường an trụ trong chánh niệm giải thoát Đà Ra Ni môn để tảo trừ vọng nghiệp điên đảo. Lúc vọng tưởng biến mất thời chánh niệm cũng không còn, chỉ còn bầu vắng lặng hư không tĩnh mịch. Đây gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Tam-Muội Đà Ra Ni.
Cũng ví như ta nói Pháp các thầy Tỳ Kheo lắng nghe, khi ta nín nghĩ, thì lời nói của ta và cái nghe của các thầy cũng không còn. Chỉ còn lại sự im lặng rỗng không đầy đủ thiện mật Trí Huệ Đà Ra Ni mà thôi.
Ông Uất-Đơn-Đầu muốn khai thông nguyên lý của pháp tu hành cho chính mình và tất cả đại chúng trong Pháp hội. Ông vi nhiễu ba vòng rồi quỳ xuống bạch Phật rằng :
- Ngưỡng mong đấng thánh chúa Sư Tử chỉ dạy cho chúng con. Bạch Thế Tôn ! Nếu hư không là chỗ vĩnh hằng thị tịch Niết Bàn, thì riêng ai cũng sẵn có. Vậy phiền não ô nhiễm cả đời con người khi chết lại trở về hư không, vậy thì cần gì phải tu, cần gì phải học, cần gì phải nỗ lực tu tập giáo môn cực khổ này ?
Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề chỉ dạy đạo toàn chân :
- Này Ông Uất-Đơn-Đầu ! Ông chớ nên nói sự nỗ lực tu tập nơi giáo môn này là cực khổ. Theo nghĩa ông hỏi như thế là chẳng đúng. Con người lúc sinh ra không biết gì tự chiêu cảm lấy ác nghiệp, đến khi gặp Thiện Trí Thức được giác ngộ bỏ ác nghiệp mà tu hành.
Như vậy hai hoàn cảnh trái nghịch nhau, một bên là vắng lặng thanh cao, một bên là dẫy đầy ác nghiệp điên đảo sầu thương. Nếu đem so thì sẽ thấy rất rõ rệt. Các ông chớ vội cho cái tính này không bị ô nhiểm là lầm lẩn, mà phải nói sự ô nhiễm này không chừa một ai cả. Chỉ khi nào hành giả biết tu và tự tu thời tâm tính mới được nhẹ nhàng thư thả vắng lặng. Đây gọi là Tam Muội Tịch Tà Biến Pháp Giới Đà Ra Ni Cú, mà hàng Thanh Văn Duyên Giác cần phải tu cần phải học. Bấy giờ Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề liền nói kệ rằng :

1. Này các thầy Tỳ kheo
Trong hằng sa số kiếp
Ta vì pháp bỏ thân
Tìm cầu trong vũ trụ
Đạo chánh để tấn tu
Nghe đạo tâm an lạc
Bỏ quên các vật chất
Thấy đạo lòng hân hoan
Quên cả mọi cảnh vật
Hy sinh không lẫn tiếc
Giác ngộ cảnh vô thường
Tâm ta hằng lắng đọng
Mê đạo chẳng mê ăn
Ham tu chẳng ham ngủ
Dù mạt Pháp đã đến
Chánh đạo chẳng lưu truyền
Vì cần cầu đạo cả
2. Vấn thân khắp bốn phương
Để tầm bậc đạo sư
Thân thể dù yếu đuối
Sắp chết hồn lìa xác
Thâm tâm vẫn kiên cố
Bền chặt chí không phai
Vì để cầu chánh Pháp
3. Hỡi Nam Tử ! Nữ Nhân !
Lời Phật không hư dối
Chẳng phỉnh nịnh gạt người
Kẻ chẳng biết ưa vui
Thử thách việc ta làm
Vì đạo ưa tu đạo
Bỏ thân thể đáng yêu
Thế gian vua cõi chết
Vô thường đến dẫn dắt
Nào ai tránh khỏi được
Thấy chết mà chẳng chết
Vì để cầu chánh Pháp
4. Các thế giới mười phương
Qua lại trong chớp mắt
Thọ mạng rất bền chắc
Cũng không ai hay biết
Việc của Phật đã làm
Dù sinh ở cõi Trời
Cũng chẳng màng địa vị
Nhớ đạo lòng bỏ ác
Tìm đạo thí công lao
Qui ngưỡng Thiện Tri Thức
Tập rèn luyện chịu khó
Dậy sớm lúc thức khuya
Thân thể tuy mỏi mệt
Mà thân tâm kiên cố
Vì để cầu chánh Pháp
5. Mỹ Pháp và Hải Pháp
Ảo Pháp thuật Tổng Trì
Chân Pháp thành Pháp Báu
Tạng Pháp cùng Mật Pháp
Định Pháp, Vắng Lặng Pháp
Các Pháp tướng như thế
Phương tiện tu phạm hạnh
Chẳng sợ chẳng chướng ngại
Bi Pháp và Từ Pháp
Mẫn Pháp, Đại Chú Pháp
Toái Pháp, Hàng ma Pháp
Chuẩn Đề Viên Định Mật
Từ vô lượng ức kiếp
Trở lại vẫn còn thừa
Sức tu trí không nản
Thân mệt, tâm chẳng phai
Thế gian nhiều sự ác
Nối nhau thành hiểm họa
Thấy chúng sanh đau khổ
Sáu nẻo cùng ba đường
Chẳng bao giờ ngưng dứt
Kiếp số không cùng tận
Thấy chúng sinh tạo tội
6. Như Lai vì đó nói
Diệu nghĩa của các khổ
Khiến đó liền quy thú
Các Tỳ Kheo phá giới
Nghe tịnh pháp ta nói
Ngẫn ngơ xin về nương
Đạo có nghĩa thường còn
Ham đắm mà bắt lấy
Như nắm vào khoảng không
Chẳng hiểu được đạo Phật
Vô thường tuy có nghĩa
Sự thật vốn xưa nay
Không ai không chấp nhận
Nhưng nghĩa đó chẳng có
Vì mê nên lầm lẫn
Pháp chẳng luận vô thường
Hai nghĩa này khác xa
Nên gọi là chân Nghĩa
Chú Nghĩa Đà Ra Ni
Tổng Trì các Mật Nghĩa
Thu gọn trong Diệu Pháp
Trãi qua hằng sa kiếp
Cũng vì cầu chánh pháp
Như Lai hành Mật Pháp
Chuẩn Đề Định Bản Tôn
Do lòng tin sâu chắc
Ý chí lại kiên cường
Nhẩn tu lòng chẳng sợ
Quy-y các đức Phật
Trời, Người rãi hoa cúng
Âm nhạc tự nhiên vang
Sáu loài chúng sinh thảy
Nghe tiếng chú vang dội
Thức tỉnh nhẹ an vui
Tự nhiên đặng giải thoát
7. Ta tầm cầu chánh pháp
Dù thân thể đáng yêu
Bị tàn tật, câm, ngọng
Điếc, lác hoặc gù lưng
Bị kẻ hại đánh đập
Bức tử uống thuốc độc
Không thể cầm cự lại
Vẫn không thể bỏ quên
Con đường sáng chân lý
Của các Phật ba đời
Hôm nay giữa pháp hội
Ta thành Tối Chánh Giác
Chính nhờ sức bền trí
Không lay cũng không chuyển
Trãi qua vô ức kiếp
Thành vô thượng Bồ Đề.

Thuyết xong lời kệ pháp, Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề nhập vào Tam Muội Đệ Nhất Ngữ Ngôn Đà Ra Ni không gián đoạn. Khi ấy ven rừng Uôn Ba Ô-Nẫu-Vương cùng với đoàn quân thiện chiến cung tên giáo ngắn giáo dài hơn mười nghìn người kéo đến định tàn sát phá hoại chổ tu hành của Phật để cho Giáo chủ Sim Sum Pa được thống nhất Giáo Hội chư Tăng.
Bấy giờ đức La Hán Thiên Long hành giả trong cơn thiền định sâu thẳm vào môn Tam Muội Ly Ác Chư-Thiền Đà Ra Ni quên tất cả cảnh vật bên ngoài, thân và tâm bất động. Lúc ấy ở ven rừng Uôn-Ba đoàn quân của vua Ô-Nẫu-Vương kéo đến uy hiếp La Hán nhưng không thành, chúng lấy giáo đâm vào đùi vào lưng vào bụng máu chảy đầm đìa mà La Hán vẫn giữ gìn vị trí của Đại-Tam-Muội. Quân sĩ về cấp báo cho vua biết, vua Ô-Nẫu-Vương thân hành đến, vứa thấy La Hán Thiện Long, vua rút tên lắp vào dây cung bắn liền ba phát, tên ghim sâu vào thân của La Hán, máu tiếp tục thi nhau chảy ra rất nhiều, mà La Hán vẫn giữ vững thân mình trong cơn đại định.
Khi ấy nơi cung Trời Đế Thích đức vua đang ngự tại Thiện Pháp Đường để xem kinh thư, bỗng nhiên có ánh sáng từ đâu chiếu đến thân vua, Khiến cho vua cảm thấy làm lạ. Vua Đế Thích Tiên-Chủ liền cùng với các vị Đế Thích xem xét ánh quang minh, thấy đức La Hán Thiện Long đang tu hành nơi đại tịnh tam muội bị nhiều người đến gần toan ác hại. Tiên-Chủ Đế Thích lấy nước tịnh thủy rải lên người của đức La Hán khiến cho cung tên đều hóa thành bông sen, máu biến thành sữa.
Vua Ô-Nẫu-Vương vô cùng kinh ngạc và tức giận cùng với quân sĩ áp đến định giết La Hán lần thứ hai. Nhưng lòng đất tự nhiên chuyển động dữ dội, đất nứt nẻ thành một bờ vực thẵm sâu hút chôn sống vua Ô-Nẫu-Vương và cả đoàn quân. Đức La Hán Thiện-Long sinh tâm từ lớn cầu Phật mở lòng bi thương xót cứu vớt chúng sinh.
Tức thời ngài nương theo thần lực của Phật thị hiện thần thông hóa ra hai bàn tay lớn đưa vua Ô-Nẫu-Vương và cả đoàn quân lên khỏi mặt đất. Mặt đất từ từ khép lại như cũ, vua Ô-Nẫu-Vương sợ hãi kinh cuồng quỳ xuống chắp tay sám hối, cả đoàn quân cũng đều làm như thế. Tiên chủ Đế-Thích khiến các vị trời rải hoa cúng dường La-Hán rồi trở về Thiên Cung. Bấy giờ vua Ô-Nẫu-Vương bạch cùng ngài Thiện Long Tôn Giả rằng :
- Ngưỡng bạch đức La-Hán Đại Tôn Giả ! Tôi từ xưa đến nay chưa từng thấy người nào có tâm tốt cùng sức thần thông tự tại như thế. Rất mong ngài chiếu cố cho bọn chúng tôi được quy-y cải tà quy chính sám bỏ lỗi lầm ngày hôm nay.
Ngài La Hán Thiện Long ôn tồn chỉ dạy :
- Xin Đại Vương hãy đến sám hối với Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề, tôi nay nhờ nương oai thần của Phật mà được những sự không thể nghĩ bàn như thế. Đức La Hán nói kệ rằng :

Oai đức đại dũng mãnh
Thắng phục sự kinh sợ
Sự ác đều lui tán
Gương Phật rất trong sáng
Suốt thấu như lưu ly
Khó bì hạnh vô thượng
Trí Phật không nao núng
Hổ lang rất nguy hiểm
Dường tợ như chỗ không
Phật là đấng đại giác
Bước đi nhẹ trang nghiêm
Trời người đều kính phục
Mắt Phật rất chiêu cảm
Tận đáy lòng chúng sinh
Các tướng tốt đẹp lạ
Khiến cả ác ngơ ngác
Nghe pháp âm vi diệu
Bỏ gươm giáo quy y
Đại vương nên viếng Phật
Để nghe lời chỉ dạy
Cao Thượng khó nghĩ bàn.

Nghe bài kệ ấy xong, vua Ô-Nẫu-Vương vì kính mến công hạnh của ngài Thiện Long Tôn-Giả nên ưng thuận đến đảnh Lễ Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề để quy-y sám hối.
Đức vua cùng mười vạn binh sĩ đồng đến chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt chẳng tạm rời đồng cất tiếng bạch rằng:
- Chúng con xin quy y Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề.
Chúng con xin quy-y Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề.
Lúc bấy giờ, Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề ở nơi tam muội đại định mà dậy an lành. Ngài Thiện Long Tôn Giả tác bạch duyên sự của vua Ô-Nẫu-Vương, rồi thưa hỏi rằng :
- Bạch đức Đại Thánh Thế Tôn! Hàng đệ tử chúng con do vô minh che đậy không biết lỗi lầm phạm phải tội ác. Nay tỉnh ngộ lòng ăn năn muốn rửa sạch tội lỗi.
Kính mong Phật vì tất cả chúng con ban bố pháp lành dạy cho cách quy-y sám hối tu hành thiện nghiệp, để cho chúng con có chổ quy thú về nương. Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề vì bốn bộ chúng và vua Ô-Nẫu-Vương mà mở lời dạy rằng :
- Này Đại vương nên biết! Nếu có Trang Nam Tử, Thiện Nữ Nhân nào hay quy thú thiện pháp Mật Giáo Môn Du Già Đệ Nhất Căn Bản Bản Tôn Đà Ra Ni chú này, thời thường sinh căn lành tính tâm vững chắc, tội lỗi mau được rửa sạch tiêu trừ không còn hoạnh tử khổ đau nũa. Nếu người đó biết xả bỏ quá khứ ác, vật ác, hành động ác, cử chỉ ác, tôi tớ ác, bạn ác v.v… Đây gọi là môn Ly Chư Ác Thú Tam Muội Đà Ra Ni, rất được Người, Trời và thế gian tôn trọng. Ở thời hiện tại và vị lai cũng lại như vậy.
- Này Đại Vương nên biết! Người quy y sám hối là người biết sửa tâm ác thành tâm thiện đây gọi là Tổng-Trì Đà Ra Ni Chú.
Người không biết quy-y sám hối sửa tâm chân chính đánh mất căn lành đây gọi là tính phàm phu. Người biết ăn năn sám hối sửa tâm chân chính, được một thời gian ngắn tự nhiên buông bỏ Pháp sám hối thi hành tội ác, đây là người thiếu nghị lực không đủ sức mạnh kiềm chế hành động của mình.
Người biết ăn năn sám rửa lỗi lầm hay có tâm tỉnh ngộ cho kẻ khác bằng hoàn cảnh ác khiến kẻ đó phát tâm Bồ-Đề vun trồng cội phúc, tín căn tinh tấn, người này rất hiếm quý trong chốn nhân gian là vị Bồ-Tát nghịch cảnh ưa hành đạo khó hành.
- Đại Vương nên biết! Ngươi biết sửa lỗi lầm quay về nẻo chính cải ác thành thiện tinh tấn lướt lên, dùng sức mạnh lương tâm vượt qua tất cả chướng ngại khổ đau và hoàn cảnh nghịch trong hiện tại, cố gắng khắc phục để tu hành hóa độ chúng sinh không mỏi mệt trong hiện tại.
Những hạng người này rất hiếm quí trong chốn nhân gian có một công hạnh cực kỳ quý báu, đó là nhờ tu tập Mật-Giáo Môn Tam-Muội Đà Ra Ni vậy.
- Này Đại Vương! Bản lai con người sinh ra không có tính ác. Bản Lai Thánh-Hiền sinh ra không có tính thiện. Đó là do tập nhiễm tính khí của con người có sai khác nhau về hoàn cảnh thiện ác, luân lý và đạo đức mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu cần phải học.
Ngài Thiện Long Tôn Giả lại bạch Phật rằng :
- Bạch Đức Đại Thánh Thế Tôn! Ngưỡng mong Phật từ bi chỉ dạy cho chúng con được biết ác ở đâu mà có, thiện ở đâu mà sinh? Tập nhiễm là cần hay không cần? Tánh khí chúng sinh hay thay đổi, làm sao quyết định được là người giác ngộ hay còn mê mờ ?
Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề nghe xong lời tác bạch, ngài khen ngợi đức Tôn Giả Thiện Long rồi dạy rằng :
- Này Thiện Long Tỳ Kheo! Cái tâm ác mà có chẳng phải tự sinh, cái tâm ác tự sinh chẳng phải là tự có. Do lẽ này hai nghĩa trái nhau, người làm ác biết mình không cố ý nên mới có chổ sám hối.
- Này Thiện Long Tỳ Kheo! Cái tâm thiện mà có cũng chẳng phải tự sinh, cái tâm thiện tự sinh cũng chẳng phải là thật có. Bởi vì hai nghĩa này trái nhau, nên người tu thiện khi vận công phu tu tập có thể mất tâm Bồ-Đề nếu gặp nghịch cảnh, mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải chú ý điểm này.
- Này Thiện Long Tỳ Kheo! Tập nhiễm thói quen tức là có hại, dù thiện hay ác cũng thế. Ví như người đánh xe ngựa đi trên con đường rộng và bằng thẳng. Nếu người ấy có thói quen cho ngựa hướng về bên phải mà chạy, tức thời cả người lẫm ngựa đều rơi xuống lề đường, nếu lái cho ngựa chạy về bên trái cũng lại như thế. Nhưng người có trí biết đánh ngựa đi theo con đường rộng và thẳng không có thói quen hướng về bên trái hay bên phải nên người ấy đi suốt cả chặng đường dài theo ý muốn của mình.
Do đó mà biết rằng tập nhiểm dù tốt hay xấu cũng đều lọt vào thói quen tai hại, chỉ có duy nhất để tâm thanh tịnh là quí báu hơn hết. Này Thiện Long Tỳ Kheo! Tính khí con người không có gì quyết định được, trừ khi bản thân tự quyết định cho mình một hướng đi trung đạo đến vô thượng chánh-Đẳng Chánh Giác mà thôi. Bấy giờ đức Phật trùng tuyên lại nghĩa kệ rằng :

1. Chư Phật cả ba đời
Y theo Pháp Mật Giáo
Đà Ra Ni Tối-Thắng
Mà viễn ly ác nghiệp
Lìa bỏ các tập khí
Chủng tử dễ ô nhiễm
Đánh đấm đâm giết chết
Thuốc độc và cạm bẫy
Bài bạc, rượu chè chén
Dối gạt thích dua nịnh
Mỵ bày việc hung hiểm
Thích dục lòng ưu vui
Sống ác chẳng biết ác
Gần tội chẳng biết tội
Chẳng biết được chân lý
Nhận kẻ dữ làm thân
Chẳng phân biệt phải trái
Mà tạo tội vô lượng
Do vô minh che đậy
Kẻ phàm tục đê mê
Danh lợi mồi cám dỗ
Làm hại nhiều thế nhân
Bạc ác và phi nghĩa
Như thú dữ rình mồi
Chẳng thiết gì mạng sống
Thế gian nhiều đau khổ
Chất chứa nhóm phiền não
Như dao cắt vào thân
Mình mẩy đều thương tổn
Máu chảy tuôn xối xã
Kẻ ngu ham nương gá
Tội khổ tự chuốt lấy
Bởi vô minh làm hại
2. Chẳng thấy được đạo nghĩa
Gốc tham vua lớn nhất
Giục giã kẻ trần mê
Chạy vào đường ác đạo
Thi đua rất hăng hái
Dù chết cũng cam lòng
Như thiêu thân vào lửa
Chẳng biết gì khổ chết
Thế gian ưa vật dục
Kẻ mê mẩn đáng thương
Loay hoay không định hướng
Bởi vô minh làm hại
3. Tội nghiệp tuy chưa có
Mà nay đã sẵn chờ
Chúng sinh nhiều si mê
Theo đường ác ghê sợ
Lấp ló những tà kiến
Vọng chấp theo điên đảo
Tự cho là đúng đắn
Chẳng biết các quả báo
Chiêu cảm từ nơi thân
Tham dục theo bóng sắc
Ảo vọng và cuồng nhiệt!
Bởi vô minh làm hại
4. Các Tỳ-Kheo nên biết!
Dầu làm ác rất lớn
Mà nó chẳng đến đâu
Mục đích không định hướng
Nên lọt vào nhân quả
Tội báo không cùng tận
Kẻ trí biết tội lỗi
Chỉ một lần quay đầu
Bến giác sẽ gồm thâu
Các ác nghiệp lắng động
Lần hồi mau tan biến
Như mây che ánh trăng
Mây tan gió thổi đến
Trăng sáng chiếu mênh mông
Trí Phật cũng như thế
Từ bi vô chướng ngại
Diệu dụng dạy chúng sanh
Cứu thoát tam đồ khổ
Tuy làm việc khó làm
Chư Phật đủ bi nguyện
Cảnh tỉnh lòng nhân thế
Không thêm cũng không bớt
Xoa dịu vết thương đau
Tắm rửa căn nhơ đục
Siêng năng thường tu tập
Hàng phục các phiền não
Trở thành ý Thánh Pháp
Dụ dẫn các tà kiến
Ác kiến và biên kiến
Xảo kiến cùng dục kiến
Chấp kiến, nghịch kiến thảy
Đều trở thành đạo bạn
Việc khó làm như thế
Trời người không làm được
Nên khiến người tu tập
Được công đức xuất thế
Gọi đó là chư Phật
Nhổ được gốc sinh tử
Nguyên nhân tạo các khổ
Bứng được cội phiền nảo
Tập chủng các nghiệp ác
Mà viễn ly thế gian
Viên thành vô thượng đạo.
Nam mô Chuẩn-Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)

Hết Phẩm Thứ Năm



Sửa lần cuối bởi minhthien vào ngày Chủ nhật 20/11/11 20:50 với 3 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 13/11/11 23:40 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN
QUYỂN III
TÀM QUÝ PHẨM THỨ SÁU

Khi Phật Mẫu Chuẩn Đề thuyết xong lời kệ pháp, vua Ô-Nẫu-Vương thâm tâm bỗng nhẹ nhàng phát sinh thiện cảm, hối hận ăn năn tội lỗi đã gây ra, bèn qùy xuống trước Phật mà bạch rằng :
- Ngưỡng mong đấng Đại Bi Cứu Thế! Cho tôi được sám rửa lỗi lầm. Tội lỗi của tôi rất nặng, xin đấng Đại Hùng Thế Tôn cứu vớt linh hồn tôi ra khỏi sự đau khổ đang dày vò trong lương tâm tôi không phút giây ngừng nghĩ, ví như cá đã cắn câu.
Nay ác tâm của tôi dẫy đầy liệu có thể sám hối được chăng? Kính mong Phật từ bi chỉ dạy những phương pháp lành cho tôi được giải thoát.
Bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề đưa ánh mắt dịu hiền nhìn vua Ô-Nẫu-Vương, rồi phóng một đạo hào quang như mũi kim phớt qua đầu của vua rồi thu lại nơi con mắt giữa nhanh chóng. Phật quan sát căn cơ thuở quá khứ của đức vua rồi mở lời dạy rằng :
- Này Đại Vương! Người chớ nên bi quan quá lắm! Trên thế gian này không ai tránh khỏi những điều khổ não ác trược. Lúc làm anh hùng thời ấy mình oai phong, lúc bị nhục nhã thời thấy mình thua trận, lúc lương tâm cắn rứt thời thấy mình cần sự sám hối.
Đại Vương nên biết! Tội lỗi sinh ra ít hay nhiều đều do bản thân mình gây ra, muốn hết tội lỗi cũng do mình biết quay đầu sám hối, còn việc tội nặng hay nhẹ là do sức chí tâm cần cầu sám hối tức thời mau hết nghiệp, nếu không chí tâm sám hối thì nghiệp ác vẫn đeo mang hoài.
Nơi dương thế người đời còn tha thứ cho kẻ biết ăn năn, huống chi ở trong giáo pháp của Như Lai lại không có chỗ dung chứa Đại Vương hay sao? Đại Vương nên cởi bỏ những điều ô nhục càng sớm càng tốt. Hiện tại Đại Vương có dịp tốt cho bản thân là cần cầu đạo pháp. Tại sao Đại Vương lo sợ như thế?
Chính lúc này Đại Vương cần phải bình tỉnh nhận xét rõ cái tội cái phước để tu thân sửa tâm. Ngai vàng của Đại Vương từ xưa đến nay tô điểm bằng cái gì, mà hôm nay Đại Vương phải ăn năn ? Đại Vương gặp được Như Lai tại sao muốn sám hối và từ bỏ?
Đại Vương hãy quyết định cho mình một hướng đi thời Đại Vương sẽ thành công.
- Này Đại Vương nên biết! Kẻ phạm tội không cần người xử tội, vì kẻ ấy đã có lương tâm phân xử rồi. Còn người ăn năn tội lỗi tu hành thời trước sau đều không xử được.
Ví như Đại Vương phạm tội trước triều thần bá quan văn võ, lúc ấy chẳng ai dám phân xử Đại Vương. Người sám hối ăn năn tu hành bỏ ác hành thiện cũng lại như thế.
Này Đại Vương! Người biết tu tâm sửa tính không luận là quan quân vua chúa, dân giả, cùng đinh v.v… Nếu người ấy có tâm quay đầu hướng thiện dày công đức tập thân tâm thời không có gì quí báu hơn, kẻ có một sức mạnh vạn năng thắng Phục được ngoại cảnh và nội tâm tiêu trừ tội lỗi. Kẻ đó rất nên tôn trọng là bậc thầy của chúng sinh vậy.
- Này Đại Vương! Thần chú Chuẩn-Đề vi diệu pháp môn Đà Ra Ni này đã từng độ cho bảy mươi ức câu chi đức Phật và vô lượng chúng sinh trong pháp giới phát tâm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, năng trừ tiêu ba nghiệp tham sân si, mạn nghi tà kiến.
Thần chú Chuẩn-Đề có một sức mạnh vô bờ bến làm cho mọi người ưa vui tu hành, dễ diệt nghiệp ác không thóai chuyển, chúng sinh hay tôn thờ lễ kính cúng dường ngợi khen tôn trọng tán thán. Hôm nay Đại Vương rất được hân hạnh tắm mình trong biển huệ Phật pháp mênh mông. Vậy Đại Vương còn chần chờ gì nữa!?
BồTát Đại Luân Kim Cang muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng :

1. Thế Tôn đức trí diệu
Bậc thầy rất khả kính
Thường ở nơi đại định
Vắng lặng nhẹ rỗng không
Ác nghiệp đều dập tắt
Nhờ Mật Hạnh thần chú
Chuẩn Đề diệu Bổn Tôn
Oai đức vô cùng cực
Món pháp môn Tối Thắng
Quí báu sức dường biên
Vào cõi ác thị hiện
Tam Muội Đại Hỏa Đầu
Tam Muội Đức Ly Cẩu
Tam Muội Mật Liên Trì
Tam Muội Du Già Tạng
Tam Muội Thần Bí Môn
Tam Muội Đa La Ma
Tam Muội Sơn Hồng Đảnh
Tam Muội Thần Biến Tướng
Tam Muội Dõng Chiết La
Tam Muội Mật Diệu Ý
Tam Muội Đại Hỏa Châu
Tam Muội Chiết Bạt Tướng
Tam Muội Đại Du Hý
Tam Muội Định Thần Môn
Tam Muội Như Lai Tạng
Tam Muội Đại Tổng Trì
Các Tam Muội như thế
Rất khó hiếm gặp được
2. Như trong cõi nhân gian
Thần châu không thể thấy
Như trong cõi pháp giới
Phật pháp khó gặp gở
Các tam muội như thế
Tính cùng cả hư không
Đều có thể dán bít
Chúng sinh quá mê mờ
Vô tâm chẳng thấy được
Chỉ tạo tội thêm tội
Sinh ác lòng hung dữ
Có thần chú Chuẩn Đề
Năng hàng phục Ma oán
Xua tan bóng vô minh
Giúp người mê chợt tỉnh
Thấy rõ được chân lý
Trong hằng sa ức kiếp
Dù ăn năn sám hối
Mà tội ác chẳng dứt
Hay cần khổ dày vò
Xác thân bị nhừ nát
Mà tội báo chằng dứt
Hoặc phải chịu ngục hình
Nơi A Tỳ Vô Gián
Mà tội báo chẳng dứt
Nếu chuyên tâm trì niệm
Chuẩn Đề đại thần chú
Tội đây mới chấm dứt
3. Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề
Khiến các cõi pháp giới
Chứng minh lời nguyện cầu
Ba loài cùng sáu cõi
Quy y tròn một niệm
Món Mật Pháp thanh tịnh
Chú đại võ thần biến
Xua đuổi bóng vô minh
Phá tà, chơn diệt ác
Thành tựu huệ vô thượng
Hữu hình hoặc vô hình
Thảy đều được lợi ích
Do âm thanh thần chú
Lướt qua lòng vũ trụ
Rung động Phật quốc độ
Chúng sinh mười phương cõi
Nghe được sinh cội phúc
Tụng chú lòng an vui
Tinh thần thường minh mẫn
Biết được việc quá khứ
4. Chuẩn Đề chân mật chú
Niệm niệm hằng chiêm ngưỡng
Phát tâm đại quy y
Chuyên hành Bồ Tát đạo
Thệ nguyện lòng chẳng dối
Tu tập các chánh định
Oai nghi khéo thay đổi
Luống qua chẳng dứt mất
5. Phật kinh hành chốn kia
Thanh vắng đều phục ý
Nhập sâu vào tam muội
Bỏ mỏi mệt, cầu vui
Bỏ món ăn. Cầu lợi
Bỏ vật dục, cầu tâm
Việc làm được như thế
Sự linh ứng, diệu ứng
Cảm ứng hiện tùy hình
Độ sinh cùng cứu tử
Ra vào nơi ba cõi
Thông đạt chân thiện pháp
Mầu nhiệm chẳng nghĩ bàn
Đều do sức trì tụng
Chuẩn Đề chân diệu chú
6. Lúc ta làm Bồ Tát
Bỏ ác lòng bố thí
Thay y phục tội tình
Thủ trì giới luật tạng
Xóa sạch các ưu não
Nhẩn nhục và thương đau
Nhịn nhường kết thêm bạn
Tinh tấn tâm uyển chuyển
Khéo phục hàng Ác Ma
Mật định trong vắng lặng
Tam muội khởi thần oai
Huệ màu soi sáng khắp
Cứu độ cả chúng sinh
Thường hành Bồ Tát đạo
Các việc làm hiếm có
Thế gian chẳng làm được
Như Lai thành tựu pháp
Lâu lắm hiện một lần
xiển dương món Mật Giáo
Như thật không hư dối
7. Mười phương ba đời Phật
Hiện đến để chứng minh
Tán thán đại oai đức
Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề
Thành tựu Tô-Tất-Địa
Mở bày pháp Chánh Giác
Không ngăn cũng không ngại
Trí độ thành Phật độ
Huệ độ, chúng sinh độ
Diễn nghĩa Lý Bí Mật
Khiến đó vào nơi pháp
Cuốn hút rất mạnh mẽ
Tục đế thành chơn đế
Diệt đế thành đạo đế
Pháp đế, Nhất nghĩa đế
Quí giá vô cùng tận
Giả sử đem bảy báu
Của vua Chuyển Luân Vương
Hay ngôi trời Đế Thích
Mà so sánh nghĩa Pháp
Thời không thể sánh kịp
Giả sử khắp đại địa
Đều là bảy thứ sau
Đem đến để so sánh
Với đạo Tối Chánh Giác
Thời không thể sánh kịp
Giả sử mười phương cõi
Không có chỗ địa ngục
Chứa đầy những món báu
Cũng không thể sánh kịp
Giả sử mười phương cõi
Không có chỗ địa ngục
Chứa đầy những món báu
Cũng không thể sánh kịp
Sức mạnh vô lượng nghĩa
Của Phật Pháp, Bồ Tát
Phổ độ chư chúng sanh
Thành đạo đẳng chánh giác
Ức kiếp không cùng tận.

Vua Ô-Nẫu-Vương nghe lời Phật dạy lòng ăn năn hóa thành tâm giác ngộ. Vua xúc động, chắp tay đảnh lễ Phật rồi bạch rằng:
- Ngưỡng mong đấng Đại Thánh Thế Tôn! Chiếu cố đến thân tâm tôi trong lúc bị xúc não và hành động tội ác thô bạo gây ra đối với mọi người. Xin Phật thương xót cứu vớt linh hồn tôi, để tôi có dịp sám hối tội lỗi và quyết tâm tu hành theo Phật pháp.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề biết vua Ô-Nẫu-Vương thâm tâm đã thuần thiện. Phật vì muốn diệt trừ tội lỗi cho vua, nên đức Đạo-Sư đã đứng ra làm chủ lễ cùng bốn bộ chúng tụng thần chú Chuẩn-Đề căn bản Bổn-Tôn Đà Ra Ni trãi qua đến nửa đêm.
Bấy giờ vua Diêm-La bổng thấy cung điện mình sáng suốt từ xưa đến nay chưa từng có. Các vua Diêm-La bèn hội hợp để tìm ra ánh sáng này. Khi ấy có Chuyển-Thế Hộ-Pháp Long-Vương của Phật Mẫu Chuẩn Đề hiện đến nói với các vua Diêm-La rằng:
- Kính chào Thập Nhị Diêm-Vương. Tôi nay vâng thánh ý của Phật Mẫu Chuẩn Đề đến đây nhờ các vị xem lại sổ sinh tử của vua Ô-Nẫu-Vương tại thành Lan-Ca-Lan.
Thập Nhị Diêm Vương nghe đến tên của vua Ô-Nẫu-Vương đều phẫn nộ đáp rằng:
- Vua Ô-Nẫu-Vương xem thường tính mạng con người, tội ấy đáng chết. Lẽ ra chúng tôi đã bắt hắn từ lâu rồi, nhưng không biết phước lực nào ngăn trở làm cho chúng tôi bị trễ nải đến ngày hôm nay.
Chuyển-Thế Hộ-Pháp Long-Vương khuyên can các vị Diêm-La-Vương rằng:
- Xin các vua Diêm-La bớt cơn thịnh nộ. Hiện nay vua Ô-Nẫu-Vương đã hối lỗi và đang tu nhơn tích đức sửa lại việc làm bạo ác đã qua.
Thập Nhị Diêm-La-Vương nghe nói đều cười lớn mà đáp rằng:
- Hắn cũng biết tu sao? Ngài có nằm mơ không? Chúng tôi không thể tin được, xin ngài hãy về đi, chúng tôi sẽ đến pháp-hội của Phật để nghe Pháp và bắt ông vua bạo ác ấy.
Chuyển-Thế Hộ-Pháp Long-Vương nghe nói như thế, liền cáo từ các vua Diêm-La trở về rừng Uôn-Ba Kính lễ chư Phật, Bồ-Tát và Thánh-Chúng. Lúc bấy giờ ở giữa đại chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di bỗng thấy xuất hiện mười hai vị vua Diêm-La, mỗi vị có mỗi thứ binh khí khác nhau cùng với quyến thuộc đồng đến hạ binh khí cúi đầu đảnh lễ Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề rồi lui về một phía mà bạch rằng:
- Ngưỡng bạch đấng Đại Thánh Thế-Tôn! Chúng tôi là vua Diêm-La có bổn phận xem xét thọ mạng tội lỗi của chúng sinh, chiếu theo hình phạt nặng nhẹ mà dùng những khí cụ hành hạ khác nhau. Ngưỡng mong Thế Tôn vì chúng tôi mà nói nguyên nhân tội báo, phước báo, nghiệp báo và nhơn duyên của hành nghiệp sai khác như thế nào?
Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề phóng ra một luồng ánh sáng dài phớt qua đại chúng rồi thu vào con mắt giữa trong khoảng sát na. Bấy giờ Phật vì mười hai vị vua Diêm-La mà dạy rằng:
- Hay thay! Hay thay! Này các vua Diêm-La-Vương. Chúng sinh ở trong sáu đường sanh tử tùy theo hành nghiệp mà thọ báo có tốt có xấu. Thế gian này không ai muốn mà được, tất cả sinh ra đều do hành nghiệp của quá khứ, hiện tại và vị lai mà có.
Đời nay làm người là do đời trước bỏ được tính thú, đời nay làm thú là do đời trước mất tính con người. Đời nay giàu có là do đời trước ưa vui bố thí, đời nay nghèo khổ là do đời trước keo bẩn bỏn xẻn. Đời nay làm quan là do đời trước đùm bọc che chở kẻ khổ người ngu, đời nay làm nô lệ là do đời trước hành hạ tôi tớ quá đáng v.v… Như vậy muốn biết vị lai quá khứ ra sao Thời mỗi người hãy xem lại hiện tại mình đang làm việc gì? Tốt hay xấu?! Nhân như thế nào quả sẽ như thế ấy.
- Này vua Diêm-La-Vương! Phàm mỗi người hãy giữ tâm vắng lặng. Như Lai sẽ nói về những nguyên nhân tội khổ không phân biệt là kẻ xuất gia, tại gia.
Mọi người đều có sự khổ riêng tư chưa trừ diệt, nổi khổ này ví như ngọn lữa dữ đốt cháy cõi lòng chúng sinh, nó ưa xúi bảo mọi người làm ác mà không ai ngờ được. Chúng sinh khi thấy cảnh ác thì tâm ham thích nổi lên. Do lẽ này mà người trong thế gian tạo tội nhiều không thể tính kể được. Sở dĩ chúng sinh không ngăn chặn được tâm ác, đó là do chúng sinh không biết mình có ba thứ độc hại “tham, sân, si” là nguồn gốc của tội khổ. Giả sử như chúng sinh biết được nguồn gốc của sự khổ, nhưng cũng không thể diệt trừ được tham sân si, vì ba thứ này là vua của cõi ác bạo hay làm cho chúng sinh gặp nhiều tai nạn bất ngờ thảm hại.
- Này vua Diêm-La-Vương! Muốn diệt trừ tội khổ rất khó, nhưng nếu chúng sinh có chí quyết tâm thời cũng rất dễ. Tại sao khó? Ấy là do chúng sinh không chịu bỏ hoàn cảnh xấu và thâm tâm xấu. Nếu chúng sinh hạ quyết tâm thì tội khổ được diệt trừ nhanh chóng, cảnh khổ biến mất thay vào cảnh tu, đó là xuất gia ly tục vậy, khiến cho thân và tâm giải thoát nhẹ nhàng , không lo sợ cho sự đời, bỏ nghỉ tưởng tội ác. Từ đó chúng sinh có dịp thấy đạo nghe Phật thuyết pháp mà tiến tu Bát Thánh Đạo Phần.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Các khổ bức mà người đời không ai hay biết đó là sinh ra rồi bất thần chết. Lỡ trượt chân té xuống núi chết. Bất bình sự việc tự tử chết. Thù oán gặp nhau hại nhau chết. Tranh nhau tiền của vật chất mà chết. Trúng gió giữa đường không ai đến cứu mà chết. Té sông chết. Bị ngộ độc chết v.v… Nói tóm lại đó là do thiếu phước vắng số mà chết, thế mà người đời không ai chú ý để tâm lo tu tạo phước đức cho mình đời nay và đời sau. Đây cũng là thọ mạng của chúng sinh dài ngắn tốt xấu là ở điểm này.
Cho nên giữa đại chúng hôm nay Như Lai tuyên thuyết rằng làm ác quyết định phải chiêu lấy ác đạo. Nếu kẻ làm ác chưa hết phước tiếp tục hưởng đến lúc hết phước mà không gặp Thiện-Tri-Thức thời không sao tránh khỏi nhân ác đã gây ra. Kẻ làm thiện thật tâm quyết định phải hưởng lấy thiện báo. Nếu người này đang sống cảnh đói khổ xấu xa, bị nhiều kẻ chà đạp, đó là do ác nghiệp chưa hết. Khi quả báo ác chấm dứt thì phước đức tự nhiên hiện đến không sai.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Người làm ác mà không hại đến chúng sinh trong chốn nhân gian này rất là hiếm ít, vì người ấy muốn thức tỉnh nhân tâm khiến cho chúng sinh biết đạo vào đạo tu hành. Người ấy là bậc Bồ-Tát Thánh Tăng trong vòng thánh.
Lại nữa, này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Những người mang danh từ làm thiện để mưu cầu sự sống, chiếm đoạt tài sản giết người hại bạn, đầu độc anh chị em. Những người này trong chốn nhân gian rất là đa dạng không thể tính đếm thí dụ hết cho được.
Những hạng người này ngoài nói nhân nghĩa thiện cảm tu hành, tâm chứa đầy tội lỗi không lường được mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu cần phải học. Bấy giờ Phật vì đại chúng mà trùng tuyên lại nghĩa kệ rằng:

1. Như Lai vô lượng giác
Hằng sa đại trí huệ
Bực giác ngộ đầy đủ
Thị hiện giữa nhân gian
Cảnh tỉnh lòng nhân thế
Hiếm có ít gặp được
Thầy lớn của Trời, Người
Thường khởi đại từ tâm
Nhân nghĩa đại quý kính
Chứa phước đức vô lượng
Ngồi thiền định ngay ngắn
Trãi qua vô số kiếp
Chẳng lay động thóai chuyển
Chứng thành đạo Chánh Giác
Mà chuyển pháp xuất thế
Trời, Người cả thế gian
Đều không ai làm được
Luật nhân quả báo ứng
Chậm nhanh không thể lường
2. Hỡi này Diêm La Vương!
Tội báo và nghiệp chướng
Chẳng ai biết trước được
Chúng sinh nhiều si mê
Tham chấp các hữu lậu
Nghèo hèn mang ác khổ
Bỏ quên các phước báu
Bỏn xẻn lòng tham lam
Chẳng thấy rõ chơn lý
Lợi danh làm mờ mắt
Vật chất làm tối tăm
Biết việc làm phi nghĩa
Mà chẳng dừng lại được
Chỉ thấy vui phía trước
Chẳng nhìn khổ phía sau
Tham vọng là tuyệt vọng
3. Bồ Tát chánh tư duy
Sẽ thấy rõ chân lý
Mà dẫn dắt chúng sanh
Khỏi đường dữ sinh tử
Bậc ly dục tịnh môn
Rèn luyện đại chân ngôn
Các thể tướng rộng lớn
Nhiếp chúng sanh khó độ
4. Nếu có Đại Bồ Tát
Giữ lòng thanh tịnh Pháp
Chí trì niệm Bổn Tôn
Chuẩn Đề chân diệu chú
Nơi vườn rừng cây cỏ
Chổ vắng vẻ im lặng
Hoặc ở nơi tịnh thất
Mà trang nghiêm giới tướng
Hương hoa cùng đèn nến
Xông trầm hoặc chiên đàn
Tắm rửa mặc pháp phục
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Bảy mươi ức đức Phật
Chứng minh lời thệ nguyện
Hiện đến mà tán thán
5. Nếu có đại Bồ Tát
Cùng với cả đại chúng
Lênh đênh trên biển cả
Bị sóng gió quái lạ
Cuồng phong nhiều nước xoáy
Cuốn đi mất phương hướng
Trên thuyền đều kinh sợ
Nhờ bậc Hải Đạo Sư
Dổ an cả chúng nhân
Trì tụng chú Chuẩn Đề
Sóng gió đều lui tán
Cũng không ai am hiểu
Sự lạ thường Bí Mật
Đều hoan hỷ vui vẻ
6. Nếu có Đại Bồ Tát
Từ trên núi dốc đá
Trớn trở rất nguy hiểm
Bị oán tặc gia hại
Xô xuống vực thẳm sâu
Cũng chớ nên kinh sợ
Mà niệm chú Chuẩn Đề
Đại thần mật vi diệu
Đón đỡ nơi thân đó
Như nằm chổ êm ái
Chẳng biết đó là thực
7. Nếu có Đại Bồ Tát
Bị sinh nơi kiếp thiêu
Lửa cháy từ đâu đến
Núi rừng đá cheo leo
Vườn cây cùng nhà ở
Đường phố chợ tiêu điều
Do sức lửa cháy mạnh
Thiêu sạch như chiến tranh
Cũng chớ nên kinh sợ
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Bổn Tôn Bí Mật Pháp
Xưa nay chẳng biết đến
Khiến lửa dữ dập tắt
Trong khoảnh khắc na khoành
Ai ngờ được việc này
Sức mạnh đại thần lực
Khó nói khó nghĩ bàn
Quang cảnh liền cụ túc
8. Nếu có Đại Bồ Tát
Muốn đầy đủ thiện pháp
Cúng dường nơi chúng tăng
Y phục hoặc ngọa cụ
Bồn tắm cùng ao nước
Màn chiếu các vật chất
Hoặc tạo dựng tăng phướn
Xoay dần trong tịnh xá
Phải đủ lời thệ nguyện
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Đạo tràng được tô điểm
Tướng Pháp rất kỳ bí
Mỹ môn cùng Á môn
Tự môn, Nhứt Nghĩa môn
Thủ môn, Quy Thú môn
Tiên môn, Đại Thành môn
Triệt môn, Bí Mật môn
Tiễn môn, La Hán môn
Định môn, Tổng Trì môn
Diệu môn, Đại Bi môn
Hành môn, Giải Thoát môn
Đạo môn, Diễn Nghĩa môn
Pháp môn, Vô Tướng môn
Các tướng môn như thế
Đầy đủ món phương tiện
Thành tự hữu vi pháp
Mà chẳng bày vô vi
Tuy là món pháp tướng
Mà chẳng thể khinh được
9. Kinh điển Phật Pháp Tạng
Hoặc in chép cúng dường
Hàng hậu học lễ bái
Kẻ phát tâm quy y
Người lỡ phạm cấm giới
Cũng không thể khinh được
Dù hành động ngông cuồng
Phá hoại lục hòa Tăng
Hay bôi nhọ Phật Pháp
Chê báng người học Phật
Khinh mạn Đại Pháp Sư
Bỏ đói hàng tứ chúng
Gạt gẫm kẻ Bạch Y
Cũng chẳng thể khinh được
Kính Phật nên phải nhịn
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Chuyển xoay chân thiện pháp
Tu tập các Thánh Đạo
Phổ độ chư chúng sinh
Không kỵ và bị kỵ
Chịu đựng sự gian khổ
Ôm ấp lửa hàm oan
Chẳng sinh lòng than oán
Cũng chưa gọi là đủ
10. Thanh danh bị thương tổn
Hằn học người khinh bỉ
Chúng Tăng thấy bỏ đi
Vật chất không cung cấp
Bệnh khổ không có thuốc
Uống ăn thiếu dinh dưỡng
Bị bạc đãi mọi thứ
Cũng chưa gọi là đủ
Các công hạnh khó làm
Ác đến xem như bạn
Ác đi xem như khách
Thiện đến như không nhàn
Thiện đi như không tịch
Chẳng bị chướng ngại khổ
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Sức chiêu cảm linh nghiệm
Nghịch cảnh nay thuận chiều
Chê bai, giờ tán thán
Khinh miệt, giờ tôn trọng
Bạc đãi, nay hậu thuẫn
Hằn học, giờ ái ngữ
Mất danh, được lưu danh
Nhờ tụng chú Chuẩn Đề
Xoay ngược chiều ác Ma
Làm Trời, Ngưởi kinh lạ
Rải hoa để cúng dường
Tiếng ca ngâm, đàn, sáo
Tiếng không địch, không hầu
Tiếng linh báu hòa reo
Đỉnh chung và chập chả
Trang nghiêm cảnh đẹp lạ
Tán thán người trì chú
11. Đức Phật đại phương tiện
Oai thần vũ bủa khắp
Độc Quỉ đến phục tùng
Bùa chú cùng thư yếm
Phá hoại trong khoảnh khắc
Trù rủa hoặc đầu độc
Bóng dáng của Phi Nhơn
Ứng đối chuyện chưa thấy
Cũng chớ nên kinh sợ
Mà tụng chú Chuẩn Đề
Rung rinh nhà Ma quái
Bùa chú đều hư hoại
Cũng không ai hiểu được
Sức ngoại ứng Thần Bí
Toái trừ rất mau chóng
Hữu vi chẳng hữu vi
Vô vi mà vô vi
Tướng pháp mà vô tướng
Chẳng tướng, tướng bày ra
Cho nên chớ khinh miệt
Mà chẳng hiểu chơn lý
Phàm phu hoặc Thánh Tăng
Bình đẳng không chi lạ
Giác rồi hoặc chưa giác
Thành tựu Trí Vô Tư
Tu hành không do dự
Nhờ tụng chú Chuẩn Đề
12. Phật từ vô sở cấp
Các chướng ngại chẳng dính
Biết rõ loạn định pháp
Như vì sao trên trời
Chi chít không đến được
Bồ Tát chẳng mệt mỏi
Tập tành các thiện pháp
Gom lại thành vô lượng
Hằng hà sa cõi phước
Vô hạn đến vô vi
Mầu mầu không phương hướng
Thị hiện các món pháp
Khó nói khó nghĩ bàn
Sống loạn để vào định
Không thể nói rõ nét
Chẳng thể thấy bóng hình
Mà gọi đó Tà Pháp
Chân pháp cùng Giả Pháp
Các hư ảo huyền thoại
Không thể luận cùng tột
Mà chê bỏ quá đáng
Tội đó nơi cùng kiếp
Lưỡi mất răng thiếu sứt
Vì chẳng biết chân thực
Lý giải khó ngừa đóan
Siêu huệ, Nhứt Thiết Huệ
Quảng Huệ, Đại Luân Huệ
Từ Huệ, Thiên Nhãn Huệ
Dõng Huệ, Trí Cự Huệ
Dược Huệ, Hư không Huệ
Tán Huệ, Bình Đẳng Huệ
Định Huệ, Pháp Tiễn Huệ
Tất cả các Trí Huệ
Bồ Tát hành như thế
Tuy hành mà chẳng hãnh
Đảo ngược các nón pháp
Chẳng sinh chổ chướng ngại
Chính pháp là phi pháp
Ai hiểu được việc này
Phi pháp ngộ chính pháp
Tùy thời mà cộng hưởng
Phá hoại các lý tính
Chấp nê và mê chấp
Cũng không ai ngờ được
Sức mạnh Đại Biệt Pháp
Ngoài khả năng tính toán
Việc làm Đại Bồ Tát
Sâu xa rất mầu nhiệm
Chẳng phải hai là một
Chẳng phải một là hai
Tính toán lý chân thiệt
Lìa ngã chấp điên đảo
Mà chẳng hiểu thấu đáo
Chân lý vốn không cùng
Dù biết được như thế
Cũng chưa gọi là đủ
13. Tu tập chú Chuẩn Đề
Xoay dần trong muôn kiếp
Giử lấy lời đại nguyện
Tinh thần thêm trong sáng
14. Hỡi này Diêm La Vương!
Vì đạo khởi tình thương
Nâng đỡ trong biển khổ
Cứu vớt chúng hàm linh
Yếu ớt nhiếu cạn cợt
Khiến oan báo kéo dài
Thuở xưa ta làm vua
Cũng ở chỗ các ngươi
Hiệu Đại Diêm La Vương
Phóng thích chúng đảo điên
Bọn tội phạm nghịch ác
Ta vì họ tha thứ
Mà diễn nói diệu pháp
Hoặc ở tại A Tỳ
Ta đi đến mở ngục
Tiếng hình cụ, la hét
Tiếng than oán ghê rợn
Ta đều đến phóng thích
Kẻ bạc ác phản bội
Dâm loạn ưa ngoại tình
Giết cha và hại mẹ
Cướp đoạt các tài sản
Bài bạc mê chè chén
Đồ tể bọn chém giết
Ta vì họ nói pháp
Phóng thích khỏi giam cầm
Vui đẹp lòng hoan hỷ
Chỗ buộc cổ Ngạ Quĩ
Làm cho chúng ăn uống
Khó nuốt mà lâu no
Bọn súc sinh la hét
Sắp đầu thai hóa kiếp
Ta vì họ nói pháp
Phóng thích không ngăn ngại
Cửa ngục đều rỗng không
15. Các vua Diêm La Vương
Đều sửng sốt lo sợ
Khuyên can ngăn cản ta
Lòng bi độ muôn chúng
Mà giải thoát sinh tử
Thuyết pháp khiến đó nghe
Giải trừ các tội lỗi
Bồ Tát mắc tội lớn
Quả báo nặng nghìn cân
Cũng vui lòng gánh vác
Sức kiên cố như thế
Do giữ lời đại thệ
Trải qua nghìn muôn kiếp
Chỗ tu hành chân thiệt
Làm lợi ích Trời, Người
Cùng sáu đường chúng sanh
Trong Mật Định Tổng Trì
Dự ghi và thọ ký
Thành Phật Mẫu Chuẩn Đề.

Đức Phật nói bài kệ vừa xong rồi nín lặng vào môn Tam Muội Chuẩn Đề Bản Tôn Đà Ra Ni. Lúc bấy giờ ngài Kim Cang Mật Tích Bồ Tát cùng đại chúng đứng dậy. Sáu nghìn Bồ Tát trịch áo bày vai hữu đi nhiểu chung quanh Phật, lễ bái tán thán công đức rồi bạch rằng:
- Ngưỡng mong đức Thánh Huệ Thế Tôn vui lòng cho các hàng Bồ Tát chúng con thủ hộ kinh này. Phật đã tự nghiêm thân mình và trang nghiêm cho tất cả chúng sinh. Việc làm hy sinh rất là hiếm có khó được.
Nay Bồ-Tát chúng con đã từng làm việc khó làm, đứng đầu trong đại chúng thưa hỏi việc đạo đức. Chúng con sánh với Phật ví như cây kim ngọn cỏ so với cây đại thọ vững chắc. Vậy chúng con khi nghe lời này, nguyện y theo lời Phật dạy đem tất cả phương tiện lành lưu bố kinh này khiến cho chúng sinh đời sau nghe thấy mà tu hành đúng như pháp.
Vua Ô-Nẫu-Vương quá ăn năn tội lỗi quỳ xuống bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Nay tôi đã biết lỗi lầm, kính xin đức từ bi mở rộng tầm tay tế độ cho tôi và hàng quyến thuộc của tôi không còn làm ác nữa, để được nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà tu hành chân chánh.
Ông Uất-Đơn-Đầu đại diện cho Phật tán thán công hạnh của vua Ô-Nẫu-Vương rồi xuống tóc đắp y Ca Sa cho vua đổi pháp hiệu là Thánh Đại Huệ. Mười vạn binh sĩ thấy vua tu hành, liền hạ khí giới theo vua xuất gia ly tục.
Thập nhị Diêm-La-Vương chứng kiến việc làm của Phật, tất cả đều cảm phục hài lòng tin nhận lời Phật cáo từ lui gót. Năm ngàn Thánh Chúng cúng dường pháp y, ngọa cụ, bát để cung cấp cho chư Tăng. Sáu vạn Bồ-Tát đặng môn tam muội Viễn Ly Tập Khí Đà Ra Ni. Vô lượng chúng Thanh Văn, Duyên Giác được tâm bất thóai chuyển. Đại hội tán thán công đức Phật Mẫu Chuẩn Đề, tất cả đều tín thọ phụng hành.

Nam mô Chuẩn Đề Hội Thương Phật Bồ Tát (3 lần)

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN III

Giáo Hội Phật đã sẳn bày. Sim Sum Pa rời chúng tạo tội tình. Vua Ô-Nẫu ngày đêm gây ác đạo. Giết La Hán vua tôi gặp chướng nạn, lòng từ bi Tôn Giả cứu nhân sinh. Phật Chuẩn Đề tiên yếu dạy pháp lành. Vua hối cải xuất gia theo chư Phật. Pháp tứ cú diễn rộng nghĩa. Hàng tam thừa đặng chỗ vô sinh.

Nammô Thường Trú Thập Phương Phật
Nammô Thường Trú Thập Phương Pháp
Nammô Thường Trú Thập Phương Tăng
Nammô Chuẩn Đề Vương Phật. (3 lần)
(Hết phẩm thứ sáu)



KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
Quyển thứ tư
Mật sư: THÍCH GIÁC TIẾN - Thiền Nhân

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
TẾ ĐỘ XÀ VƯƠNG U-ĐÔ-RA PHẨM THỨ BẢY

Lúc bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề cùng với đại chúng Tỳ Kheo hơn mười lăm nghìn người an trú trong rừng Uôn-Ba thuộc nước A la Hảm trong tiết mùa xuân khí hậu ôn hòa. Giáo chủ Sim Sum Pa muốn hại Phật nên mật sai thiếu nữ Ma La La đến trong pháp hội nghe pháp giả cách cúng dường tìm cơ hội hành động, nhưng đều bị thất bại.
Cuối cùng thiếu nữ Ma La La liều lĩnh với ý tưởng quyết tâm quên mình để đạt cho bằng được nguyện vọng của Giáo chủ Sim Sum Pa.
Khi Ma La La sắp hành động thì hai vị hộ pháp Chuyển Thế Long Vương xuất hiện trợn mắt tay cầm binh khí, khiến cho thiếu nữ Ma La La hoảng hốt ngất xỉu.
Khi ấy Ma Vương ở cõi trời đại Tự Tại tên là Đin-Sa-Da rất tức giận vì thấy việc làm của mình bị thất bại. Ma Vương dùng nước của cõi trời rải lên mặt của thiếu nữ Ma La La, khi tỉnh dậy thiếu nữ liền quay về gặp Giáo Chủ Sim Sum Pa để tìm cách khác hại Phật.
Ở nơi pháp hội, Phật Mẫu Chuẩn Đề trong cơn đại định xuất nhập tự tại nơi các môn tam muội vì hàng đại chúng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-Tát mà nói kinh đại thừa Chuẩn-Đề Tam-Muội Mật Nghĩa Đà Ra Ni Bổn nguyện Công-Đức.
Trong chúng có Bồ Tát Kim Cương Mật Tích làm thượng thủ đại diện cho bốn bộ chúng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng Bát-Bộ Kim Cang Thần thưa hỏi pháp sự nhân duyên mà bạch Phật rằng:
-Thế Tôn! Vũ trụ này không có tính ác, tại sao loài người sinh ra có tính ác? Nếu vũ trụ này có tính ác, thời tại sao loài người sinh ra không làm ác như nhau, mà lại có người tu hành thiện nghiệp là duyên cớ nào? Cúi xin Đấng Từ Bi cao cả dẫn dạy cho chúng con hiểu rõ được pháp mầu sâu rộng của Phật.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề thu hồi tam muội, ngồi trên tòa Kim Cang Sư Tử trang nghiêm, rồi ở giữa đại chúng mở bày pháp Thanh Tịnh Mật Ngữ mà dạy rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Hay thay! Hay thay! Chỉ có hàng Bồ-Tát mới thưa hỏi Như Lai những điều khó hỏi. Đúng thế! Đúng thế! Vũ trụ bao la vĩnh hằng không bao giờ có tính ác. Do lẽ này mà biết rằng tâm chúng sinh cũng trong sạch tốt lành như nhau, nên Như Lai nói chúng sinh là Phật, Phật là chúng sinh, hai nghĩa này không trái nhau.
Phật khác chúng sinh ở chỗ đã giác ngộ, chúng sinh khác Phật là bởi còn mê. Sở dĩ tính ác mà có là do tập nhiễm theo hoàn cảnh của thế gian, vì thế gian là vua đất khổ. Như Lai đã bao phen chê trách thế gian là khổ sở ác trược để dạy cho hàng Thanh Văn, Duyên Giác tu theo Bồ Tát hạnh.
Nếu thế gian tất cả con người đều làm ác, thì con người sẽ bị diệt chủng. Nhưng nếu chúng sinh từ nơi tánh ác cải hóa thành tánh thiện phải biết rằng con người có sự tiến hóa đến chỗ Thánh Thiện vi mật, mật hữu, vô vi mầu mầu, huệ huệ thường chiếu lần đến quả vị La Hán và Phật.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Ta chẳng phải là đấng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu ta là bậc đại huệ trong Trời, Người chứng đặng quả vị Tô-Tất-Địa:
“Án Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra”
thì ông Tỳ Kheo Sim Sum Pa không lìa chúng tự xưng mình là giáo chủ mà chê trách ta rằng:
“Ông Tịnh Như ấy tự khoe mình là Phật Mẫu Chuẩn Đề. Ông Tịnh Như ấy nói con người là vô thường, thế sao hôm nay còn khiến mọi người gọi ta là Phật Mẫu Chuẩn Đề”. Như Lai đã biết được tâm bệnh của chúng sinh mà không cứu độ được. Vậy làm sao được gọi là đấng Vô Thượng Giác Ngộ. Do điểm này mà biết rằng phiền não của chúng sinh vô lượng vậy.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Như Lai là vô tranh, nhưng hôm nay Tỳ Kheo Sim Sum Pa đã tranh đấu với ta, thì làm sao các ngươi gọi ta là Như Lai được? Như Lai vô xứ sở, như vậy các ngươi đến chỗ vô xứ sở là gặp Như Lai rồi vậy. Còn hôm nay đây, với tấm thân mục nát hư thối của ta chẳng được gọi là Như Lai. Nếu các ngươi tôn trọng ta thì ở giữa pháp hội này các ngươi chớ gọi ta là Như Lai nữa!!!
Nghe Phật nói như thế, cả đại chúng đều rơi lệ. Bồ Tát Kim Cang Mật Tích cùng với đại chúng hơn mười lăm nghìn người đều quỳ xuống đỉnh lễ dưới chân Phật mà bạch rằng:
- Chúng con xin quy y Phật Mẫu Chuẩn Đề. Chúng con xin quy y Phật Mẫu Chuẩn Đề!
Ngưỡng cầu Thế Tôn thương xót cho hàng đệ tử chúng con. Dầu bọn ngoại đạo có chỉ trích nói xấu công hạnh của Phật, chúng con cũng nguyện giữ gìn bảo vệ chính pháp vi mật của Phật. Chỉ xin Phật mở lòng từ mẫn cho chúng con được gọi ngài là bực Đại Giác Thế Tôn, để đời nay và đời sau chúng sinh có chỗ phụng thờ cúng dường tán thán công đức, lễ bái tu theo pháp môn Mật Tông mà đức Phật đã hằng dạy dỗ chúng con trong hiện tại.
Chúng con xin quy-y Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Hai vị hộ pháp Chuyển Thế Long Vương nghe nói như thế tức giận bứt tai nhăn mặt không nói nên lời. Phật biết được tâm niệm ấy mở lời từ mẫn dạy bảo rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Chớ quá buồn bực mà mất tâm chân chính. Bởi vì các ngươi chưa hiểu được Như Lai. Các ngươi hãy yên lặng nhập vào chánh định Tam-Muội Đà Ra Ni chú, ở nơi đó ta và các ngươi sẽ gặp nhau. Thế gian là loạn động các ngươi chớ nên bám trụ. Như Lai là đấng Chánh Giác không bao giờ dối gạt các ngươi đâu!!!
Dạy bảo vừa xong đức Phật Mẫu Chuẩn Đề nhập vào Ly Chư Ngữ Ngôn Tam-Muội Tối Thắng Đà Ra Ni, im lặng vào Mật Pháp Tổng Trì. Đại chúng đều tin hiểu lời Phật, phát tâm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bồ Tát Kim Cang Mật Tích muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

1. Đấng Đạo Sư Thiện Mật
Bâc tối thượng ly dục
Rời lìa ác giác quán
Sáng suốt khắp mười phương
Ba cõi chẳng ai bằng
Làm Thầy cả Trời, Người
Dạo chơi trong Mật Định
Đến từ chỗ chân như
Đi vào nơi vắng lặng
Nằm ở chổ rảnh không
Ngồi ung dung thanh tịnh
Trí huệ như thiện tịch
Chẳng biết từ đâu đến
Nhanh chóng khó nghĩ bàn
Chỗ mở bày chánh pháp
Như tiếng Sư Tử rống
Ban pháp vũ cam lộ
Rưới tắt lửa dục nhiểm
Hằng tế độ chúng sinh
Bẽ gãy các ngã chấp
Các mê đắm phiền trược
Ngu si cùng khổ não
Phá tà lại hiển chính
Xây dựng ý chân như
Mở ra đường giải thoát
Xe Tịnh Diệu đại thừa
Lưu thông khắp các cõi
Khiến các bực Hiền Thánh
Đều đến xin đảnh lễ
2. Trong thế giới Phật pháp
Vô lượng Mật Cú Nghĩa
Tự pháp pháp Ly Mật
Nghĩa lý đều bình đẳng
Chẳng tu pháp vô vi
Mà hiện tướng hữu vi
Bọn ngoại đạo chẳng biết
Các món chấp như thế
Việc của đức Phật làm
Phật với Phật hiểu nhau
Chúng sanh nhiều tội khổ
Vô minh hằng che đậy
Xô đẩy vào cõi chết
Nên chẳng thấy chính pháp
Gây vô lượng tội lỗi
Bởi ý thức nông cạn
Sắc dục làm mê mờ
Hại chết bao thế nhân
Do lục căn xúi giục
Chạy theo thế gian khổ
Chìm đắm trong tối tăm
Nhận lãnh các ác báo
Vui chơi theo ngũ dục
Chất ngất tình tham đắm
Trôi lăn trong sanh tử
Gần gũi ác tri thức
Tà dại lòng dua dối
Mà chẳng thấy chánh pháp
Ác quấy thêm kiêu căng
Thích linh ứng tà thuật
Quỉ mị các dối trá
Chê bai người học Phật
Gây vô lượng tội lỗi
3. Chúng sinh thời mạt pháp
Tánh khí rất cương cường
Chẳng ham ưa cầu pháp
Phiền nảo rất trọng trược
Cao ngạo ưa chê bai
Chế giễu bực đạo đức
Khinh miệt lòng tự thị
Mà chẳng thấy chính pháp
Chỉ biết thấy lỗi quấy
Chẳng tự thấy lỗi mình
Rao bày việc phi nghĩa
Làm trò lại ra dáng
Phá hoại kẻ chân tu
Hoặc xúi giục kẻ khác
Mà khinh chê kinh này
Các tội lỗi như thế
Theo nhân quả xoay chuyển
Đời đời trong ác đạo
4. Đấng Đạo Sư Đại Thệ
Dùng vô lượng chân ngôn
Nhiếp tâm đại thù thắng
Thường ở trong Tam Muội
Nhiếp phục hàng Ma Pháp
Hóa giải các tà kiến
Bứng nhẹ gốc sinh tử
Trồng lên cõi Niết Bàn
Hóa giải chư kiến pháp
Kiên nhẫn không vụt chạt
Tế độ các tính dục
Trải qua vô lượng kiếp
Thay đổi vô biên thân
Một thân trong ức thân
Tu tập Pháp chính kiến
Sức mạnh lòng bền bỉ
Các hôn mê vô ký
Đều tiêu tan biến mất
Chí tâm thiệt chắc chắn
Cương quyết chẳng thóai lui
Sức tin cần đầy đủ
Thúc giục tu chân hạnh
Làm gương lớn Trời, Người
5. Bồ Tát cầu chính Pháp
Phải dốc tâm như thế
Nếu có kẻ khinh chê
Bài bác giữa đám đông
Người nghe rồi chán ghét
Vì khinh chê kinh này
Ganh tỵ, tâm không kỵ
Mà cầu nguyện chân chính
Khiến đó được ra khỏi
Các tà chấp mê tín
Ưa khởi lòng đại bi
Cứu vớt kẻ gian ác
Việc khó làm như thế
Vì tu tập kinh này
Theo bản giáo Mật Tạng
Của chư Phật ba đời
Nương chấp để phá chấp
Theo tà để phá tà
Oai đức đại thần chú
Sức mạnh khó lường biên
6. Hàng ác phục Quỉ dữ
Đều khiến vào Phật đạo
Các ngoại đạo chủng tính
Bọn đồ tể chém giết
Kẻ hung hiểm táo bạo
Dâm nữ nhiều nọc độc
Nghe chú Đà Ra Ni
Chơn Mật Giáo vi diệu
Hóa giải ác tri kiến
Đều khiến vào Phật đạo
7. Hoặc có ác la sát
Mãng Xà khè hơi độc
Mãnh hổ hay ác lang
Bò cạp cùng Rắn, Rết
Nghe chú Đà Ra Ni
Chân Mật Giáo vi diệu
Hóa giải ác tri kiến
Đều khiến vào Phật đạo
8. Bồ Tát khắp mười phương
Ưa thủ trì chân ngôn
Dùng sức phương tiện giải
Dẫn dắt các chúng sinh
Bờ mê sang bến giác
Việc khó làm như thế
Đầy đủ đại nguyện lực
Tinh tấn không ngơi nghỉ
Thân bệnh, tâm không bệnh
Chí quyết lòng kiên cố
Không sợ các chướng ngại
Lần đến đạo vô thượng.

Lúc bấy giờ, giáo chủ Sim Sum Pa cùng các Tỳ Kheo phá giới bàn cách phá hoại công hạnh của Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề lần thứ hai, với mưu định tập hợp những thế lực lớn đang chống phá đức Phật, trong đó có lão Tôn-Sư Duyệt-Bát và bốn vị ác thần.
Khi ấy Tỳ-Kheo Diêm-Đê-Ra từ nơi rừng Uôn-Ba trở về gặp giáo chủ Sim Sum Pa và kể lại việc đức Phật sắp rời khỏi rừng Uôn-Ba trong nửa tháng, cùng với đại chúng Tỳ Kheo hơn mười lăm nghìn người đến rừng Ô-Ta để trú ngụ, gần kinh thành của vua Lãm-Vương cách thành Điểm-Đà bốn do tuần.
Hay tin ấy vua Lãm Vương mừng rỡ, hội hợp bá quan văn võ để tổ chức cúng dường cho Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề và bốn bộ chúng. Giáo chủ Sim Sum Pa thấy cơ hội đã đến bèn nói với mọi người rằng:
- Nếu ông Tịnh Như rời khỏi rừng Uôn-Ba là đi vào chỗ chết, khi ông ta muốn băng ngang đầm Li-A-Ha tức là vào động của Mãng Xà U-Đô-Ra rồi vậy.
Nghe xong lời nói của giáo chủ Sim Sum Pa, Tỳ-Kheo Diêm-Đê-Ra chợt thức tỉnh và thấy rõ việc làm độc ác của kẻ giết người nên ngài định bỏ trốn, nhưng bị thất bại. Giáo-chủ Sim Sum Pa liền điều động hơn năm trăm người cùng các bản phái khác nhau đến đầm Li-A-Ha đốn cây rừng chất đầy miệng hang của Mãng Xà Vương U-Đô-Ra rồi nổi lửa đốt cháy. Bốn vị ác thần cùng nhau chuyển động cuồng phong thổi mạnh vào hang của Mãng Xà Vương làm cho nó khó chịu vùng vẫy dữ dội, đất cát hư sụp chấn động liên hồi.
Mãng Xà Vương U-Đô-Ra đã tu luyện tại đầm Li-A-Ha hơn bốn nghìn năm thần thông quảng đại, chưa bao giờ nó muốn ra khỏi động. Hôm nay bỗng nhiên có kẻ đến phá hoại, khiến nó nổi giận, tức thời trổi dậy vươn mình cao một do tuần làm cho trời long đất lỡ, gió bụi mù mịt. Mãng Xà Vương nhìn xuống quan sát xem ai đã phá hoại chỗ cư ngụ của mình, nó thấy cả đoàn người rất đông đang tĩnh tọa gần đầm Li-A-Ha cách động của Mãng Xà Vương không bao xa.
Lúc ấy, Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề cùng đại chúng nhập vào đại Tam-Muội Phật Đảnh Tâm chú Đà Ra Ni
(Án Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra).
Do sức mạnh của vô thượng đẳng đẳng chú khiến cho tám vị Kim Cang thân hình to lớn tay cầm các binh khí mạnh mẽ chuyển động thần oai trấn giữ tám hướng khí thế linh linh diệu diệu. Tên của các vị Kim Cang Thần là:
1.Thanh Trừ Tai Kim Cang
2. Kim Cang sách Bồ-Tát
3. Kim Cang Ái Bồ-Tát
4.Bạch Tinh Thủy Kim Cang
5.Xích Tinh Hỏa Kim Cang
6.Định Trì Tai Kim Cang
7.Tử Hiền Kim Cang
8.Đại Thần Kim Cang.
Lại có bốn vị Bồ-Tát nguy nguy tự tại ánh mắt như sao, thấu suốt các cõi, thân hình đoan chánh, tâm ý siêu thoát, trí huệ biện tài, thông thuộc các bộ kinh tạng Mật Giáo. Các vị ấy tên là:
1. Kim Cang Huyền Bồ-Tát
2. Kim Cang Sách Bồ-Tát
3. Kim Cang Ái Bồ-Tát
4. Kim Cang Ngữ Bồ-Tát.
Lại có tám bộ Quỷ thần đều theo hộ Pháp thân của Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề và đại chúng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di không thể nghĩ bàn cho được.
Mãng Xà Vương định sinh tâm ác hại, khi thấy oai thần rộng lớn của Phật, trong lòng nó bổng nhiên sợ hãi nghỉ thầm:
-Không rõ ai đã đến đây mà có sức đại oai đức lớn mạnh nhanh như thế? Hôm nay nếu ta không suy xét, liều lĩnh xông vào, ắt có thể bị hại thân mình. Chi bằng hóa ra hình người đến gần để dò xét hư thực ra sao.
Nghĩ xong Mãng Xà Vương U-Đô-Ra biến hình thành một gã thương khách len lõi vào pháp hội của đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề để nghe ngóng.
Ma Vương Đin-Sa-Da và bốn vị ác thần lấy làm kinh ngạc khi thấy Mãng Xà Vương đang giận dữ rồi bổng nhiên biến mất. Lão Tôn Sư Duyệt-Bát, Giáo chủ Sim Sum Pa đều sững sốt không biết chuyện gì đã xảy ra, mà cảnh vật trở nên im lặng như thế.
Lúc bấy giờ, đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề cùng bốn bộ chúng ở giữa rừng Ô-Ta ngồi thiền định, chuyển tiếp các môn tam muội như chuyển bánh xe đại thừa rộng lớn. Mãng Xà Vương trong lớp thương khách bước ra giữa pháp hội, vừa thấy đức Phật khiến nó nhớ lại bản nguyện xưa mà cúi đầu đảnh lễ bạch rằng:
- Xin Phật từ bi tế độ cho tôi, xin Phật từ bi tế độ cho tôi. Tôi đã nằm đây chờ ngài hơn bốn ngàn năm với tấm thân ghê tởm này, không biết đời trước tôi đã làm những gì, mà hôm nay phải mang lấy tấm thân độc ác. Xin Phật từ bi tế độ cho tôi.
Tôi xin quy-y Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề.
Tôi xin quy-y Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề.
Do các nhân duyên nhóm họp, ở giữa pháp hội đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề từ nơi môn tam muội Tổng Trì Thanh-Tịnh Đà Ra Ni khiến cho ánh sáng nơi đỉnh môn của Phật chiếu về phương Bắc của thế giới Tịnh Địa, quốc độ Thông-Quang, nước tên ánh sáng.
Ngài Kim Cang Mật Tích thấy điềm lành này, biết Phật sẽ nói kinh Diệu Đức Bản Tôn Đà Ra Ni và muốn giải nghi cho hàng bốn chúng, ngài liền từ chổ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu đi nhiểu quanh đức Phật ba vòng, quỳ xuống chắp tay bạch rằng:
- Ngưỡng mong đấng Thánh Huệ Thế Tôn! Xin Phật thương xót cứu vớt một chúng sanh mê lầm đã tự tỉnh ngộ ở trong hiền kiếp. Hôm nay ở trước Phật Mãng Xà Vương U-Đô-Ra vẫn chưa thoát kiếp Mãng Xà. Rất mong Thế Tôn nhớ đến việc xưa mà cứu độ cho chúng sinh này trong đường sinh tử được tu hành theo đúng bản nguyện.
Đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề thu nhiếp tam muội Thanh-Tịnh Đà Ra Ni môn, rồi vì Mãng Xà Vương U-Đô-Ra mà dạy rằng:
- Này U-Đô-Ra! Ngươi chớ nên tự bi quan quá lắm, tội ác của ngươi tuy có lớn lao như núi cả sông sâu. Nhưng hôm nay ngươi đã phát lồ sám hối trước pháp hội của chư Phật, Bồ-Tát, Hiền Thánh Tăng khiến cho tội nghiệp kia dù lớn như hòn đá to mà chiếc thuyền chánh pháp cũng chuyên chở dễ dàng.
- Này U-Đô-Ra! Tại sao gọi là Mãng Xà? Vì ngươi đã làm việc quá độc ác và không từ bỏ việc ác độc nào, do đó thế gian gọi ngươi là Mãng Xà. Trong thế gian nếu có kẻ làm việc độc ác nguy hiểm, thì người đời gọi kẻ ấy là Xà Nhân. Này U-Đô-Ra! Không phải mang thân Mãng Xà mà gọi đó là Mãng Xà. Chỉ có tâm Mãng Xà mới thật là đáng sợ hơn hết.
Hôm nay ngươi đã biết quy y tu hành thiện nghiệp thì sao có thể gọi đó là Mãng Xà. Do lẽ này mà Như Lai ở nơi tâm pháp Đà Ra Ni chú tuyên bày pháp bí mật vi diệu mỹ môn để giúp cho ngươi có sức mạnh tổng trì những ô tạp phiền não, làm cho tâm ác Mãng Xà trở nên hiền hậu và phúc đức.
Người phúc đức có hai hạng: một là người thân tạo phúc đức, tâm thường tu phúc đức, được nhiều người gần gũi cung kính tán thán, cúng dường, ngợi khen, tôn trọng, lễ bái theo tu phước lành sâu trồng thiện nghiệp. Rất được thế gian Trời, Người tôn thờ là bậc Đại Tri Thức của chúng sinh.
Hai là người thân không có phúc đức, mà tâm ý rộng đức từ bi tu đạo vô thượng siêng năng tinh tấn, nhu hòa nhẫn nhục cứu độ chúng sinh mà chúng sinh chẳng hề biết đến. Người trí sinh tâm cảm phục gần gũi cung kính, lễ bái, cúng dường.
Hai hạng người này được xem là bậc thượng nhân trong Phật pháp, cũng gọi là Bồ-Tát lâm phàm, việc làm khác tục, thương xót chúng sinh như mẹ thương con.
Người không phúc đức có hai hạng: một là người thân không có phúc đức, tâm cũng không có phúc đức, ưa tạo các nghiệp ác nặng nề, bị người đời khinh rẻ chê mắng, đại chúng xa lánh.
Hai là người thân có phúc đức mà tâm không có phúc đức, ưa dùng quyền thế hãm hại người bằng hành động từ thiện giả dối phi nghĩa.
Hai hạng người này tạo tội ác không hề chán mỏi, thế gian gọi đó là tối hạ ác nhơn.
- Này U-Đô-Ra! Tu là giải oan kết, Như Lai đã bao phen chỉ dạy cho đại chúng thấy sự lợi ích của con đường chân lý giải thoát thánh thiện, hoàn toàn xa lìa hẳn ác đạo. Khối phiền nảo trọng trược đầy tội lỗi bẩn nhơ phải trút bỏ thật sự, thì các ông mới có thể khởi đại quyết tâm thắng phục tham vọng, sân nhuế và si mê ám chướng trong mọi hoàn cảnh phát sinh.
Này U-Đô-Ra! Tại sao ông muốn giải oan kết mà không chịu hạ quyết tâm? Mỗi khi ông vươn mình cất lên là gom hết sức mạnh vào thân thể ngẩng cao đầu quan sát để thấy rõ cảnh vật chung quanh.
Vậy ông muốn có sức mạnh tu hành cũng như thế, tất nhiên ông phải dồn hết mọi nỗ lực vào tâm nguyện, thệ nguyện, bản nguyện, Thanh-Tịnh nguyện, phước Đức nguyện, Tinh-Tấn nguyện, Giải thoát nguyện, Trợ đạo nguyện, Tổng-Trì nguyện, Vô Gián nguyện, Thành-Thật nguyện v.v… thời ông sẽ thấy rõ bản tâm xưa nay vốn là tịch tịnh không thay đổi.
Như Lai là bậc chánh giác không bao giờ lừa dối. Như Lai sẽ vì các ông mà chỉ dạy cho những lời pháp mầu nhiệm, để các ông phát tâm tu hành hiểu biết sự lợi ích của việc tu nhân hành đạo giúp đời hồi hướng chúng là đúng sự thật.
- Này U-Đô-Ra! Ông đã chờ ta hơn bốn ngàn năm tại đây, thân và tâm của ông đã biết ăn năn tội lỗi, chẳng muốn tái phạm những điều ác nữa. Như Lai vì ông mà chứng minh sự hướng thiện tốt lành để cho thân tâm của ông mau phát huy sức mạnh của pháp Bí-Mật Diệu Đức Chuẩn-Đề Bản-Tôn Đà-Ra-Ni thị đại minh chú:
“Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề ta bà ha”.
- Này U-Đô-Ra! Thần chú Chuẩn-Đề mà Như Lai đã nói là một trong những pháp môn vi diệu Mật Tông bất khả tư nghị công đức không thể đến được, không ai hiểu được, là Chú Cấm Sư bực tôn không được lưu truyền trong chốn nhân gian.
Nếu ở nơi quốc độ nào thế giới nào lưu truyền được kinh tạng Bí Yếu này, phải biết nơi đó phát sinh ra nguồn công đức phước lành vô tận.
Chỗ ngự của chư Phật chư Bồ-Tát và chư Hiền Thánh Tăng thường vân tập các phân thân để lắng nghe sức thuyết chú Tối Thượng Đại Oai Đức Đà Ra Ni:
“Úm ắt vị ra hùm khư tá lạc”
rất được mọi người tôn trọng, hay giúp cho chúng sinh đang khổ lìa khổ, đang sợ lìa sợ, đang bệnh lìa bệnh, đang bức não lìa bức não, đang nguy lìa nguy, đang đói được no, đang nghèo được gặp của báu v.v… tất cả lời nói này Như Lai chưa từng hư vọng.
Thần chú Tối Thượng năng động này hay giúp cho người tu thấy rõ tà Pháp và chánh Pháp, năng trừ nguy hiểm nạn, nghiệp chướng diệt mau chóng, thường được mọi người tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tán thán, ngợi khen, biên chép giữ gìn chặt chẽ và xem như Phật còn tại thế.
Nếu có trai lành gái tín, tham cầu tu tập pháp môn Chuẩn Đề bậc nhất này, phải biết người đó gần kề với vô thượng đại Bồ Đề, mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu cần phải học.
Bấy giờ Bồ Tát Đà Ra Ni muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Như Lai vô thượng giác
Đấng Hùng Lực Sư Tử
Danh hiệu Thiên Nhân Tôn
Tu tập pháp Bí Mật
Đà Ra Ni thần chú
Chổ tập hợp chư Phật
Hiếm có khó gặp được
Các quốc độ mười phương
Nhỏ như số vi trần
Nét chấm tán thành bụi
Trãi qua nghìn muôn ức
Mà chẳng được thấy Phật
Ví như người có mắt
Thấy được các cảnh vật
Nhưng không tự thấy mình
Thế gian nạn mù, điếc
U mê trong sinh tử
Chẳng biết gì là khổ
Thân nghèo hèn bẩn chật
Chẳng đặng pháp trí huệ
Sợ đói, sợ bệnh khổ
Lao vào chổ ác nghiệp
Lòng chẳng hề hay biết
2. Thế Tôn bực đạo sư
Tu tập pháp xuất thế
Im lặng các tam muội
Nhẹ nhàng nơi Mật Thất
Thẩm sâu trong rừng vắng
Chân như chẳng diêu động
Phát huy chuyển đại pháp
Đại huệ, đại Hải Chúng
Đại Trí, Đại Diệt Chúng
Đại lực, Đại Thánh Chúng
Bi dũng lòng đầy đủ
Kiên cố bỏ suy nghĩ
Chuyển mạnh bánh xe pháp
Trời, Người không chuyển nổi
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác
Tham đắm nơi pháp chấp
3. Bồ Tát bậc thệ nguyện
Đủ bốn đức rộng lớn
Dìu dắt các chúng sinh
Ra khỏi đường sinh tử
Rồi chỉ rõ tội khổ
Ác báo và nghiệp báo
Tiền báo và hậu báo
Nhân quả rất ứng nghiệm
Tạo vay đều trả đủ
4. Nếu có Thiện Nam Tử
Hoặc chư Thiện Nữ Nhơn!
Bỏ tội lỗi nơi thân
Gần gũi Thiện Tri Thức
Lại tu học kinh này
Ngợi khen cùng tán thán
Đúng như pháp cúng dường
Ở trước Phật và Tăng
Hoặc biên chép sao lại
Phải biết phần công đức
Dù tính đếm thí dụ
Cũng không thể cùng tận
Tội lỗi ác nghiệp thảy
Đều tan biến ẩn mất
Trãi qua hằng sa kiếp
Lộn quanh trong sinh tử
Do phước lực lâu đời
Mà cũng đều gặp lại
Kinh điển bực nhứt này
Cốt lõi của Đại Tạng
Chủ yếu trong các kinh
Ba đời chư Phật thảy
Đều nương nơi kinh này
So sánh chẳng bì kịp
5. Hỡi này U-Đô-Ra!
Ta nhớ thuở quá khứ
Nơi thế giới Đại Sát
Tại quốc độ Kỳ Bặt
Có đức vua Đại Ma
Sống không có đạo đức
Việc thiện chẳng biết làm
Ưa vui theo ngũ dục
Mặc tình thích chém giết
Dân chúng đều than oán
Bấy giờ có Đạo Sĩ
Tên Tăng Kỳ Bạt Đà
Tu tập chốn rừng sâu
Chẳng ham mồi danh lợi
Tịnh tu các nghiệp đạo
Im lặng nơi vách đá
Nhẫn tu trí phương tiện
Thường hành Bồ Tát đạo
Cứu độ chúng hàm linh
6. Dầu cơ thể yếu đuối
Trí mẫn đạt rất lanh
Nhạy bén cứu cánh giác
Được mọi người tôn trọng
Gần gũi để cúng dường
Vua Đại Ma nghe thấy
Sức ganh tỵ mạnh mẽ
Dùng uy lực quân đội
Tiến thẳng vào rừng cấm
Muôn thú vang tiếng rống
Làm kinh động đất trời
Tiếng hò hét quát tháo
Tiếng cung tên dao mác
Tiếng đập phá chát chúa
7. Bồ Tát thanh tịnh tâm
Tu hành đức thậm thâm
Chẳng sinh lòng biếng trễ
Thấy ác chẳng ưa vui
Thường thủ trì Mật Chú
Đại Oai Đức Bổn Tôn
Chuẩn Đề Viên Mãn Pháp
Quy nạp các chúng sanh
Chỉ rõ các tội khổ
Nguyên nhân sinh đau khổ
Ngài mở lòng đại bi
Quét dọn tham sân si
Tắm gội cho đại chúng
Bằng giọt nước Cam Lộ
Mưa Pháp thật thuần hậu
Trời người đều vui thích
Rãi hoa tán cúng dường
Xông hương, án ma pháp
Tiếng ca ngâm, đàn địch
Khen ngợi các công hạnh
8. Vua Đại Ma hung hãn
Giết người không biết chán
Bắt Bồ Tát hành hình
Lóc thịt và lột da
Vui cười ý đắc thắng
Bồ Tát lòng đại bi
Cứu độ kẻ cuồng si
Phát nguyện rộng vô lượng
Mà nhắm mắt chịu chết
Mười phương các đức Phật
Khen ngợi đại Bồ Tát
Có sức mạnh kinh lạ
Làm những việc khó làm
Để cầu đạo vô thượng
Bảy mươi ức câu chi
Hằng hà sa đức Phật
Nghe Chuẩn Đề thần chú
Đều vân tập chứng minh
Phá bứt các xiềng xích
Đao gậy cùng dao mác
Hóa ra thành sen báu
Như nhà ảo thuật môn
Khiến ánh mắt kinh lạ
Chưa từng thấy việc này
9. Vua Đại Ma bực tức
Vung gươm chém Bồ Tát
Thân vua bỗng chết cứng
Không thể nhúc nhích được
Sự báo ứng mạnh nhanh
Phá ác và diệt ác
Hàng phục đại hung dữ
Trở nên thuần thiện hậu
Bao vây tâm sân si
Siết chặt tâm mê đắm
Cột trói lòng ác dục
Khiến đó chẳng lay động
Mà nhập vào Mật Định
10. Vua Đại Ma sám hối
Thân tâm tự xả tội
Thiện ác bình đẳng Pháp
Nhờ công hạnh Bồ Đề
Tu tập đại thần chú
Chuẩn Đề chân Mật Hạnh
Hiếm có khó nghĩ bàn
Trời người chung tin tưởng
Cứu thoát cả tam đồ
Hào quang siêu nhựt nguyệt
Suốt thấu không cùng tận
Đạo Sĩ Kỳ-Bạt-Đà
Tu hành đạo Bồ Tát
Là thân ta tại thế
Vua Đại Ma thuở trước
Nay chính là thân ngươi
11. Hởi này U-Đô-Ra!
Số kiếp đã trải qua
Hằng hà sa cõi nước
Tính như số vi trần
Tội đó vẫn không mất
Nay trong hàng Tứ Chúng
Ta nói rõ việc này
Đem lòng từ độ khắp
Có sức vun chứa lớn
Bao trùm cả vạn hữu
Nhẫn nhục sức chịu đựng
Bền bỉ không tán loạn
Bình tĩnh lướt khó khăn
Tinh thần luôn trong sáng
Khắc phục mọi gian khổ
Mà niệm chú Chuẩn Đề
Tổng Trì viên Mật pháp
Gồm thâu trí phương tiện
Thông đạt tam muội môn
Lòng không sinh chán mỏi
Vì để cầu Phật đạo
12. Nếu có Tỳ Kheo Tăng
Bất bình gây chống ngăn
Cản trở người tu Phật
Tâm phải thường nhẩn đó
Vì để cầu Phật đạo
Nếu có kẻ gian ác
Bị quyền thế mua chuộc
Xúi giục phá chánh Pháp
Cố gắng hại Bồ Tát
Tâm phải thường nhẫn đó
Vì để cầu Phật đạo.
13. Hỡi này các Nam Tử!
Cùng các Thiện Nữ Nhơn!
Trãi qua tăng kỳ kiếp
Số kiếp như ảo mộng
Thoáng qua nhanh như chớp
Nguyện lực vẫn bảo tồn
Dù đã thành Phật đạo
Việc ấy không chấm dứt.
Nam Mô Chuẩn-Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)

(Hết phẩm thứ bảy)


Sửa lần cuối bởi minhthien vào ngày Chủ nhật 20/11/11 20:49 với 2 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 17/11/11 0:16 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN IV
UẾ TÍCH KIM CANG BỒ TÁT PHẨM THỨ TÁM
Lúc bấy giờ Mãng Xà Vương U-Đô-Ra nghe xong lời pháp kệ, lấy làm hoan hỷ quỳ xuống chắp tay mà bạch Phật rằng:
- Đức Đại Thánh Chuẩn-Đề Vương Thế Tôn là bực liễu đạo, thông suốt được cá tính và tâm linh của tôi. Xin Phật từ bi thương xót tế độ cho tôi được tu hành mãi mãi. Tôi xin nhớ ơn Phật, nguyện theo ngài trên bước lữ hành, rất mong đức Thế Tôn nạp thọ chú nguyện và hứa khã cho tôi. Tôi xin qui mạng Đại Thánh Chuẩn-Đề Vương Phật.
Đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề phóng ánh linh quang nơi con mắt giữa màu xanh biếc nhỏ như cây kim phớt qua đầu Mãng Xà Vương U-Đô-Ra làm cho toàn thân của Mãng Xà trong lớp thương khách, phát ra ánh sáng cụ túc đắp chiếc y màu vàng, nhưng thân tướng quái dị không mất. Đại chúng thấy thế đều run sợ. Phật biết tâm niệm của mọi người nên ngài kể lại tiền thân của Mãng Xà Vương U-Đô-Ra rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Cách đây không xa trải qua hai tiểu kiếp, tại thế giới Tịnh Điạ, quốc độ Thông Quang, nước tên Ánh sáng tại thành Vương Giả. Vua nước ấy tên là Thanh Diện Vương, hoàng hậu là bà Diệu Liên Hoa xinh đẹp, nhưng tiếc thay bà đã hạ sinh một quái thai mình người đầu Mãng Xà. Lúc ấy vua Thanh Diện Vương hay hung tin, bèn thân hành đến định chém thái tử Mãng Xà, vì vua nghĩ nó là súc sinh yêu nghiệt. Hoàng hậu Diệu Liên Hoa ngăn cản không cho giết. Vua ra lệnh bắt thái tử Mãng Xà đem bỏ ra biển khơi và nhốt hoàng hậu vào lãnh cung. Đêm đó thái tử Mãng Xà bò về lãnh cung gặp mẹ và ẩn thân nơi ấy không ai hay biết. Vua Thanh Diện Vương nhốt hoàng hậu Diệu Liên Hoa trong lãnh cung trải qua mười tám năm sau mới sực nhớ.
Một hôm vua cho người đến phóng thích. Hoàng hậu Diệu Liên Hoa gặp vua và kể lại cho vua biết thái tử Mãng Xà vẫn còn sống và hiện nay đã lớn. Vua Thanh Diện Vương nghe xong nổi cơn thịnh nộ cho ngự lâm quân bao vây đốt phá lãnh cung để giết Thái-Tử Mãng Xà. Thái Tử có linh tính báo trước nên ngài đã trốn khỏi lãnh cung, và cũng vào một đêm không ai hay biết, bỗng nơi cung vua Thanh Diện Vương có một tiếng la thất thanh khiến cho bá quan văn võ kinh hoàng chạy đến tiếp cứu, thì thấy Thái Tử Mãng Xà đã giết vua trên tay còn cầm quả tim, miệng của Thái Tử đầy máu vô cùng khủng khiếp.
Quan quân trông thấy đều bỏ chạy, có kẻ quá sợ hãi bị chết xĩu tại chỗ. Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa chứng kiến thấy con giết cha, mà trong lịch sử loài người chưa bao giờ nhắc đến, bà uất nghẹn miệng không nói nên lời. Thái Tử thừa cơ hội thâu tóm quyền hành, tự phong mình là vua Mãng Xà, mỗi ngày phải giết một người để nuôi vua, vì Mãng Xà Vương không có thức ăn khác. Quá nhẫn tâm, Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa triệu tập các đạo sĩ giỏi nhất đến mong giết vua Mãng Xà, nhưng tất cả đều bị thảm bại.
Bấy giờ trong thành ánh sánh có một vị Bồ-Tát tên là Ô-Sô-Sáp-Na Kim Cang Uế-Tích đang an trú tại kinh thành trong vườn cây Tổng Trì Vương tu tập Mật Hạnh Viên Mãn Trì Cú Thần Chú, có hơn hai nghìn người theo học. Pháp hội của Bồ-Tát rộng lớn, thường cứu vớt chúng sinh, hay làm việc bố thí, tiếng đồn vang xa, đức độ khó ai bì, ý chí minh mẫn, tinh thần sáng suốt, trí huệ biện tài, trồng cội công đức vô tận, hay tu tập hạnh viễn ly, thích chổ vắng lặng, thường dạy người lễ bái, thuyết pháp độ sinh và mật truyền Trì Cú Thần chú cho các vị Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di tu hành đúng như pháp:
A tri hòa tri, na tri cưu na tri, đề lê, sa la ba đề, A na ba đề, ba na đề, ba na ca hòa ni, ma ha ca hòa ni, sĩ lâm bộ lâm.
Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát dạy cho đồ chúng kinh hành ngồi thiền, bốn bộ oai nghi đầy đủ, học luật thuyết về tạng Nghi Giới, chỉ bảy con đường chân lý, vẹt phá mây vô minh cho chúng sinh, cắt đứt dây tham ái, dập tắt lửa tham sân si, ban bố pháp nhũ Cam Lồ rộng lớn, giải dây triền phược ác kiến tội lỗi, giác ngộ chánh kiến giải thoát của chư Phật mười phương ba đời, nhập vào các môn tam muội như:
Đại Ái Kính tam muội, Như-Pháp tam muội, Diệu Hạnh tam muội, Tổng Trì tam muội, Đức Tạng tam muội, Viên Minh tam muội, Bạt Chiết La tam muội, Mật Nghĩa tam muội, Bảo Tiển tam muội, Thần Châu tam muội, Đại Hỏa tam muội, Nhật Diện tam muội, Nguyệt Diện tam muội, Đại Minh tam muội, Đại Ấn tam muội, Nhất Nghĩa tam muội, Hồng Lô tam muội, Quang Hạnh tam muội, Phất Sa tam muội, Kim Cang tam muội, Đà Ra Ni tam muội, Viễn Ly tam muội, Sư Tử Quang tam muội, Hư Vô tam muội, Đại Tán Thán tam muội, Vô Tránh tam muội, Pháp Nhản tam muội, Bích Độc tam muội, Diệu Tập tam muội, Mật Chiếu tam muội, Bản Hạnh tam muội, Đức Sinh tam muội, Thiện Tịch tam muội, các tam tam muội nối nhau không dứt. Chư Phật mười phương đều tán dương công đức của ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát, chư Thiên rải hoa cúng dường, trỗi kỹ nhạc ca ngâm, không ngớt lời tán tụng đức Bồ-Tát. Các bậc tín thí lập chiêu đàn Tăng cúng dường ủng hộ giúp cho Bồ-Tát quay mạnh bánh xe Pháp, chỉ rõ ngọn nguồn của sự khổ.
Chỉ rõ nội tâm ngoại cảnh là chổ tụ tập các mê muội ác nghiệp không ngày ra khỏi. Chỉ rõ con đường chân lý diệt tiêu ba nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, biên kiến, ác kiến giới cấm thủ. Chỉ rõ con đường chánh đại quang minh thực thi Bát Thánh Đạo phần giúp cho chúng sinh được nhiều điều lợi ích trong sự tu tập giáo môn Bí Mật thậm thâm vi diệu, trở về cội nguồn của hư vô tịch tịnh, như nhiên vắng lặng, nhẹ nhàng, dứt các chướng ngại của thế gian và xuất thế gian. Huân tu ba môn tam muội: Không vô tướng, vô nguyện. Phá hoại thập ác, ngủ nghịch, nghiệp chướng của nhiều đời nhiều kiếp không có số định kỳ.
Xuất nhập thuận nghịch ba mươi bảy phần trợ đạo, giáo hóa chúng sinh giai hửu Phật tánh. Xướng minh pháp tứ cú, tứ kệ tỉnh tâm, thuận xuôi theo thế đế mà diễn nghĩa đạo đế, đệ nhất Mật Nghĩa đế. Vô Chung Vô Hành Tán Nghĩa đế, Dị Ngật Diệu Âm Nghĩa đế v.v… và vô lượng các cú nghĩa đồng chữ khác lời, đồng âm khác ý, đồng hành khác thuyết, đồng dịch khác môn, đồng tu khác chứng, đồng học khác trí, đồng ý khác lời, đồng loại khác mặt v.v… các nghĩa như thế rất khó so sánh. Bồ-Tát ở nơi đó mà thành tựu vô lượng công đức lực không thể nghĩ bàn hết cho được.
Bấy giờ Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa nghe đến danh tiếng của ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát, bà liền thân hành đến để cầu kiến, nhưng đã hai lần không gặp được mặt, vì Bồ-Tát đi vắng. Sau cùng do lòng cung kính phát sanh, Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa đến lần thứ ba thỉnh cầu và gặp được Bồ-Tát. Hoàng Hậu trình bày hết những sự việc cho Bồ-Tát nghe, rồi bà kết luận rằng:
- Kính bạch đức đại Bồ-Tát! Hiện nay việc triều chính không ai làm, quốc sự như đang bị nghiêng ngữa, mọi người đều cởi áo từ quan, vì họ sợ bị ăn thịt và tính tình hung ác của Vua Mãng Xà. Do đó hôm nay tôi muốn nhờ đến Bồ-Tát trừ khử vua Mãng Xà càng sớm càng tốt, để cho bộ máy của nước Ánh-Sáng hoạt động lại như xưa.
Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát nghe xong, liền khuyên Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa những lời dạy quý báu rằng:
- Này Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa! Lệnh bà chớ quá lo sợ như thế, dầu sao vua Mãng Xà cũng là con của bà. Ta có thể làm việc khó làm, nhưng ta không thể làm theo ác kiến và lòng mong muốn của bà. Vua Mãng Xà giết chết một mạng người bà còn ghê tởm đến thế. Nếu ta giết chết vua Mãng Xà con của bà, lúc ấy bà sẽ ghê sợ ta đến dường nào. Bà hãy bình tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm thần chú Chuẩn Đề Bản Tôn, có nhân duyên ta sẽ đến và không phụ lòng mong mỏi của bà. Nhưng ta không giết vua Mãng Xà, cũng như bà là mẹ không nỡ giết Thái Tử lúc còn nhỏ dù nó là một quái thai dị hình. Xin bà hãy suy nghĩ cho đúng đắn và an tâm ra về.
Khi Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa ra về. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát nghĩ rằng:
- Muốn xóa được ác tâm của vua Mãng Xà, chỉ có máu của ta mới san bằng được mà thôi.
Suy nghĩ xong, đức Bồ-Tát vài tịnh thất an nghỉ. Đồ chúng hết sức lo lắng cho số mệnh của đức Đạo Sư khả kính. Mỗi người chung nhau bàn luận về việc ấy, và muốn ngăn cản không cho đức Bồ-Tát thực hiện chuyến đi mạo hiểm này.
Sáng hôm sau Bồ-Tát ở giữa đại chúng dạy bảo các hàng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hết sức khéo léo, rồi đắp y mang bát đi đến kinh thành nước Ánh-Sáng yết kiến vua Mãng Xà. Lúc ấy vua định ăn thịt người thứ một trăm thì Đức Bồ-Tát vừa đến kịp thời. Vua Mãng Xà thấy Bồ-Tát không chút sợ sệt nên có phần kinh ngạc. Vua hỏi:
- Ngươi từ đâu đến đây, ngươi không sợ chết sao?
Bồ-Tát Kim Cang Uế Tích tâu rằng:
- Này Đại Vương! Hôm nay tôi đến đây để tình nguyện chết thay cho người thứ một trăm này. Rất mong Đại Vương tha chết cho người ấy, vì ông ấy rất ốm yếu, còn tôi thân thể khỏe mạnh máu tốt thịt ngon, xin đem đến nạp cho Đại-Vương muôn năm vĩnh diệt.
Vua Mãng Xà nghe đức Bồ-Tát nói như thế, mặt lộ nét vui mừng cười lớn mà đáp rằng:
- Tốt lắm! Tốt lắm! Đã từ lâu mọi người đều xa lánh ta, thế mà hôm nay cũng có người tốt với ta đem thịt đến nạp. Ta rất nhớ ơn nhà ngươi. Nào hãy đến đây ngươi đừng sợ.
Bồ-Tát Ô Sô Sáp Na Kim Cang Uế Tích bước đến trước mặt vua Mãng Xà, bất thần ánh sáng nơi đảnh môn của đức Bồ-Tát chiếu ra hai đạo hào quang xanh biếc nhỏ như mũi kim giáng vào đôi mắt của vua Mãng Xà, làm cho đức vua không còn chủ động được té xuống ngai vàng. Đó là do hai vị Hộ Pháp chuyển Thế Long Vương đánh vào đôi mắt của vua. Bồ-Tát thấy thế nên vội vàng đỡ vua lên. Mãng Xà Vương ôm mắt gào thét rên rỉ đau buốt, tứ chi tê liệt, mắt không còn thấy ánh sánh nữa.
Tức thời, ngự lâm quân trong cung phục sẵn xông ra định giết chết vua theo mệnh lệnh của Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát vội đưa tay ngăn cản rằng:
- Các ngươi chớ nên giết vua, nếu các ngươi cố tâm giết vua, thời hãy giết ta trước. Các ngươi không sợ giết vua thí chúa là phạm tội thất nghịch hay sao?
Mọi người đều kinh lạ nhìn nhau không nói nên lời thân tâm bất động. Bấy giờ Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa xuất hiện ra lệnh bắt vua Mãng Xà đem hành hình. Nhưng đức Bồ-Tát Kim Cang Uế Tích đã ngăn lại mà nói rằng:
- Mọi người chớ nên giết vua mà phạm tội thất nghịch, hãy giết tôi trước đi, vì chính tôi đã hại vua Mãng Xà.
Vua Mãng Xà biết mình khó thoát khỏi cái chết nên nói với mọi người rằng:
- Ta đã sa cơ thất thế rồi, các ngươi hãy giết ta đi, chớ nên động chạm đến vị Bồ-Tát này. Ta muốn chuộc lại lỗi lầm đã gây ra từ bấy lâu nay. Vậy các ngươi hãy thừa hành lời dạy của Mẹ ta mà xuống tay đi.
Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa nghe vua nói như thế, thời tâm hồn chết cứng im lặng không nói nên lời. Bá quan văn võ có mặt đều đồng nhìn nhau hô to rằng:
- Hãy chém vua Mãng Xà đi!!!
Bấy giờ, ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát lớn tiếng khuyên bảo mọi người rằng:
- Này hỡi Trang Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Nếu ta không đến đây, thì giờ này vua Mãng Xà vẫn chưa biết ăn năn, và tiếp tục sát hại mọi người. Hôm nay vua đã biết ăn năn thì chẳng được giết, vì dù sao ngài cũng là vua của một nước và cũng là con của Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa. Do lẽ này mà các ngươi hãy phóng thích cho vua và chớ nên sát hại.
Vua Mãng Xà nghe nói đến lời khuyên bảo quí giá của đức Bồ-Tát khiến cho thân và tâm của vua xúc động ăn năn tội lỗi đã gây ra. Vua tự biết mình dù có đi đến đâu cũng không có chỗ dung thân, nên bất thần rút đoản kiếm đâm vào tim tự sát. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát thấy việc làm của vua quá nhanh chóng không kịp ngăn trở. Bồ-Tát ôm vua trong vòng tay đau đớn, vua Mãng Xà trong cơn hấp hối nói với đức Bồ-Tát những lời sau cùng rằng:
- Xin ngài … nhớ tế độ cho tôi… trong hiền kiếp… Tôi… xin quy-y… đức Bồ-Tát…
Nói xong vua Mãng Xà tắt hơi thở. Vì kiếp làm Mãng Xà chưa hết nên sinh về thế giới này để chờ ta đến hóa độ. Mãng Xà Vương tự biết ăn năn tội nghiệp xưa nên đã tu luyện dưới đầm Li-A-Ha hơn bốn nghìn năm pháp thuật dị hình dị dạng, hóa hóa, mầu mầu không ai ngờ được. Chỉ có ta biết được thấy được Mãng Xà Vương đã đến đây trong lớp một thương khách để xin quy-y Phật Pháp Tăng Tam bảo. Ta nay vì ngươi Mà thuyết bài thần chú rằng:
- Úm bút quát hốt lốt ma ha bát ra ngân na ngái, vẫn chấp vẫn hê ma ni, vĩ hiệt vĩ ma na thê. Úm chước cấp na ô thâm mộ hốt lốt. Hùm hùm hùm, phấn phấn phấn phấn phấn tóa ha.
Đây là bài thần chú Uế Tích Kim Cang Đại Viên Mãn Bồ-Tát Ma ha tát mà ta đã tu tập vào thuở trước. Tất cả chư Bồ-Tát mười phương đều đến vân tập nghe thuyết bài thần chú thậm thâm vi diệu công đức này. Nếu có trai lành gái tín hay thọ trì, biên chép tu tập theo pháp môn Mật-Giáo, phải biết người ấy mau tiêu trừ tội lỗi và nghiệp chướng.
Chư Thiên Long Thần Hộ Pháp thường hay hộ vệ người đó được an ổn tránh khỏi các sự bức hại. Vào chỗ nhơ uế cầu cống hỗn tạp đều được như ý. Nếu có chú thư hãm hại, hoặc trù rủa yếm đối đều không thể làm hại được. Hoặc gặp oán tặc hung dữ đến bao vây, do sức trì tụng thần chú Uế Tích Kim Cang khiến chúng liền lui mất. Hoặc bị cọp vồ, đá lăn, té núi, do sức trì tụng thần chú các thú dữ đều vô hại. Hoặc có Quỉ Dạ Xoa, La Sát, Cưu Bàn Trà, Phú Đơn Na, Tỳ Ma Dạ Ca toan muốn bắt ăn thịt, do sức thủ trì thần chú Đà Ra Ni tối thượng này khiến Quỉ chúng đều sợ hãi chạy mất. Ta đã tu tập bài thần chú này trãi qua như số các vi trần, độ cho vô lượng chúng sinh trong pháp giới thân và tâm chẳng thóai chuyển. Nhờ sức mạnh vạn năng của Tối Đẳng Đẳng chú hàng phục Ma chúng dễ dàng, phiền nảo bứt rời, thân tâm thanh tịnh.
Này U-Đô-Ra! Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát thuở đó không ai xa lạ chính là thân ta, còn vua Mãng Xà chính là thân ông tại thế. Bây giờ Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Ta nhớ Phật quá khứ
Nơi trung tâm vũ trụ
Có Đức Phật tên là
Hiệu Đại Nhật Như Lai
Khẩu truyền chân mật chú
Án, Ốm, Úm, Ôm, Um
Tiếng chú rền vang lớn
Thông thấu cả mười phương
Chấn động các thủy địa
Rung rinh nhà Ma Vương
Như tiếng rống Sư-Tử
Muôn loài đều thức dậy
Ta thực hành phương pháp
Tu tập hạnh Bí-Mật
Đà Ra Ni giới tướng
Không có chỗ nào khác
Duy nhất chuyển chân ngôn
Uy vũ khó nghĩ lường
Trong hằng sa ức kiếp
Tin tưởng lòng bền vững
Bỏ khiếp nhược lo sợ
Mà tu tập Mật-Hạnh
Công đức chẳng ai thấy
Trùm che khắp tất cả
Làm vui đẹp lòng chúng
Chư Thiên đến rải hoa
Cúng dường lòng tôn kính
Tán Thán Đại Pháp Sư
Phước đức vô cùng tận
Thoáng qua trong phút giây
Trãi hằng sa ức kiếp
Hành đạo chân hành đạo
Sáng tỏ lòng bất hư
Chỗ tu tập khó làm
Phàm phu chẳng đến được
2. Hỡi này U-Đô-Ra!
Ngươi chẳng nên tự trách
Tính khí nghiệp oan khiên
Đã huân tập tội ác
Làm cho kẻ thế gian
Sinh ra nhiều điên đảo
Phàm phu chẳng kềm được
Ta vì đó độ thoát
Cho chúng sinh si mê
Bỏ tham đắm ác trược
Mà làm hạnh Bồ-Tát
Sức mạnh đại Tổng-Trì
Kim Cang Thần Biến Tướng
Phá ác độ quần mê
Dùng phương tiện chơn chính
Ngăn trừ ác phương tiện
Dùng thiện pháp tinh xảo
Tảo trừ Đại Ma Vương
Các tội lỗi phiền não
Đều từ đó mà sinh
Vô lượng và vô chung
Kiếp trược nghiệp chướng sâu
Không ai suy gẫm thấy
Dù biết lòng ngây dại
Mà chịu đựng hình phạt
Do tội căn phát ra
3. Ta là cha muôn loại
Thầy lớn của Trời, Người
Đấng Hắc Bạch bình đẳng
Trí huệ, Đại Thánh Huệ
Quảng Huệ, Thanh Tịnh Huệ
Tập Huệ, Nhất Diện Huệ
Bát Nhã, Thắng Nghĩa Huệ
Tán Huệ, Bình Định Huệ
Pháp Huệ, Chơn Diệu Huệ
Mật Huệ khó nghĩ bàn
Thần Huệ đại bí môn
Giáng bạt chú đại vũ
Chuyển mạnh Đà Ra Ni
Quay nhanh bánh xe pháp
Chuyên chở cả đại chúng
Trên cổ xe đại thừa
Khiến đó đặng thoát khỏi
Đường tăm tối vô minh
Tu tập bốn vô úy
Tẩy sạch sự lo sợ
Nhẹ nhàng lòng tịnh diệu
Mà hành đạo Bồ-Tát
Ta bỏ thân chẳng tiếc
Như số kiếp vi trần
Để cầu pháp Bí-Mật
Thần Chú Đại Chuẩn-Đề
Kim Cang Viên Mãn Pháp
Bảy mươi ức đức Phật
Nghe âm thanh thần chú
Liền vân tập phân thân
Khiến ủng hộ cho đó
4. Hỡi này U-ĐÔ-RA!
Chánh niệm rất sâu xa
Suy nghĩ cho tường tận
Mới có thể biết được
Bí-Pháp thâm áo này
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác
Không có thể đến được
Chỗ tịnh diệu của Phật
5. Hỡi này U-Đô-Ra!
Vô thường mau như chớp
Thoáng qua trong đời người
Không ai nài nĩ được
Cầu sinh chẳng được sinh
Cầu tử chẳng được tử
Chân lý không thuận nghịch
Vì phương tiện dắt dìu
Mà ta nói thuận, nghịch
An ổn lòng chúng sinh
Thực hành Chân Thánh Đế
Cầu nguyện Đại Chân Ngôn
Vào tri kiến của Phật
Phá mê chấp tham ác
Cùng bỏn xẻn sân si
Tu tập pháp chính kiến
Chẳng rời Chân Thiện Đạo
Chánh Trí, Chánh tư duy
Đại lực, đại tư duy
Diễn pháp nghĩa rộng lớn
Âm thanh nhập đại địa
Loan dần các địa chủng
Như giấy dễ ăn màu
Đạo Phật cũng như thế
6. Lời Phật dạy vi diệu
Chánh ngữ và khiêm tốn
Diệu ngữ, Mật ngữ thảy
Âm thanh thật êm nhẹ
Mát mẽ vui lòng chúng
Trong số kiếp hằng sa
Ta hành đạo thiết tha
Cần tu Bồ-Tát hạnh
Dùng oai nghi vững chắc
Che chở chánh Huệ Mạng
Thần kinh, Quỉ đều phục
Chúng sinh thấy muốn tu
Mà bỏ các oán thù
Quy-y theo Phật Pháp
Tu tập nghiệp chơn chính
Xa lìa hẳn ác đạo
Chẳng giết hại chúng sinh
Bằng gươm đao bẫy rập
Huân tu Thập Thiện Đạo
Noi gương các đức Phật
Thực thi chánh tinh tấn
Vượt qua các hiểm nạn
Chẳng sợ khó sợ khổ
Mà tụng chú Chuẩn-Đề
Giữ gìn nghiệp chân chánh
Ý niệm đều ngay thẳng
Vào Mật Định Tổng Trì
Phát huy Diệu Nghĩa Pháp
Để cầu chứng Phật Đạo
7. Hỡi này U-Đô-Ra!
Cũng trong đời hiền kiếp
Chia ra mỗi tiểu kiếp
Ta hành đạo Bồ-Tát
Đi cầu khắp bốn phương
Cúng dường các châu báu
Bố thí cả vật chất
Và vợ con đáng yêu
Vì để cầu Phật Đạo
Lòng luôn siêng tinh tấn
Dù chẳng gặp Đạo sư
Mà chẳng hề thóai chuyển
Chuyên tâm và ghi nhớ
Phật Pháp Tăng Tam Bảo
Trong núi rừng so đo
Qua biển lớn sinh tử
Lạc giữa quân trận trung
Ác tăng đang vây khổn
Lòng chẳng hề sợ sệt
Vì để cầu Phật Đạo
Lúc mệt mỏi chợt chân
Té rơi xuống vực thẳm
Ý chí không xao xuyến
Cầu chết để bỏ thân
Mà chẳng thể chết được
Vì để cầu Phật Đạo
8. Đức Đại Nhật Như Lai
Hiện đến trong tâm trí
Dạy cho tạng Bí-Mật
Khi hôn mê tỉnh lại
Ta vui mừng khôn xiết
Thực hành pháp Mật Giáo
Thần chú Đại Chuẩn Đề
Tổng Trì Vô Giáo Môn
Thành tựu Tô-Tất-Địa
Chứng đặng pháp Chánh Giác
Bấy giờ Mãng Xà Vương được đức Phật đổi danh hiệu là Chiết Độc Hành Giả, ở giữa đại chúng siêng năng tinh tấn tu hành nhập định bảy ngày liên tiếp chứng quả La Hán. Khi Phật Mẫu Chuẩn Đề thuyết xong kinh đại thừa Diệu Đức Bản Tôn Thành Phật Tâm chú xong, có vô lượng Thánh chúng phát tâm vô thượng Đà Ra Ni. Hàng Thanh Văn, Duyên Giác tin hiểu pháp môn Bí-Mật đại phương tiện có vô số chúng sinh được tâm bất thóai chuyển. Tất cả chúng Bồ-Tát dùng các cách tôn trọng ngợi khen và phát nguyện giữ gìn kinh này đúng như pháp mà tín thọ phụng hành.
Nammô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
(Hết phẩm thứ tám) KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN IV
PHẨM UẾ TÍCH KIM CANG BỒ TÁT THỨ TÁM
Lúc bấy giờ Mãng Xà Vương U-Đô-Ra nghe xong lời pháp kệ, lấy làm hoan hỷ quỳ xuống chắp tay mà bạch Phật rằng:
- Đức Đại Thánh Chuẩn-Đề Vương Thế Tôn là bực liễu đạo, thông suốt được cá tính và tâm linh của tôi. Xin Phật từ bi thương xót tế độ cho tôi được tu hành mãi mãi. Tôi xin nhớ ơn Phật, nguyện theo ngài trên bước lữ hành, rất mong đức Thế Tôn nạp thọ chú nguyện và hứa khã cho tôi. Tôi xin qui mạng Đại Thánh Chuẩn-Đề Vương Phật.
Đức Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề phóng ánh linh quang nơi con mắt giữa màu xanh biếc nhỏ như cây kim phớt qua đầu Mãng Xà Vương U-Đô-Ra làm cho toàn thân của Mãng Xà trong lớp thương khách, phát ra ánh sáng cụ túc đắp chiếc y màu vàng, nhưng thân tướng quái dị không mất. Đại chúng thấy thế đều run sợ. Phật biết tâm niệm của mọi người nên ngài kể lại tiền thân của Mãng Xà Vương U-Đô-Ra rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Cách đây không xa trải qua hai tiểu kiếp, tại thế giới Tịnh Điạ, quốc độ Thông Quang, nước tên Ánh sáng tại thành Vương Giả. Vua nước ấy tên là Thanh Diện Vương, hoàng hậu là bà Diệu Liên Hoa xinh đẹp, nhưng tiếc thay bà đã hạ sinh một quái thai mình người đầu Mãng Xà. Lúc ấy vua Thanh Diện Vương hay hung tin, bèn thân hành đến định chém thái tử Mãng Xà, vì vua nghĩ nó là súc sinh yêu nghiệt. Hoàng hậu Diệu Liên Hoa ngăn cản không cho giết. Vua ra lệnh bắt thái tử Mãng Xà đem bỏ ra biển khơi và nhốt hoàng hậu vào lãnh cung. Đêm đó thái tử Mãng Xà bò về lãnh cung gặp mẹ và ẩn thân nơi ấy không ai hay biết. Vua Thanh Diện Vương nhốt hoàng hậu Diệu Liên Hoa trong lãnh cung trải qua mười tám năm sau mới sực nhớ.
Một hôm vua cho người đến phóng thích. Hoàng hậu Diệu Liên Hoa gặp vua và kể lại cho vua biết thái tử Mãng Xà vẫn còn sống và hiện nay đã lớn. Vua Thanh Diện Vương nghe xong nổi cơn thịnh nộ cho ngự lâm quân bao vây đốt phá lãnh cung để giết Thái-Tử Mãng Xà. Thái Tử có linh tính báo trước nên ngài đã trốn khỏi lãnh cung, và cũng vào một đêm không ai hay biết, bỗng nơi cung vua Thanh Diện Vương có một tiếng la thất thanh khiến cho bá quan văn võ kinh hoàng chạy đến tiếp cứu, thì thấy Thái Tử Mãng Xà đã giết vua trên tay còn cầm quả tim, miệng của Thái Tử đầy máu vô cùng khủng khiếp.
Quan quân trông thấy đều bỏ chạy, có kẻ quá sợ hãi bị chết xĩu tại chỗ. Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa chứng kiến thấy con giết cha, mà trong lịch sử loài người chưa bao giờ nhắc đến, bà uất nghẹn miệng không nói nên lời. Thái Tử thừa cơ hội thâu tóm quyền hành, tự phong mình là vua Mãng Xà, mỗi ngày phải giết một người để nuôi vua, vì Mãng Xà Vương không có thức ăn khác. Quá nhẫn tâm, Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa triệu tập các đạo sĩ giỏi nhất đến mong giết vua Mãng Xà, nhưng tất cả đều bị thảm bại.
Bấy giờ trong thành ánh sánh có một vị Bồ-Tát tên là Ô-Sô-Sáp-Na Kim Cang Uế-Tích đang an trú tại kinh thành trong vườn cây Tổng Trì Vương tu tập Mật Hạnh Viên Mãn Trì Cú Thần Chú, có hơn hai nghìn người theo học. Pháp hội của Bồ-Tát rộng lớn, thường cứu vớt chúng sinh, hay làm việc bố thí, tiếng đồn vang xa, đức độ khó ai bì, ý chí minh mẫn, tinh thần sáng suốt, trí huệ biện tài, trồng cội công đức vô tận, hay tu tập hạnh viễn ly, thích chổ vắng lặng, thường dạy người lễ bái, thuyết pháp độ sinh và mật truyền Trì Cú Thần chú cho các vị Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di tu hành đúng như pháp:
A tri hòa tri, na tri cu na tri, đế lệ sa la ba đề, A na ba đề, ba na đề, ba na ca hòa ni, ma ha ca hòa ni, sĩ lâm bộ lâm.
Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát dạy cho đồ chúng kinh hành ngồi thiền, bốn bộ oai nghi đầy đủ, học luật thuyết về tạng Nghi Giới, chỉ bảy con đường chân lý, vẹt phá mây vô minh cho chúng sinh, cắt đứt dây tham ái, dập tắt lửa tham sân si, ban bố pháp nhũ Cam Lồ rộng lớn, giải dây triền phược ác kiến tội lỗi, giác ngộ chánh kiến giải thoát của chư Phật mười phương ba đời, nhập vào các môn tam muội như:
Đại Ái Kính tam muội, Như-Pháp tam muội, Diệu Hạnh tam muội, Tổng Trì tam muội, Đức Tạng tam muội, Viên Minh tam muội, Bạt Chiết La tam muội, Mật Nghĩa tam muội, Bảo Tiển tam muội, Thần Châu tam muội, Đại Hỏa tam muội, Nhật Diện tam muội, Nguyệt Diện tam muội, Đại Minh tam muội, Đại Ấn tam muội, Nhất Nghĩa tam muội, Hồng Lô tam muội, Quang Hạnh tam muội, Phất Sa tam muội, Kim Cang tam muội, Đà Ra Ni tam muội, Viễn Ly tam muội, Sư Tử Quang tam muội, Hư Vô tam muội, Đại Tán Thán tam muội, Vô Tránh tam muội, Pháp Nhản tam muội, Bích Độc tam muội, Diệu Tập tam muội, Mật Chiếu tam muội, Bản Hạnh tam muội, Đức Sinh tam muội, Thiện Tịch tam muội, các tam tam muội nối nhau không dứt. Chư Phật mười phương đều tán dương công đức của ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát, chư Thiên rải hoa cúng dường, trỗi kỹ nhạc ca ngâm, không ngớt lời tán tụng đức Bồ-Tát. Các bậc tín thí lập chiêu đàn Tăng cúng dường ủng hộ giúp cho Bồ-Tát quay mạnh bánh xe Pháp, chỉ rõ ngọn nguồn của sự khổ.
Chỉ rõ nội tâm ngoại cảnh là chổ tụ tập các mê muội ác nghiệp không ngày ra khỏi. Chỉ rõ con đường chân lý diệt tiêu ba nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, biên kiến, ác kiến giới cấm thủ. Chỉ rõ con đường chánh đại quang minh thực thi Bát Thánh Đạo phần giúp cho chúng sinh được nhiều điều lợi ích trong sự tu tập giáo môn Bí Mật thậm thâm vi diệu, trở về cội nguồn của hư vô tịch tịnh, như nhiên vắng lặng, nhẹ nhàng, dứt các chướng ngại của thế gian và xuất thế gian. Huân tu ba môn tam muội: Không vô tướng, vô nguyện. Phá hoại thập ác, ngủ nghịch, nghiệp chướng của nhiều đời nhiều kiếp không có số định kỳ.
Xuất nhập thuận nghịch ba mươi bảy phần trợ đạo, giáo hóa chúng sinh giai hửu Phật tánh. Xướng minh pháp tứ cú, tứ kệ tỉnh tâm, thuận xuôi theo thế đế mà diễn nghĩa đạo đế, đệ nhất Mật Nghĩa đế. Vô Chung Vô Hành Tán Nghĩa đế, Dị Ngật Diệu Âm Nghĩa đế v.v… và vô lượng các cú nghĩa đồng chữ khác lời, đồng âm khác ý, đồng hành khác thuyết, đồng dịch khác môn, đồng tu khác chứng, đồng học khác trí, đồng ý khác lời, đồng loại khác mặt v.v… các nghĩa như thế rất khó so sánh. Bồ-Tát ở nơi đó mà thành tựu vô lượng công đức lực không thể nghĩ bàn hết cho được.
Bấy giờ Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa nghe đến danh tiếng của ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát, bà liền thân hành đến để cầu kiến, nhưng đã hai lần không gặp được mặt, vì Bồ-Tát đi vắng. Sau cùng do lòng cung kính phát sanh, Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa đến lần thứ ba thỉnh cầu và gặp được Bồ-Tát. Hoàng Hậu trình bày hết những sự việc cho Bồ-Tát nghe, rồi bà kết luận rằng:
- Kính bạch đức đại Bồ-Tát! Hiện nay việc triều chính không ai làm, quốc sự như đang bị nghiêng ngữa, mọi người đều cởi áo từ quan, vì họ sợ bị ăn thịt và tính tình hung ác của Vua Mãng Xà. Do đó hôm nay tôi muốn nhờ đến Bồ-Tát trừ khử vua Mãng Xà càng sớm càng tốt, để cho bộ máy của nước Ánh-Sáng hoạt động lại như xưa.
Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát nghe xong, liền khuyên Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa những lời dạy quý báu rằng:
- Này Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa! Lệnh bà chớ quá lo sợ như thế, dầu sao vua Mãng Xà cũng là con của bà. Ta có thể làm việc khó làm, nhưng ta không thể làm theo ác kiến và lòng mong muốn của bà. Vua Mãng Xà giết chết một mạng người bà còn ghê tởm đến thế. Nếu ta giết chết vua Mãng Xà con của bà, lúc ấy bà sẽ ghê sợ ta đến dường nào. Bà hãy bình tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm thần chú Chuẩn Đề Bản Tôn, có nhân duyên ta sẽ đến và không phụ lòng mong mỏi của bà. Nhưng ta không giết vua Mãng Xà, cũng như bà là mẹ không nỡ giết Thái Tử lúc còn nhỏ dù nó là một quái thai dị hình. Xin bà hãy suy nghĩ cho đúng đắn và an tâm ra về.
Khi Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa ra về. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát nghĩ rằng:
- Muốn xóa được ác tâm của vua Mãng Xà, chỉ có máu của ta mới san bằng được mà thôi.
Suy nghĩ xong, đức Bồ-Tát vài tịnh thất an nghỉ. Đồ chúng hết sức lo lắng cho số mệnh của đức Đạo Sư khả kính. Mỗi người chung nhau bàn luận về việc ấy, và muốn ngăn cản không cho đức Bồ-Tát thực hiện chuyến đi mạo hiểm này.
Sáng hôm sau Bồ-Tát ở giữa đại chúng dạy bảo các hàng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hết sức khéo léo, rồi đắp y mang bát đi đến kinh thành nước Ánh-Sáng yết kiến vua Mãng Xà. Lúc ấy vua định ăn thịt người thứ một trăm thì Đức Bồ-Tát vừa đến kịp thời. Vua Mãng Xà thấy Bồ-Tát không chút sợ sệt nên có phần kinh ngạc. Vua hỏi:
- Ngươi từ đâu đến đây, ngươi không sợ chết sao?
Bồ-Tát Kim Cang Uế Tích tâu rằng:
- Này Đại Vương! Hôm nay tôi đến đây để tình nguyện chết thay cho người thứ một trăm này. Rất mong Đại Vương tha chết cho người ấy, vì ông ấy rất ốm yếu, còn tôi thân thể khỏe mạnh máu tốt thịt ngon, xin đem đến nạp cho Đại-Vương muôn năm vĩnh diệt.
Vua Mãng Xà nghe đức Bồ-Tát nói như thế, mặt lộ nét vui mừng cười lớn mà đáp rằng:
- Tốt lắm! Tốt lắm! Đã từ lâu mọi người đều xa lánh ta, thế mà hôm nay cũng có người tốt với ta đem thịt đến nạp. Ta rất nhớ ơn nhà ngươi. Nào hãy đến đây ngươi đừng sợ.
Bồ-Tát Ô Sô Sáp Na Kim Cang Uế Tích bước đến trước mặt vua Mãng Xà, bất thần ánh sáng nơi đảnh môn của đức Bồ-Tát chiếu ra hai đạo hào quang xanh biếc nhỏ như mũi kim giáng vào đôi mắt của vua Mãng Xà, làm cho đức vua không còn chủ động được té xuống ngai vàng. Đó là do hai vị Hộ Pháp chuyển Thế Long Vương đánh vào đôi mắt của vua. Bồ-Tát thấy thế nên vội vàng đỡ vua lên. Mãng Xà Vương ôm mắt gào thét rên rỉ đau buốt, tứ chi tê liệt, mắt không còn thấy ánh sánh nữa.
Tức thời, ngự lâm quân trong cung phục sẵn xông ra định giết chết vua theo mệnh lệnh của Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát vội đưa tay ngăn cản rằng:
- Các ngươi chớ nên giết vua, nếu các ngươi cố tâm giết vua, thời hãy giết ta trước. Các ngươi không sợ giết vua thí chúa là phạm tội thất nghịch hay sao?
Mọi người đều kinh lạ nhìn nhau không nói nên lời thân tâm bất động. Bấy giờ Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa xuất hiện ra lệnh bắt vua Mãng Xà đem hành hình. Nhưng đức Bồ-Tát Kim Cang Uế Tích đã ngăn lại mà nói rằng:
- Mọi người chớ nên giết vua mà phạm tội thất nghịch, hãy giết tôi trước đi, vì chính tôi đã hại vua Mãng Xà.
Vua Mãng Xà biết mình khó thoát khỏi cái chết nên nói với mọi người rằng:
- Ta đã sa cơ thất thế rồi, các ngươi hãy giết ta đi, chớ nên động chạm đến vị Bồ-Tát này. Ta muốn chuộc lại lỗi lầm đã gây ra từ bấy lâu nay. Vậy các ngươi hãy thừa hành lời dạy của Mẹ ta mà xuống tay đi.
Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa nghe vua nói như thế, thời tâm hồn chết cứng im lặng không nói nên lời. Bá quan văn võ có mặt đều đồng nhìn nhau hô to rằng:
- Hãy chém vua Mãng Xà đi!!!
Bấy giờ, ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát lớn tiếng khuyên bảo mọi người rằng:
- Này hỡi Trang Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Nếu ta không đến đây, thì giờ này vua Mãng Xà vẫn chưa biết ăn năn, và tiếp tục sát hại mọi người. Hôm nay vua đã biết ăn năn thì chẳng được giết, vì dù sao ngài cũng là vua của một nước và cũng là con của Hoàng Hậu Diệu Liên Hoa. Do lẽ này mà các ngươi hãy phóng thích cho vua và chớ nên sát hại.
Vua Mãng Xà nghe nói đến lời khuyên bảo quí giá của đức Bồ-Tát khiến cho thân và tâm của vua xúc động ăn năn tội lỗi đã gây ra. Vua tự biết mình dù có đi đến đâu cũng không có chỗ dung thân, nên bất thần rút đoản kiếm đâm vào tim tự sát. Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ Tát thấy việc làm của vua quá nhanh chóng không kịp ngăn trở. Bồ-Tát ôm vua trong vòng tay đau đớn, vua Mãng Xà trong cơn hấp hối nói với đức Bồ-Tát những lời sau cùng rằng:
- Xin ngài … nhớ tế độ cho tôi… trong hiền kiếp… Tôi… xin quy-y… đức Bồ-Tát…
Nói xong vua Mãng Xà tắt hơi thở. Vì kiếp làm Mãng Xà chưa hết nên sinh về thế giới này để chờ ta đến hóa độ. Mãng Xà Vương tự biết ăn năn tội nghiệp xưa nên đã tu luyện dưới đầm Li-A-Ha hơn bốn nghìn năm pháp thuật dị hình dị dạng, hóa hóa, mầu mầu không ai ngờ được. Chỉ có ta biết được thấy được Mãng Xà Vương đã đến đây trong lớp một thương khách để xin quy-y Phật Pháp Tăng Tam bảo. Ta nay vì ngươi Mà thuyết bài thần chú rằng:
- Úm bút quát hốt lốt ma ha bát ra ngân na ngai, vẫn chấp vẫn hê ma ni, vĩ hiệt vĩ ma na thê. Úm chước cấp na ô thâm mộ hốt lốt. Hùm hùm hùm, phấn phấn phấn phấn phấn tóa ha.
Đây là bài thần chú Uế Tích Kim Cang Đại Viên Mãn Bồ-Tát Ma ha tát mà ta đã tu tập vào thuở trước. Tất cả chư Bồ-Tát mười phương đều đến vân tập nghe thuyết bài thần chú thậm thâm vi diệu công đức này. Nếu có trai lành gái tín hay thọ trì, biên chép tu tập theo pháp môn Mật-Giáo, phải biết người ấy mau tiêu trừ tội lỗi và nghiệp chướng.
Chư Thiên Long Thần Hộ Pháp thường hay hộ vệ người đó được an ổn tránh khỏi các sự bức hại. Vào chỗ nhơ uế cầu cống hỗn tạp đều được như ý. Nếu có chú thư hãm hại, hoặc trù rủa yếm đối đều không thể làm hại được. Hoặc gặp oán tặc hung dữ đến bao vây, do sức trì tụng thần chú Uế Tích Kim Cang khiến chúng liền lui mất. Hoặc bị cọp vồ, đá lăn, té núi, do sức trì tụng thần chú các thú dữ đều vô hại. Hoặc có Quỉ Dạ Xoa, La Sát, Cưu Bàn Trà, Phú Đơn Na, Tỳ Ma Dạ Ca toan muốn bắt ăn thịt, do sức thủ trì thần chú Đà Ra Ni tối thượng này khiến Quỉ chúng đều sợ hãi chạy mất. Ta đã tu tập bài thần chú này trãi qua như số các vi trần, độ cho vô lượng chúng sinh trong pháp giới thân và tâm chẳng thóai chuyển. Nhờ sức mạnh vạn năng của Tối Đẳng Đẳng chú hàng phục Ma chúng dễ dàng, phiền nảo bứt rời, thân tâm thanh tịnh.
Này U-Đô-Ra! Ngài Uế Tích Kim Cang Bồ-Tát thuở đó không ai xa lạ chính là thân ta, còn vua Mãng Xà chính là thân ông tại thế. Bây giờ Phật-Mẫu-Chuẩn-Đề muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Ta nhớ Phật quá khứ
Nơi trung tâm vũ trụ
Có Đức Phật tên là
Hiệu Đại Nhật Như Lai
Khẩu truyền chân mật chú
Án, Ốm, Úm, Ôm, Um
Tiếng chú rền vang lớn
Thông thấu cả mười phương
Chấn động các thủy địa
Rung rinh nhà Ma Vương
Như tiếng rống Sư-Tử
Muôn loài đều thức dậy
Ta thực hành phương pháp
Tu tập hạnh Bí-Mật
Đà Ra Ni giới tướng
Không có chỗ nào khác
Duy nhất chuyển chân ngôn
Uy vũ khó nghĩ lường
Trong hằng sa ức kiếp
Tin tưởng lòng bền vững
Bỏ khiếp nhược lo sợ
Mà tu tập Mật-Hạnh
Công đức chẳng ai thấy
Trùm che khắp tất cả
Làm vui đẹp lòng chúng
Chư Thiên đến rải hoa
Cúng dường lòng tôn kính
Tán Thán Đại Pháp Sư
Phước đức vô cùng tận
Thoáng qua trong phút giây
Trãi hằng sa ức kiếp
Hành đạo chân hành đạo
Sáng tỏ lòng bất hư
Chỗ tu tập khó làm
Phàm phu chẳng đến được
2. Hỡi này U-Đô-Ra!
Ngươi chẳng nên tự trách
Tính khí nghiệp oan khiên
Đã huân tập tội ác
Làm cho kẻ thế gian
Sinh ra nhiều điên đảo
Phàm phu chẳng kềm được
Ta vì đó độ thoát
Cho chúng sinh si mê
Bỏ tham đắm ác trược
Mà làm hạnh Bồ-Tát
Sức mạnh đại Tổng-Trì
Kim Cang Thần Biến Tướng
Phá ác độ quần mê
Dùng phương tiện chơn chính
Ngăn trừ ác phương tiện
Dùng thiện pháp tinh xảo
Tảo trừ Đại Ma Vương
Các tội lỗi phiền não
Đều từ đó mà sinh
Vô lượng và vô chung
Kiếp trược nghiệp chướng sâu
Không ai suy gẫm thấy
Dù biết lòng ngây dại
Mà chịu đựng hình phạt
Do tội căn phát ra
3. Ta là cha muôn loại
Thầy lớn của Trời, Người
Đấng Hắc Bạch bình đẳng
Trí huệ, Đại Thánh Huệ
Quảng Huệ, Thanh Tịnh Huệ
Tập Huệ, Nhất Diện Huệ
Bát Nhã, Thắng Nghĩa Huệ
Tán Huệ, Bình Định Huệ
Pháp Huệ, Chơn Diệu Huệ
Mật Huệ khó nghĩ bàn
Thần Huệ đại bí môn
Giáng bạt chú đại vũ
Chuyển mạnh Đà Ra Ni
Quay nhanh bánh xe pháp
Chuyên chở cả đại chúng
Trên cổ xe đại thừa
Khiến đó đặng thoát khỏi
Đường tăm tối vô minh
Tu tập bốn vô úy
Tẩy sạch sự lo sợ
Nhẹ nhàng lòng tịnh diệu
Mà hành đạo Bồ-Tát
Ta bỏ thân chẳng tiếc
Như số kiếp vi trần
Để cầu pháp Bí-Mật
Thần Chú Đại Chuẩn-Đề
Kim Cang Viên Mãn Pháp
Bảy mươi ức đức Phật
Nghe âm thanh thần chú
Liền vân tập phân thân
Khiến ủng hộ cho đó
4. Hỡi này U-ĐÔ-RA!
Chánh niệm rất sâu xa
Suy nghĩ cho tường tận
Mới có thể biết được
Bí-Pháp thâm áo này
Hàng Thanh Văn, Duyên Giác
Không có thể đến được
Chỗ tịnh diệu của Phật
5. Hỡi này U-Đô-Ra!
Vô thường mau như chớp
Thoáng qua trong đời người
Không ai nài nĩ được
Cầu sinh chẳng được sinh
Cầu tử chẳng được tử
Chân lý không thuận nghịch
Vì phương tiện dắt dìu
Mà ta nói thuận, nghịch
An ổn lòng chúng sinh
Thực hành Chân Thánh Đế
Cầu nguyện Đại Chân Ngôn
Vào tri kiến của Phật
Phá mê chấp tham ác
Cùng bỏn xẻn sân si
Tu tập pháp chính kiến
Chẳng rời Chân Thiện Đạo
Chánh Trí, Chánh tư duy
Đại lực, đại tư duy
Diễn pháp nghĩa rộng lớn
Âm thanh nhập đại địa
Loan dần các địa chủng
Như giấy dễ ăn màu
Đạo Phật cũng như thế
6. Lời Phật dạy vi diệu
Chánh ngữ và khiêm tốn
Diệu ngữ, Mật ngữ thảy
Âm thanh thật êm nhẹ
Mát mẽ vui lòng chúng
Trong số kiếp hằng sa
Ta hành đạo thiết tha
Cần tu Bồ-Tát hạnh
Dùng oai nghi vững chắc
Che chở chánh Huệ Mạng
Thần kinh, Quỉ đều phục
Chúng sinh thấy muốn tu
Mà bỏ các oán thù
Quy-y theo Phật Pháp
Tu tập nghiệp chơn chính
Xa lìa hẳn ác đạo
Chẳng giết hại chúng sinh
Bằng gươm đao bẫy rập
Huân tu Thập Thiện Đạo
Noi gương các đức Phật
Thực thi chánh tinh tấn
Vượt qua các hiểm nạn
Chẳng sợ khó sợ khổ
Mà tụng chú Chuẩn-Đề
Giữ gìn nghiệp chân chánh
Ý niệm đều ngay thẳng
Vào Mật Định Tổng Trì
Phát huy Diệu Nghĩa Pháp
Để cầu chứng Phật Đạo
7. Hỡi này U-Đô-Ra!
Cũng trong đời hiền kiếp
Chia ra mỗi tiểu kiếp
Ta hành đạo Bồ-Tát
Đi cầu khắp bốn phương
Cúng dường các châu báu
Bố thí cả vật chất
Và vợ con đáng yêu
Vì để cầu Phật Đạo
Lòng luôn siêng tinh tấn
Dù chẳng gặp Đạo sư
Mà chẳng hề thóai chuyển
Chuyên tâm và ghi nhớ
Phật Pháp Tăng Tam Bảo
Trong núi rừng so đo
Qua biển lớn sinh tử
Lạc giữa quân trận trung
Ác tăng đang vây khổn
Lòng chẳng hề sợ sệt
Vì để cầu Phật Đạo
Lúc mệt mỏi chợt chân
Té rơi xuống vực thẳm
Ý chí không xao xuyến
Cầu chết để bỏ thân
Mà chẳng thể chết được
Vì để cầu Phật Đạo
8. Đức Đại Nhật Như Lai
Hiện đến trong tâm trí
Dạy cho tạng Bí-Mật
Khi hôn mê tỉnh lại
Ta vui mừng khôn xiết
Thực hành pháp Mật Giáo
Thần chú Đại Chuẩn Đề
Tổng Trì Vô Giáo Môn
Thành tựu Tô-Tất-Địa
Chứng đặng pháp Chánh Giác
Bấy giờ Mãng Xà Vương được đức Phật đổi danh hiệu là Chiết Độc Hành Giả, ở giữa đại chúng siêng năng tinh tấn tu hành nhập định bảy ngày liên tiếp chứng quả La Hán. Khi Phật Mẫu Chuẩn Đề thuyết xong kinh đại thừa Diệu Đức Bản Tôn Thành Phật Tâm chú xong, có vô lượng Thánh chúng phát tâm vô thượng Đà Ra Ni. Hàng Thanh Văn, Duyên Giác tin hiểu pháp môn Bí-Mật đại phương tiện có vô số chúng sinh được tâm bất thóai chuyển. Tất cả chúng Bồ-Tát dùng các cách tôn trọng ngợi khen và phát nguyện giữ gìn kinh này đúng như pháp mà tín thọ phụng hành.
Nammô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
(Hết phẩm thứ tám)
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ TƯ
Sim Sum Pacố tình hại Phật. Đốt động Mãng Xà hành giả đến quy-y. Cầu thưa hỏi đấng Từ-Bi dạy Mật-Pháp. Thưở quá khứ tiền thân là Uế Tích, độ Xà Vương cứu chúng thoát hiểm nguy. Trọng pháp lành trong giờ phút phân ly. Tắt hơi thở Xà Vương nhớ Bồ-Tát.
Nammô Thường Trụ Thập phương Phật
Nammô Thường Trụ Thập phương Pháp
Nammô Thường Trụ Thập phương Tăng
Nam mô Chuẩn Đề Vương Phật (3 lần)





Sửa lần cuối bởi minhthien vào ngày Chủ nhật 20/11/11 20:48 với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 6 18/11/11 13:09 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ NĂM
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN
CỤ TÚC PHÁ TƯỚNG PHẨM THỨ CHÍN
Lúc bấy giờ, tại đầm Li-A-Ha cách rừng Ô-Ta không bao xa. Phật Mẫu Chuẩn Đề vì đại chúng mười lăm nghìn vị đại A-La-Hán mà nói Kinh Bí Chú Chuẩn Đề Diệu Hạnh Đà Ra Ni.
Bồ-Tát Kim Cương Mật Tích cùng với chúng Bồ-Tát sáu nghìn người sửa lại oai nghi đi nhiễu ba vòng, chiêm ngưỡng dung nhan đức Phật rồi đồng quỳ xuống bạch rằng:
- Ngưỡng bạch đấng Thánh Huệ Thế Tôn! Sao gọi là cụ túc? Nếu có cụ túc thì lẽ ra chúng sinh cũng được cụ túc, sao lại có chỗ riêng khác? Thế giới là đại đồng không có lớn nhỏ, tại sao lại có lớn nhỏ sai khác, nếu có lớn nhỏ sao được gọi là đại đồng?
Kính mong đức Thế Tôn từ bi chỉ dạy cho chúng con và chúng sinh đời sau thoát khỏi nghi lầm lớn trong đường sinh tử.
Phật Mẫu Chuẩn Đề khen ngợi Bồ-Tát Kim Cương Mật Tích, rồi vì bốn bộ chúng mà dạy rằng:
- Lành thay! Lành thay! Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Có thể hỏi Như Lai những điều khó hỏi và có thể học được những điều khó học. Như Lai vì đó mà mở bày chính pháp.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Cụ túc hay không cụ túc, chúng sinh hay phi chúng sinh. Thế giới hoặc đồng quan hay dị quan đều phải chịu chung một định luật của tạo hóa đó là vô thường. Những cái đó Như Lai đã khẳng định giữa đại chúng là pháp sinh diệt. Sao hôm nay ông lại thưa hỏi những duyên sự so sánh chấp lầm như thế !?
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Cụ túc hay không cụ túc, chúng sinh hay phi chúng sinh cũng đều có chung một Phật tính. Thế giới dù có lớn nhỏ khác nhau nhưng cũng có chung một sinh thái tương tự nhau. Các ông chớ nên phân biệt, vì phân biệt không đúng tâm sẽ rối loạn, không thảnh thơi suy nghiệm đạo lý. Người phân biệt có hai dạng:
Một là phân biệt pháp tà pháp chính để hàng phục phiền não, có ý thức không gián đoạn về việc tu hành. Rất mong cầu được pháp Vô Thương Đại Bồ Đề, trong khoảng sát na ưa vui thiền định, tu tập pháp Bí Mật Đà Ra Ni không chán mỏi. gần gũi Thiện Hữu Tri Thức để cầu chính pháp. Đó là hạng người ở chốn nhân gian rất được chúng sinh tôn thờ qúi trọng.
Hai là phân biệt pháp thế gian cao thấp, có không, hơn thua, lời lỗ, đúng sai, phải trái, thuận nghịch v.v … kết quả đem đến cho họ oán thù, phiền não, chết chóc, đau thương, làm đau đầu mọi người không có lợi ích chi cả. Hạng người này ở Thế gian rất là đông đảo không thể tính đếm thí dụ hết cho được. Lại nữa, người không có tâm phân biệt cũng có hai hạng:
Một là không phân biệt tà chính mà thường hóa giải phiền não, tu hành đại dũng mãnh mong muốn thành tựu quả vị Tô-Tất-Địa, xa lìa chỗ ồn náo, nghiên cứu chánh pháp phổ hóa chúng sinh, kính trọng Thiện Hữu Tri Thức, tôn thờ y báo và chánh báo của Phật. Đây là bậc Bồ-Tát ma ha tát thường hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thập nhị nhân duyên, Lục độ ba la mật, rất được trời người tôn kính cúng dường.
Hai là người không phân biệt tà chính mà chẳng có tâm tu hành, để cho phiền não phủ đầy. Có lúc hành thiện, có khi làm ác tạo tội không ngừng say mê dục lạc, chẳng biết gì là tốt xấu, thiện ác nhân quả. Hạng người này ở chốn nhân gian rất là đông đảo, dù có nói pháp cho họ nghe cũng ví như nói cho người điếc, dường như họ đã ngủ say.
- Này Thiện NamTử! Thiện Nữ Nhân! Do các nguyên nhân trên, nên ta nói người có tâm phân biệt không đọa mà đọa, vì người ấy chẳng giác ngộ. người không có tâm phân biệt đọa mà cũng không đọa do người ấy tự hiểu biết giác ngộ.
Các ngươi tuy nghe ta giảng dạy đây là chính pháp, đây là tội phước, đây là sự an lạc, đây là thiền định v.v … Các ngươi chớ vội nắm bắt có thể bị lầm pháp dễ dàng, vì pháp không phải dễ tu dễ học như các ngươi đã nghĩ tưởng, mà đòi hỏi quan trọng bậc nhất của người tu là ân cần tôn trọng chính pháp cầu học nghĩa lý nhiệm mầu nơi Thiện Hữu Tri Thức thời mới có thể thấu hiểu được pháp của Phật mênh mông vi diệu không thể suy lường tóm gút bằng tâm thức được, phải thành kính một lòng tiến tu học Phật nghe Pháp thời có thể hiểu được mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải chú ý.
Phật Mẫu Chuẩn Đề muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1.Ta thấy Phật mười phương
Không lường các cõi nước
Như số vi trần sát
Tu tập pháp Mật-Giáo
Tôn trọng và tán thán
Các bậc trí dõng mãnh
Siêu xuất trong Tam-Giới
Qua lại khoảng sát na
Quyền độ chúng sinh thảy
2.Bậc Thuần Thiện Chính-Giác
Thắng phục các Ma chúng
Nhổ sạch gốc phiền não
Ưa sinh vị Cam Lồ
Nhỏ giọt tưới cùng khắp
Nước pháp thanh tịnh diệu
Giúp chúng sinh thoát khổ
Trãi qua ức tăng kỳ
Dùng sức mạnh thiền định
An trú trong Mật-Tạng
Chẳng có lòng ưa vui
Hành đạo chỗ khó hành
Cương quyết thắng tà tâm
Lèo lái ý ngỗ nghịch
Chiêu dụ chúng si mê
Tu hành tập đi đứng
Nằm ngồi các cử chỉ
Oai nghi thật vững chắc
Lúc ngồi lúc kinh hành
Quan sát nơi thân thể
Mà Mật Nguyện chân ngôn
Viên thành Bi, Trí, Dũng
3. Các trí huệ của Phật
Suy gẫm khó nghĩ bàn
Tịnh Huệ, Pháp Vương Huệ
Tiển Huệ, Vân Tập Huệ
Từ Huệ, Lối chấn Huệ
Phổ Huệ, Quang Đăng Huệ
Cự Huệ, Oai Thần Huệ
Đức Huệ, Nhân Duyên Huệ
Minh Huệ, Pháp Âm Huệ
Các trí huệ như thế
Phổ cập trong chúng sinh
Như Lai giáng mưa Pháp
Mở trói buộc ngu si
Tội lỗi cùng nghiệp chướng
Khiến chúng được giải thoát
Luân hồi nơi ba cõi
Mà tu tập chính đạo
Nơi Mật-Định Chuẩn-Đề
Bản-Tôn Tối Thắng chú
Diễn rộng ý nghĩa pháp
Phân biệt các tội phước
Thiện ác được phân minh
Giúp chúng sinh hiểu đạo
Thế gian nhiều đau khổ
Nẽo ác lại thêm tăng
Tạo tội vô số kể
Không có ngày ngừng nghỉ
Si mê vào cõi chết
Như ngựa không có cương
Chạy bậy tâm thất lạc
Mà sa vào đường dữ
4. Hởi Nam Tử, Nữ Nhân!
Chư Phật thuở quá khứ
Hiện tại, vị lai thảy
Dạy chúng sinh tạo phước
Phân biệt các món hạnh
Đạo đức lòng tin chắc
Tà chính rộng mở bày
Tuyên dương ngôi Tam Bảo
Chỉ rõ Pháp Chánh Giác
Tôn trọng Thiện Tri Thức
Bậc hiếm có khó gặp
Mà học hạnh Phổ-Hiền
Tu tập cội công đức
Khiến các chúng Bồ-Tát
Ưa vui hành thiền định
Thanh tịnh tâm vắng lặng
Trần thức nhẹ thư thái
Các vọng tưởng điên đảo
Tự nhiên bị quét sạch
Nhờ phát lòng Bồ-Đề
Tinh tấn không thóai chuyển
Như vách đá nghìn năm
Đứng vững không hư hoại
Khiến vào các tam muội
Như một đại lực sĩ
Sức mạnh hàng mãnh thú
Gan dạ tâm dũng cảm
Vượt thắng mọi thử thách
Bồ-Tát cũng như thế
Tâm tịnh lòng chẳng sợ
An ổn trợ Phật đạo
Mà thực hành chánh pháp
Mở bày các phương tiện
Dạy chúng sinh ngu si
Chỉ các khổ tội lỗi
Và nguyên nhân các khổ
Bởi do nhiễm ba độc
Trãi hằng sa số kiếp
Chẳng bao giờ thoát khỏi
Kẻ ngu chẳng thấy biết
Tham chấp các tội lỗi
Mê mờ không phân biệt
Phải trái nẻo đúng sai
Mà sa vào đường dữ
5. Phật là đấng Hùng Bi
Dạy kẻ trí xét suy
Quan sát nơi bản tính
Suốt biết nơi sáu đường
Luân hồi chịu khổ sở
Chúng sinh quá dại dột
Nên ta mở đại pháp
Đánh trống Pháp thanh tịnh
Chuyển Mật Tạng Bí Yếu
Phá vỡ bóng vô minh
Thắp đuốc huệ soi sáng
Cắt đứt mọi phiền nảo
Giải thoát độ muôn chúng
Người nghe chẳng biết độ
Kẻ giác tự độ mình
Phát đại thanh tịnh nguyện
Thành tựu các Phật quốc
Trời, Người được lợi ích
Rãi hoa cúng dường đó
Tôn trọng Đại Pháp Sư
Đà Ra Ni Mật Tích
Tổng Trì vô lượng nghĩa
Nhất thiết Đại Pháp Môn
Hàng Ma độ muôn chúng
Thanh Văn nghe cảm nhận
Như uống vị Cam Lồ
Nhẹ nhàng tâm thư thái
Duyên giác bỏ nhân duyên
Tiến thẳng đại Bồ-Đề
Thân tâm hành bất-Động
Noi gương đại Bồ-Tát
Chứng nhất thiết tam muội
Đặng thành ngôi chính giác.
Bấy giờ ngài Kim Cương Mật Tích Bồ Tát lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Như Lai đã cụ túc Pháp Đẳng Giác sao hôm nay Như Lai lại nói đó là vô thường. Nếu Pháp cụ túc là vô thường thì Như Lai cũng vô thường. Xin Thế Tôn chỉ dạy cặn kẻ để chúng con và chúng sinh đời sau tránh khỏi nghi lầm lớn, am hiểu tường tận được pháp khó tu khó học khó thực hiện nhiệm màu này?
Phật Mẫu Chuẩn Đề mở bày lý tính tuyệt đối và tạng Bí Yếu của giáo môn Mật Tông mà dạy rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Pháp là thường trụ, tâm pháp của Như Lai là Tổng-Trì Đà Ra Ni chú Mật Ngữ Ngôn Tam Muội không thể nói được, không thể bàn được thì làm sao gọi đó là vô thường. Như Lai là thường trụ, pháp của Như Lai không biến đổi, vì chúng sinh ham mê theo tướng cụ túc nên ta dùng giả pháp gọi đó là cụ túc, chứ thực nó không phải là tướng cụ túc. Nếu vin theo ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Như Lai, thì đó chẳng phải là tướng cụ túc. Tướng cụ túc là Nan Thắng Đà Ra Ni là pháp tướng vô sinh diệt chẳng phải giả chẳng phải chân, chẳng phải hư chẳng phải thật. Vì pháp của Như Lai là pháp vĩnh diệt, là chỗ khó thấy khó nhận diện rất sâu, nên được gọi là Pháp Giới Đà Ra Ni. Nó không đơn giản như lời nói việc làm và sự tu tập, vì pháp cụ túc ấy không có chỗ gián đoạn, và cũng chẳng có chỗ khiếm khuyết, nên gọi đó là Toái Pháp Đà Ra Ni là Vương Pháp của môn Tam Muội Bất Sinh Bất Diệt mà chư Phật mười phương đều tôn trọng. Các hàng Bồ-Tát phải tu tập cần khổ lâu xa mới có thể thấy được. Pháp cụ túc này có hai thứ:
Một là pháp pháp tức là pháp vô phân biệt. Hai là Tối Pháp tức là pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại có hai thứ pháp tương ứng nhau:
Một là Á-Pháp là pháp nín lặng thanh bạch. Hai là Tức-Pháp là pháp lay động khó thuần phục.
Lại có hai thứ pháp so sánh nhau:
Một là hữu vi pháp là pháp có sự phân biệt. Hai là vô vi pháp tức là pháp vô phân biệt.
Lại có hai pháp phân biệt môn:
Một là Đại Đà Ra Ni pháp là pháp giới rộng lớn. Hai là Tiểu Mạn pháp là pháp giới nhỏ hẹp.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Các pháp mà ta đã nói đó là pháp so sánh, cũng là pháp tương ứng, cũng là pháp tùy cụ túc, cũng là pháp hành, cũng là pháp bất khả thuyết, cũng là pháp Án Ma, cũng là pháp khó thấy cũng là pháp tịnh, cũng là pháp động, cũng là pháp giác ngộ, cũng là pháp phá mê, cũng là pháp trừ tà, cũng là pháp tam muội, cũng là pháp Văn, Tư, Tu v.v… Ở trong tất cả pháp như thế, người tu quên thấy tướng giải thoát tức là được cụ túc, quên thấy tướng sở hành tức là đạt được pháp hành, quên thấy tướng giử giới tức là nhập pháp giới, quên thấy tướng tịnh tức là được pháp thanh tịnh, quên thấy tướng chân như tức là được pháp chân như, quên thấy tướng tà tức được pháp phá tà, quên thấy tướng tam muội, tức là được pháp tam muội, quên thấy tướng viễn ly tức được pháp viễn ly, quên thấy tướng tham, sân, si tức được pháp giới, định, huệ v.v… những tướng môn như thế rất khó học khó hành mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu cần phải học. Ta nay nói kệ rằng:
1. Vô thượng chú Đà La
Tạng báu thật sâu xa
Mật Môn Thần-Bí chú
Tịnh chú Tỳ Lô Môn
Tam muội Nhất Nghĩa Môn
Pháp trụ, pháp vô trụ
Pháp Án, Án vô pháp
Pháp tịnh, vô tịnh pháp
Pháp thiện, vô thiện pháp
Pháp giới, vô giới pháp
Pháp Mật, vô Mật pháp
Pháp Từ, vô Từ pháp
Pháp Đẳng, vô Đẳng pháp
Pháp môn, vô môn pháp
Pháp ngữ, vô ngữ pháp
Pháp động, vô động pháp
Pháp chứng, vô chứng pháp
Pháp Lý, vô Lý pháp
Pháp sự, vô sự pháp
Pháp chính, vô chính pháp
Pháp tà, vô tà pháp
Các nghĩa lý như thế
Diệu dụng không cùng tận
Trong các thế giới ác
Phật vì các chúng sinh
Đến đi và nhập diệt
Nhanh chóng nhờ phương tiện
Mở bày nghĩa Mật-Giáo
Rồi thu xếp thân tâm
Trở về cõi tịch tịnh
Chúng sinh lòng hối tiếc
Mà nghĩ Phật vô thường
Sinh tử như thế tục
Chẳng biết gì chính pháp
Là con thuyền Bát Nhã
Chuyên chở cả chúng sinh
2. Bồ-Tát vâng lời Phật
Giử gìn pháp Bí-Mật
Cố gắng tu chân pháp
Thành tựu nghĩa Bồ-Đề
Thực hành đạo vô thượng
Phương tiện tu cội phúc
Thủ trì đại thần chú
Nhập vô lượng pháp môn
Xuất sinh các cú nghĩa
So sánh các nhân duyên
Rộng tuyên bày chính pháp
Lời nói rất sâu mầu
Đại chúng nghe tin hiểu
Ưa tu tập hoan hỷ
Viễn ly thế gian pháp
Nhàm chán các phiền não
Tịnh tu pháp ly dục
Món ăn vừa biết đủ
Đi đứng nằm ngồi thảy
Các móng động cử chỉ
Nói năng các ý tứ
Đều giữ gìn giới luật
Xa lìa các nghi lầm
Các kiến chấp độc hại
Tay trắng chẳng suy nghĩ
Như trẻ nhỏ vô tư
Tinh thần nhẹ phóng dật
Mà suy nghiệm đạo mầu
Ngủ nghĩ có tiết lượng
Nghiêm trang tịnh quốc độ
Nhập vào đại tam muội
Các cản trở quấy nhiễu
Như khói như bọt bóng
Do tin hiểu sâu chắc
Bồ-Tát hành như thế
Tuy là đạo phải hành
Mà chẳng hành rốt ráo
Chư Thiên, Nhân chẳng hiểu
Phàm Thánh đều ngơ ngác
Việc tu tập quí báu
Hiếm có khó nghĩ bàn
Lần đến đạo vô thượng.
Khi ấy ngài Kim Cang Mật Tích Bồ-Tát lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Trong pháp cụ túc này chúng con và chúng sinh rất là đa nghi, vậy làm sao để phá trừ được. Ngưỡng mong Thế Tôn vì chúng con và chúng sinh đời sau mà giải nỗi nghi ngờ trọng trược này?
Phật Mẫu Chuẩn-Đề ở nơi Tam Muội Ly Cấu Hoa Quang Vô Yểm Túc Đà Ra Ni, vì ngài Kim Cang Mật Tích Bồ-Tát và hàng bốn chúng mà dạy rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Ở nơi pháp cụ túc rất đa hình, đa dạng, đa tâm thức. Các ông chớ nên nói là đa nghi. Bởi vì pháp là pháp, tâm là tâm, tướng là tướng. Ở chỗ sai lầm chính là sự thật chân lý khi các ông một lần biết xoay chiều hướng thiện. Nếu tâm pháp và tướng pháp đã đạt đến mức thuần học thì sự nghi ngờ của các ông liền biến mất.
Dù các ông đã được cụ túc mà các ông chẳng thấy tướng cụ túc, tâm cụ túc nữa. Vì sao?
Giả sử các ông thấy được tướng cụ túc thì tướng ấy cũng không tồn tại vĩnh viễn, tâm cụ túc cũng lại như vậy. Nay ta lấy một ví dụ ông Trưởng Giả có nhiều của báu riêng lạ khác nhau. Duy nhất ông chỉ có một người con trai tuổi đã mười tám, thấy cha tiền của dồi dào, nó muốn thấy các kho báu. Biết được tâm niệm của con, ông Trưởng Giả suy nghĩ rằng:
- Tuổi nó còn trẻ chưa đủ sức kham nhuận các kho báu lớn và nó chẳng biết giá trị của các vật báu như thế nào. Nay ta phải khéo phương tiện để dạy cho nó giữ gìn các kho báu ấy.
Nghĩ xong ông Trưởng Giả đem con đến tiệm Kim Hoàn bắt làm công nô dịch. Nó rất bực bội mà nghĩ rằng:
Ta đã nhiều lần muốn thấy kho báu và đã nói cho cha nghe, nay chắc cha sợ ta chiếm đoạt kho báu nên đem ta đày làm nô dịch cho tiệm Kim Hoàn để rảnh nợ!!!
Tuy nó nghĩ như vậy, nhưng vì thế lực của ông Trưởng Giả rất lớn mọi người đều nể sợ, nên nó không dám chống cãi, một ngày ra công bị đày đọa làm các công cụ vật báu thật là vất vã, trải qua năm năm lần quen công việc. Ông Trưởng Giả liền đến nói với chủ tiệm Kim Hoàn tạ ơn rất hậu, rồi dẫn con về, mở bày các kho báu cho nó nhìn thấy. Bấy giờ người con đã trưởng thành trong vất vả và kinh nghiệm của cuộc sống, nó rất kinh ngạc khi thấy ông Trưởng Giả đổi ý và tất cả sự nghi ngờ hôm nay bỗng nhiên biến mất. Ông Trưởng Giả nhìn con rồi dạy rằng:
- Những của báu cha đã làm ra rất là vất vả. Nay nó thuộc về của con mà cha nhận thấy rất là xứng đáng và hợp lý.
Lúc ấy người con mới nhận được lỗi lầm hư vọng đa nghi của mình và sám hối với ông Trưởng Giả, thì ông cũng vừa qua đời.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Như Lai dù biết các ngươi có nhiều sự đa nghi như thế, nhưng Như Lai không hề chống cản, Như Lai chỉ âm thầm dạy cho pháp phương tiện cứu cánh, để đạt được mục đích cao thượng đó là dứt bệnh nghi lầm phiền não khổ đau, rồi bất ngờ thọ ký cho các ông. Ví như ông Trưởng Giả vì thương con khờ, nên bày ra phương tiện, rồi chỉ kho báu và nói cho nó biết “Đây là của con”, Như Lai cũng lại như thế.
Bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn-Đề hỏi ngài Kim Cang Mật Tích Bồ-Tát rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Ông Trưởng Giả đối với con như thế có lỗi hư vọng chăng?
Ngài Kim Cang Mật Tích Bồ-Tát thưa rằng:
- Không! Vì ông Trưởng Giả muốn cho người con thấy sự giá trị của các kho báu mà ông đã tích lũy từ bấy lâu nay.
Phật dạy:
- Như Lai cũng lại như vậy, ta chẳng tiếc gì đối với pháp bảo rộng lớn vô bờ bến mà không thọ ký cho các ông, chỉ vì các ông chưa biết được sự giá trị của nó, nên các ông phải lo tu tập pháp phương tiện mà Như Lai hằng chỉ dạy, thời các ông sẽ được dứt trừ các nghi lầm trong tâm tư, và thấy rõ được các món pháp bảo giá trị không có gì so sánh được.
Nói xong Phật Mẫu Chuẩn Đề im lặng vào định Tổng Trì Bản-Tôn. Ngài Kim Cang Mật Tích Bồ-Tát khen ngợi tán thán công đức Phật rằng:
- Thế Tôn! Vì thương xót chúng con và chúng sinh đời sau mà dứt trừ những nghi lầm đang quấn lấy chúng con. Thế Tôn là đấng Đại Diệu Dụng hùng mãnh vượt qua tất cả phiền não và sự mê mờ, là đấng Siêu Thiện Huệ sáng suốt soi rọi vào tâm chúng con, là đấng Đạo-Sư Đại-Hải-Chúng hay giúp đỡ chúng sinh vượt qua dòng sinh tử đến bờ giác ngạn bên kia.
Chúng con xin quy-y Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Chúng con xin quy-y Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Bồ-Tát tán thán vừa xong, rồi muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Đấng Hùng Mãnh đại từ
Khắp hiện vô biên Thân
Một thân trong ức cõi
Dùng vô số phương tiện
Mở bày pháp chính giác
Trí sáng như nhật, nguyệt
Bậc siêu huệ siêu thánh
Cụ túc mũ Tỳ-lô
Bí Mật chân ngôn chú
Thành tựu Tô Tất Địa
Khó sánh khó bì kịp
2. Như Lai Tối Chánh Giác
Bậc Tịnh Diệu bất động
Phương tiện bày Mật Pháp
Thuyết môn đại Cam Lộ
Chuyển pháp chơn Bí-Yếu
Độ vô lượng chúng sinh
Dứt sạch các món chấp
Nghi ngờ, tà kiến thảy
Phá hư các phiền não
Mà chỉ đường chân lý
Giúp tối được chỗ sáng
An trụ đại tam muội
Tổng Trì diệu pháp lớn
Nhờ tu tập thần chú
Chuẩn-Đề Đại Bản-Tôn
3. Phật bỏ ác tu thiện
Trải qua ức tăng kỳ
Hằng độ kẻ đại ác
Ít thấy khó nghĩ bàn
Kẻ trần gian mê muội
Ngu si vào đất chết
Nghiệp chướng làm mê ám
Phá hoại cả thân tâm
Các tai nạn kinh sợ
Quấn lấy không ra khỏi
Thế lực và ham mê
Sắc đẹp và quyền quý
Vàng bạc, châu báu thảy
Khiến chúng sinh chẳng thấy
Các tai nạn nguy hiểm
Hầm hố và vực thẳm
Ngục tù và hình phạt
4. Do đó Phật phương tiện
Phá ác độ tối tăm
Giải thoát những trói buộc
Rồi chỉ đường chính giác
Dạy rõ các nhân quả
Tội báo và ác báo
Nghiệp báo không định hướng
Bởi loạn tâm mê chấp
Không thấy được chơn lý
Rong ruổi chốn trần nhơ
Như kẻ thất lạc cha
Đói no và ấm lạnh
Thiếu thốn tình thân thương
5. Phật an tịnh Mật-Chú
Trụ vững nơi các pháp
Thiền định rất sâu mầu
Oai nghi thắng phục chúng
Lời nói nghe êm dịu
Mở bày các tịnh-độ
Tuyên dương pháp Mật-Giáo
Đánh trồng pháp vũ lớn
Diễn pháp nghĩa rộng lớn
Chiêu mộ bậc đại trí
Khiến đó vào Mật-Định
6. Như Lai vô lượng giác
Tổng Trì chân thiện pháp
Giữ vững Phật pháp tạng
Truyền thừa Bồ-Tát tăng
Chỗ sâu mầu khó hiểu
Việc làm cũng như thế
Trãi qua vô lượng kiếp
Dường như thoáng mau qua
Nay kinh tạng Mật-Giáo
Xuất thế độ muôn chúng
Khiến kẻ trí hiểu biết
Chẳng lầm pháp ngoại đạo
Mà xa lìa tội khổ
Giác ngộ cho chúng sinh
Giữ gìn ấn pháp Phật
Vì Phật vốn phi Phật
Vì Pháp vốn phi Pháp
Vì Tăng vốn phi Tăng
Ngoại Đạo phi Ngoại Đạo
Giác ngộ phi giác ngộ
Mê mờ phi mê mờ
Thuận nghịch có biến đổi
Chính tà có qua lại
Khác nhau tâm trong sạch
7. Do đó Phật phương tiện
Mở bày nghĩa Kinh này
Diễn Pháp Mật-Giáo môn
Cú pháp ly tự pháp
Không có chỗ đến được
Khen chê đều dứt bặt
Tịnh chú lặng hư không
Giả sử bị hủy báng
Hoặc đâm, trói, chém giết
Cũng không hoại được pháp
Hoặc kinh điển Chuẩn-Đề
Bị xé rách đốt mất
Cũng không hoại được pháp
Giả sử có kẻ ác
Đập phá các tôn tượng
Mắng nhiếc nhẫn nhục đó
Chính Pháp Tạng Mật Giáo
Do lẽ đó hưng thịnh
Như ngài Khổng Tước Vương
Phá Phật hại chư Tăng
Nhờ đó có tiếng Phật
Danh hiệu Đại Chuẩn Đề
Tiếng đồn khắp mười phương
8. Nếu có người cung kính
Chuẩn Đề tôn tượng lễ
Vì để cầu đắc pháp
Thành tựu đại chân ngôn
Thân tâm phải trong sạch
Các niệm tưởng bất động
Sức cảm ứng mầu nhiệm
Lòng thành được chứng biết
Bảy mươi ức đức Phật
Phân thân hộ niệm đó
Nhờ tụng chú Chuẩn-Đề
Đắc pháp chẳng đắc pháp
Vì pháp chẳng đắc được
Muốn đắc được Phật pháp
Phải nhờ tâm chân chính
Cho nên chỗ mong cầu
Lâu xa khó đến được
Tâm bến, chí giữ vững
Vượt các chướng phiền não
Các vấp ngã vướng vít
Thuần tiện niệm chân ngôn:
Án Chiết Lệ Chủ Lệ
Chuẩn-Đề ta bà ha
Sức mạnh đại thần chú
Chuyên chở các Mật Pháp
Tích tụ vào tạng báu
Khiến đó được thành tựu
Vào ngôi Tối Chánh Giác
9. Như ông Trưởng Giả kia
Của báu đầy vô lượng
Không vội truyền cho con
Dùng trí huệ phương tiện
Dạy cho nó hiểu rõ
Các kho báu làm ra
Rất vất vã cực khổ
Trước chẳng phải hiếu tử
Vì nghi lầm nơi cha
Sau hiểu được lời dạy
Hành động rất đúng đắn
Lại được cha chu cấp
Tất cả các của báu
Nổi mừng vui vô lượng
Khó nói khó nghĩ bàn
Tâm nghi ngờ biến mất
Lòng cung kính dâng trào
Nhờ người cha phương tiện
10. Đức Phật cũng như thế
Thương xót các chúng sinh
Tính dục chưa Gội rửa
Mê muội nhiều tham chấp
Cùng phiền não trọng trược
Nên nói pháp giáo hóa
Niết Bàn chân thị tịch
Chỉ bày các cảnh giới
Bằng sức Diệu Phương Tiện
Rồi xóa bỏ kiến chấp
Khiến chúng mau giác ngộ
Thành vô thượng Bồ-Đề.
Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)
(Hết phẩm thứ chín)
——————————————



Sửa lần cuối bởi minhthien vào ngày Chủ nhật 20/11/11 20:47 với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 20/11/11 20:45 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ NĂM
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN
ĐIỀU NGỰ PHẨM THỨ MƯỜI
Lúc bấy giờ đức Phật Mẫu Chuẩn-Đề xuất nhập nơi các môn tam muội thân và tâm chẳng động. Tên các tam muội ấy là: Bất Động chuyển tam muội, Mật Ấn Quang Minh tam muội, Thiện Thiên Nhãn tam muội, Thiện Thiên Nhĩ tam muội, Phật Ấn môn tam muội, Hàng Phục Ức Ma tam muội, Tồi Tà Phụ Chính tam muội, Nhập Pháp giới tam muội, Tổng Trì Huệ tam muội, Phổ Ứng Quang tam muội, Chúng Sinh Ngữ Ngôn tam muội, Thiên Thủ tam muội, Duyệt Bảo Ấn tam muội, Quán Thế Âm tam muội, Đại Phấn Tấn tam muội, Hư không tam muội, Biến Cát Tường tam muội, Đức Sinh tam muội v.v… và các tam muội không bao giờ ngưng dứt. Bảy mươi ức câu chi đức Phật đồng hiện phân thân, chư phật mười phương đồng đến tán thán danh hiệu của Phật Mẫu Chuẩn-Đề rằng:
- Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Âm thanh tán thán ấy vang dội lan dần ra mười phương. Chư Thiên, Nhân, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân Phi Nhân v.v… đồng đến rải hoa cúng dường, dùng các kỹ nhạc, âm hiệu khác nhau để ca ngợi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Khi ấy có một vị La Hán tên là Chiết-Độc Hành Giả Đã được Phật thọ ký, đứng dậy đi nhiễu ba vòng rồi chắp tay quỳ xuống mà bạch rằng:
- Bạch đức Đại-Bi Thế-Tôn! Chúng con sống trong vô minh tăm tối, bị tham sân si trói buộc lòng chẳng nhàm chán. Muốn đặng trí huệ của phật dường như xa cách. Ngưỡng mong Thế Tôn thương xót chỉ dạy cho chúng con rõ được lỗi lầm xa lìa sinh tử đến đạo Bồ-Đề, tu hành chẳng còn thóai chuyển nữa?
- Phật Mẫu Chuẩn-Đề từ nơi các môn tam muội dậy an lành, mỉm cười khen ngợi Chiết Độc Hành Giả rồi dạy rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Cái vô minh chẳng phải vô minh, vì do vọng tưởng nên mới gọi đó là vô minh dụ như đất. Cái vọng tưởng chẳng phải là vọng tưởng dụ như cỏ rác. Cái tham sân si dụ cho tâm địa đen tối độc ác. Nếu có người muốn cởi mở khai phóng vô minh tội lỗi thì người ấy phải có một sức mạnh dồi dào kiên cố nơi tâm trí để sắp xếp các món phiền não cỏ rác thành một hàng ngay ngắn, rồi dùng đất vô minh lấp lên làm cho cỏ chết, đất sinh ra chất màu mỡ. Dùng các môn tam muội Đà Ra Ni dụ như cây hoa trồng lên đất. Cây hấp thụ được đất và chất màu sẽ mau lớn cho nhiều nhánh tốt và các thứ loại hoa khác nhau do người ấy vun trồng và tưới nước hằng ngày đó là lòng tin và đức tin, sự cung kính đối với pháp báu. Ba đời chư Phật đều do nơi đây mà thành tựu quả vô thượng đại giác ngộ. Màn vô minh đen tối tự nhiên biến mất, dùng đất tâm trở thành vườn hoa đạo đức rực rỡ muôn màu muôn vẻ thích hợp cho ánh mắt của tất cả chúng sinh. Bảy mươi ức câu chi đức Phật cũng đều do sức mạnh tin tưởng kiên cố nơi pháp môn phương tiện Mật Giáo Chuẩn Đề Đà Ra Ni này mà thành quả vị Tô Tất Địa. Trong đời Mạt-Pháp ở cùng hư không thế giới có rất nhiều những kẻ dùng sức mạnh của Tà-Định-Tụ biến Đà Ra Ni pháp thành những Linh Phù rất lợi hại, chủ ý phá hoại công hạnh của người tu theo giáo môn Mật-Tông và làm cho chúng sinh nhiều điều mê hoặc v.v…
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhân! Trí huệ của Phật vốn không xa cách đối với chúng sinh, chỉ vì vọng tưởng phiền não mà chúng sinh vượt qua không được. Phật tính không ngoài tâm chúng sinh, nhưng tội lỗi tham sân si che đậy, nên chúng sinh không thấy được pháp chân chính, chỉ vì mê muội trong sinh tử, thì dù có muốn hết khổ cũng không thể được. Ví như người bệnh muốn được khỏi bệnh mà không chịu uống thuốc thì căn bệnh vẫn còn hoài. Nếu có Trang ThiệnNam, kẻ Thiện Nữ thấy rõ tội lỗi của chúng sinh gấp tâm đoạn trừ vượt qua các chướng ngại của Thế gian và Xuất Thế gian. Người này đem tâm lành cầu chính pháp, quên bỏ vật chất thường tình, quên bỏ ác dục, nhục dục và bạo dục. Hay tu trì giới đức, công hạnh chân thật ở nơi pháp Chuẩn-Đề Đà Ra Ni đẳng đẳng chú:
“Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề ta bà ha”
không gián đoạn, được Minh Sư chỉ dạy rõ ràng. Thâm tâm không phân biệt sự lý và cảnh vật chung quanh, tinh thấn phóng khoáng, khởi đại từ tâm chẳng thấy sinh tử, khởi đại bi tâm chẳng thấy khổ đau và phiền não, khởi đại hỷ tâm chẳng thấy cảnh vui của thế gian, khởi đại xã tâm bố thí rộng lớn cùng khắp lòng chẳng lay động. Thường an trụ nơi các môn tam muội mà vui chơi thỏa thích, dứt trừ các trói buộc của phiền não dễ dàng, tức thời vô minh tan biến, trí huệ khai mở sáng suốt ít ai bì kịp mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu cần phải học. Bấy giờ đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Bảy mươi ức câu chi
Cùng mười phương chư Phật
Tán thán và ca ngợi
Đức Mật chủ Đại Pháp
Ánh sáng chiếu Thế-gian
Xoa dịu lòng muôn chúng
Các khổ não oan nghiệt
Tự gây và tự tạo
Sinh vào nhà bạo ác
Chịu hình phạt khổ sở
Phật thương xót chúng sinh
Dẹt ác phá tối tăm
Khai sáng đường Chính giác
Khiến mọi người ưa thích
Bỏ khổ diệt các khổ
Si ái và mê chấp
Cắt đứt mối lo sợ
Mà niệm chú Chuẩn-Đề
2. Đấng đạo sư Giải Thoát
Tu theo hạnh Bí-Mật
Nhập vào các tất địa
An trụ đại chân ngôn
Dùng sức mạnh nội tại
Trí dũng khéo lướt lên
Mẫn huệ soi sáng khắp
Tự thân cúng dường Phật
Bồ Tát là đạo sư
Dùng các cách phương tiện
Hương hoa hoặc đèn nến
Chiên đàn cùng trầm thủy
Hương bột, hương xoa tốt
Huân lục, bạch giới tử
Gỗ quý tịnh đạo tràng
Trang trí nơi Mật-Thất
Lặng lẽ mà nhập định
Tổng Trì đại chân ngôn
Vô số nghiệp báo ứng
Cũng không thể đến được
Nhờ tụng chú Chuẩn-Đề
3. Đấng Vô Lượng Thiên Tôn
Thành tựu đại chân ngôn
Gương mặt rất tươi tỉnh
Ung dung và tự tại
Trãi qua nhiều số kiếp
Pháp tu tập kiên cố
Được đầy đủ công đức
Năng lực khéo diệu dụng
Phá hoại giới Ma Chúng
Hàng phục Quỉ, Súc Sinh
Có Bát Bộ Kim Cang
Theo hộ vệ chính pháp
Cầm đủ thứ binh khí
Mặt sắt rất hùng mạnh
Phá tà chống tiêu tan
Cùng bốn vị Bồ Tát
Thị hiện đại Kiện Tướng
Đôi mắt sáng như sao
Khó thoát các chỗ hở
Xuyên phá vùng tăm tối
4. Hỡi này Thiện Nam Tử!
Tính vô minh phiền não
Do hành động phát sinh
Và ý thức điên đảo
Mà tạo ra danh sắc
Khiến sáu căn tập nhiễm
Đụng chạm gây xúc cảm
Thọ nhận các thiện ác
Thương yêu cùng bảo thủ
Từ đó có nhân quả
Sinh ra đủ món duyên
Đến Ưu, Bi, Lão, Tử
Rồi trở lại vô minh
Xoay tròn không chấm dứt
5. Hàng Thanh Văn nghe thấy
Chẳng biết đó là chân
Ham tranh lấn hơn thua
Duyên giác nghe hiểu biết
Liền muốn thoát sinh tử
Ngồi Mật Thiền vắng lặng
Hoặc thay đổi oai nghi
Tinh tấn không nhàm mỏi
Chỉ biết tự độ mình
Quên thân cùng cảnh vật
Vì để cầu chánh pháp
Thành tự Nhất Thiết Trí
6. Bồ Tát hạnh Bí-Mật
Không lường đức thậm thâm
Chuyển thân các quốc độ
Sinh tử như vi trần
Qua lại rất nhanh chóng
Gần gũi như chúng sinh
Tu sáu ba la mật
Thực hành tứ vô úy
Bản nguyện không cùng tận
Sức thiện độ đầy đủ
Chính giới phá Ma Giới
Dường như ảo thuật môn
Thành tựu vô lượng pháp
Tập chủng các trí huệ
Mật-Huệ, Pháp Đại Huệ
Tịnh Huệ, Liên Hoa Huệ
Hải Huệ, Từ Mẫn Huệ
Đạo Huệ, Chính Giác Huệ
Giới Huệ, Bình Đẳng Huệ
Phật Huệ, Hư Không Huệ
Pháp Huệ, Vô Biên Huệ
Tăng Huệ, Viên Mãn Huệ
Các trí huệ như thế
Nơi tịnh diệu Mật-Ý
Đà-Ra-Ni Tổng-Trì
Nhờ chuyên tu giới đức
Ý nghĩ tâm ngay ngắn
Cử chỉ hoặc nói năng
Đều thuận theo chính Pháp
Chiêu mộ lòng chúng sinh
Chuyển mạnh bánh xe pháp
Tuyên dương Phật Pháp Tạng
Mở bày Mật-Giáo môn
Chỗ tu tập chân chính
Giúp sáng nghĩa đạo lý
Mà diễn thuyết kinh này
Sâu thẳm vượt tất cả
Tứ chúng đều kinh ngạc
Sức mạnh như Kình Ngư
Chẳng sợ sóng gió lớn
Kinh này là bậc nhứt
7. Chư Phật hằng khen ngợi
Sáng suốt hơn các kinh
Chỗ Bồ Tát quy thú
Thành bậc tối chính giác
Đều nương theo kinh này
Nơi ngàn muôn ức cõi
Chỗ hư không đại địa
Hoặc nhỏ bằng lỗ kim
Do bản đại thệ nguyện
Tùy tâm các chúng sinh
Chuẩn-Đề Vương đức Phật
Liền vì đó thị hiện
Phân thân các Bồ Tát
Mà diễn thuyết kinh này
Chỗ xuất xứ thiện niệm
Nuôi dưỡng chư Hiền Thánh
Vân tập chúng Bồ Tát
Duyên Giác, Thanh Văn thảy
Và bát bộ Thiên Long
Đều nương theo kinh này
Chỗ Bí Yếu sâu mầu
Năng trừ nguy hiểm nạn
Ứng nhập rất nhanh chóng
Cứu thoát độ quần sinh
Hoặc đọa chốn Tam Đồ
Chịu ngục hình khổ sở
Ngày đêm không ngừng nghỉ
Nghị lực đã khô cạn
Mòn mỏi rất yếu ớt
Bỗng nhiên được giải thoát
Đều nương nơi kinh này
Sức huệ mầu sáng suốt
8. Chư Phật mươi phương cõi
Vân tập đến nơi đây
Vì để nghe kinh này
Trong hiền kiếp, kiếp nạn
Ưa xuất hiện kinh này
Nếu có kẻ trái nghịch
Lợi dụng môn thần biến
Để tạo thành tà pháp
Mà phá hoại kinh này
Trãi qua nhiều nghìn năm
Do bản đại thệ nguyện
Khiến kẻ ác hoàn lương
Mà tu tập kinh này
Độ vô lượng chúng sinh
Thành Vô Thượng Chánh Giác
Nammô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ NĂM

Pháp Mật Thừa Bồ Tát cầu giảng nói. Nghĩa thậm thâm Phật hóa giải nghi nan. Tâm phân biệt chúng sinh vướn tai nạn. Pháp cụ túc khó ngẫm suy lường được. Mật tướng môn phơi bày nghĩa giải thoát, thí dụ ngầm thông đạt chỗ ẩn tàng. Đấng Điều Ngự nói vô thường khổ ải, bày tử sinh nói dụ pháp đức tin.
Nammô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nammô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nammô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Chuẩn Đề Vương Phật (3 lần)
(Hết phẩm thứ mười)


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 24/11/11 12:51 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ VI
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN
TẾ ĐỘ TỲ KHEO DIÊM ĐÊ RA PHẨM THỨ MƯỜI MỘT
Lúc bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề cùng với bốn bộ chúng an trú trong Mật Định Tam Muội Tổng Trì vào lúc giữa đêm. Tỳ Kheo Diêm Đê Ra thân thể đầy máu, các vết thương trên người ông quá nặng té xuống ngất xỉu giữa pháp hội. Ngài Chiết Độc Hành Giả đỡ Tỳ Kheo Diêm Đê Ra, rồi dùng sức thần thông phương tiện thu hết máu độc và truyền vào người ông một luồng dương khí cực thịnh khiến cho ông lần hồi tỉnh lại. Tỳ Kheo Diêm Đê Ra thấy thân mình chẳng có một chút máu thì vô cùng kinh ngạc. Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề dạy rằng:
- Ông nên tạ ơn ngài Chiết Độc Hành Giả, vừa rồi người đã cứu ông thoát khỏi tai nạn hiểm nghèo ấy.
Tỳ Kheo Diêm Đê Ra quỳ lạy Chiết Độc Hành Giả rồi bạch cùng đức Phật rằng:
- Kính bạch đấng Thánh Huệ Thế Tôn! Con là người vô trí, vì nghe lời Tỳ Kheo Sim Sum Pa nên đã gây ra vô lượng tội ác. Hôm nay con quỳ trước Thế Tôn và đại chúng cầu xin sám hối, sau là cầu Phật dùng hình phạt để nghiêm trị kẻ tội đồ. Rất mong Phật vì đệ tử chúng con mà chỉ dạy cho phương pháp tu hành thoát khỏi sự trằn trọc khổ đau trong kiếp sống hiện tại.
Phật Mẫu Chuẩn Đề ôn tồn dạy bảo:
- Này Tỳ Kheo Diêm Đê Ra! Trước kia ông ở trong pháp hội của Như Lai, Như Lai đã vì ông chỉ dạy cho những thiện pháp. Sau khi ông rời khỏi pháp hội để làm những ác nghiệp, nhưng thân tâm ông không chịu làm. Hôm nay ông trở về đây chính là để cầu thiện pháp vi diệu của Như Lai.
- Này Tỳ Kheo Diêm Đê Ra! Trước, sau và hôm nay ba thời này cũng không có gì thay đổi. Tại sao ông cầu Như Lai làm pháp nghiêm trị. Như Lai đã sẵn lòng đại bi thương xót chúng sanh như con một. Như Lai là chổ nương nhờ rộng lớn không có gì sánh kịp. Như Lai hay cứu hộ tất cả chúng sinh không chán mỏi. Như Lai ví như vị Đại Lương Y gỡ mũi tên độc tham, sân, si cho chúng sinh mà chẳng bao giờ nghĩ đến công lao. Như Lai hay ban pháp vô úy giải thoát Cam Lộ cho chúng sinh được giải thoát. Như Lai hay đánh thức cơn mê mờ của chúng sinh từ nay đến vô lượng ức kiếp. Như Lai là bậc đạo sư của cả thảy chúng sinh ứng cúng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như Lai đã bỏ tất cả những món đồ chơi hung hiểm của Thế Gian. Như Lai đã dứt trừ tất cả những tư tưởng điên đảo, thù oán, ganh ghét, khôn ngu, tỵ hiềm, trách móc, đua đòi, thắng bại, phải trái v.v… Như Lai đã thành tựu những pháp khó tu khó học mà Trời Người không làm được. Thế gian hết sức ca ngợi, tôn trọng cúng dường, tán thán kinh Chuẩn Đề Đệ Nhất Bản-Tôn này. Kinh này là tạng báu trong các kinh, được chư Phật mười phương ủng hộ và phân thân đến nghe pháp. Nếu chỗ nào có ánh sáng của Viên Minh Bố Liệt Phạn Thư Đồ phải biết chổ đó có phân thân của chư phật mười phương. Chư Bồ-Tát thường bảo vệ đó, ủng hộ giúp sức cho người trì tụng kinh này được đầy đủ bản nguyện công đức. Nếu có pháp sư diễn nói kinh này có chỗ bị quên mất, chư Phật vì kinh này khiến cho vị pháp sư ấy được lưu thông giảng nghĩa đầy đủ, pháp âm thâm diệu. Chúng sinh nghe pháp vui ưa phát tâm tu tập theo con đường chân lý của Giáo Môn Mật Tông. Cõi hư không đại địa do sức thâm nhập thần chú đại Tổng Trì Chuẩn-Đề Tối Thắng Tôn Đà Ra Ni này, khiến cho vạn vật đều sinh mầm phước thiện hoan hỷ. Bông hoa cây trái xanh tươi, cỏ nước, vườn, rừng, ao tắm, đất đai, núi non, sông, biển tự nhiên phát sinh vật báu và các bậc Thượng Sĩ Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Các loài sinh vật trở nên hiền hậu thuần hóa dứt sự khủng bố của các loài mạnh mẽ hơn nó. Cõi đất muôn hoa đua nở, cung điện, lâu đài bỗng nhiên xuất hiện. Quốc độ tự trang nghiêm và thấy các Phật quốc cũng lại như thế. Trong gió hư không lại có tiếng vang vi diệu như ngàn nhạc âm, khiến cho thân tâm của chúng sinh tín ngưỡng tu hành, lễ bái, trì niệm đắc nhập các môn tam muội. Đó là do sức mạnh thuần hậu của Như Lai đã trải qua vô lượng thế giới thành tựu pháp môn Bí-Mật Bản Tôn Chuẩn Đề Đà Ra Ni chú:
Khể thủ qui-y Tô Tất Đế
Đầu diện đãnh lễ Thất Câu Chi
Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn-Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ
Nammô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha.
Án chiết lệ chủ Lệ Chuẩn-Đề Ta bà ha.
Bấy giờ phật Mẫu Chuẩn-Đề muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Đấng Siêu Thắng Tự Tại
Bi, Nguyện vượt thế gian
Trong nghìn muôn ức cõi
Ta bỏ công khổ nhọc
Quên cả sự chết chóc
Mà tu tập kinh này
Dùng mãnh lực thiện pháp
Hóa giải các triền phược
2. Như Lai Chân Mật Giác
Tính thể rất kinh lạ
Xưa nay chưa từng có
Mở nhẹ tạng Bí-Yếu
Chuyển động bánh xe pháp
Rung động đến mười phương
Luân chuyển rất êm dịu
Làm vui đẹp lòng chúng
Dạo đi khắp cõi nước
Sáu điệu đều vang động
Danh đồn, tiếng khen thảy
Bậc nhất của ba cõi
Thầy dạy khắp Trời, Người
Thành tựu chân Mật Pháp
Món Bí-Pháp Tam Muội
Ẩn sâu niệm Tổng Trì
Đà la đại thần chú
Tóm thâu Tối Mật Môn
Pháp nghĩa rộng diễn nói
Trước sau, thượng trung hạ
Lời lẽ rất trong sáng
Nhiếp phục lòng chúng sinh
Đạo đức được hưng thịnh
Phát huy đường chánh giác
Tứ chúng đều hoan hỷ
Nương theo Phật Pháp Tạng
Thủ trì giới, định, huệ
Xa lìa sự chơi cười
Im lặng tâm bền bỉ
Lúc động tâm, tịnh tâm
Hoặc động hoặc thanh tịnh
Oai nghi là cấm giới
Tính lặng như hư không
Ít nói lòng an ổn
Nghiệp thức liền chấm dứt
3. Đấng Đạo Sư Đẳng Huệ
Diễn nói bốn nghĩa đế
Dạy chúng sinh vào đạo
Đoạn lìa cả hai bên
Thiện ác đã thuần thục
Mà nhân quả chẳng sinh
Ta nói pháp xuất thế
Thành vô thượng Bồ Đề
Bấy giờ Tỳ Kheo Diêm Đê Ra lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Cớ sao ngài không tổ chức ra Giáo Hội để cho việc tu hành được mở mang rộng lớn hơn. Thế Tôn lại để cho Tỳ Kheo Sim Sum Pa thành lập Giáo Hội dùng nhiều thế lực nguy hiểm hãm hại đức Thế Tôn như thế. Cúi mong Phật từ bi rộng lớn chỉ dạy cho hàng hậu học chúng con những pháp chưa hiểu biết được sáng tỏ thuần thục.
Phật Mẫu Chuẩn-Đề mĩm cười chỉ dạy cho ông Tỳ Kheo Diêm Đê Ra rằng:
- Này các Tỳ Kheo! Các ông chớ nên nói rằng Như Lai đã sáng lập ra Giáo Hội Du Già để cho bực hiền thánh chê ta là người vô trí tham danh cầu thực. Cái danh ấy chỉ để cho người đời ca tụng. Còn việc tu hành của Như Lai không cần ai biết đến, có như vậy pháp tu của Như Lai mới được tồn tại nơi thế gian. Các ông chớ nên nói Như Lai dùng hình luật để nghiêm trị kẻ tội đồ như ông. Như Lai đã tự nghiêm trị nơi bản thân mình rất khắc nghiệt, và đã bỏ thân mạng để cầu chính pháp. Vào thời Hiền Kiếp, ta đã vì người cần ánh sáng mà hiến cho đôi mắt, đã vì người cần thịt mà cắt bỏ thân mình, đã vì hổ đói mà thí thân, đã vì cha mẹ mà lấy máu trị bệnh cho song đường, đã vì vua mà chết thế cho bực minh quân v.v… Đó là những việc làm hiếm có khó được mà trong thế gian Trời, Người, Rồng, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh không ai làm được.
- Này các Tỳ Kheo! Không phải ở trong hiền kiếp Như Lai mới làm việc bố thí thân mạng, mà thực sự Như Lai đã bỏ thân trải qua ba A Tăng Kỳ Kiếp trong vô số kiếp làm những việ khó làm, tu những pháp khó tu như thế. Vì vậy Như Lai tuyên bố giữa pháp hội rằng: Như Lai chẳng có tổ chức Giáo-Hội để nghiêm trị kẻ tội đồ. Như Lai là đấng Chánh Giác hay giác ngộ cho kẻ lỗi lầm biết con đường tu hành giải thoát. Như Lai không bị trói buộc bởi tính hiếu kỳ của Thế gian và Xuất Thế gian. Như Lai không bị sự phân biệt làm ô nhiễm và cũng chẳng bị pháp vô phân biệt làm nhiễu loạn. Như Lai là bậc Tịnh Trụ Đà Ra Ni thành tựu đầy đủ Mật Giáo môn tam muội ở nơi pháp nhất nghĩa, nhất cú, nhất môn, nhất pháp, nhất âm, nhất trụ, nhất tướng, nhất vị v.v… tiến thẳng đến quả vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ông Tỳ Kheo Diêm Đê Ra nghe lời Phật dạy, sinh lòng Hoan Hỷ Đà Ra Ni, tâm lành nẩy nở, sức cung kính và tinh tấn vượt lên làm cho ngài phát tâm đại Bồ-Đề thọ trì thần chú Chuẩn Đề theo đúng con đường tu tập của giáo môn Mật Tông. Ông Tỳ Kheo Diêm Đê Ra lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Chúng con đã bị mũi tên sinh tử ghim chặt vào người rất là sâu nặng, vết thương bị nhiễm độc trải qua vô lượng kiếp khó bề chữa trị. Rất may mắn thay có đấng Đại Pháp Vương sáng chế thuốc lành chữa tâm bệnh cho chúng con. Hôm nay con nghe lời Phật chỉ dạy khiến cho tội lỗi biến mất, thân tâm an ổn dường như nhổ được mũi tên sinh tử của nhiều đời nhiều kiếp đã qua.
- Thế Tôn! Rất mong người từ bi chỉ dạy cho chúng con biết cái lỗi của sinh tử, và nguyên nhân nào sinh ra vô minh. Ngưỡng mong Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con phương pháp nào sống trong vô minh mà chẳng bị vô minh lôi cuốn, và phương pháp nào sống trong sinh tử khổ đau mà thân tâm chẳng bị trói buộc?
Phật Mẫu Chuẩn Đề mĩm cười ôn tồn chỉ dạy:
- Này các Tỳ Kheo! Cái lỗi của sinh tử từ xưa đến nay chẳng bao giờ có. Sở dĩ mà có là bởi tập nhiễm theo tính xấu của Thế gian. Các Tỳ Kheo hãy quan sát quá trình sống của con người từ khi còn tấm bé sinh ra lớn dần đến mười ba tuổi, trong tuổi ấu thơ nó chẳng biết tạo tội là gì và thiện ác là gì? Này các Tỳ Kheo? Khi nó ở tuổi mười bảy cho đến già, do tập nhiễm thói quen xấu của thế gian nên cái lỗi sinh tử từ đó mà sinh ra. Nếu có người trí thiện căn đầy đủ thấy rõ ác tâm ưa phát sinh nơi bản tính thanh tịnh của mình, lòng muốn xa lìa tìm Thiện Trí Thức xuất gia tu theo đại đạo.
- Này các Tỳ Kheo! Tội lỗi có hai thứ: một là nặng hai là nhẹ. Những kẻ làm ác biết sợ quả báo hay lo tu hành đoạn trừ nghiệp lậu gọi là tội nhẹ. Những kẻ làm ác, chuyên chủ phá hoại Tam Bảo, ăn cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, giết người lòng chẳng sợ sệt gọi là tội nặng.
- Này các Tỳ Kheo! Những người làm lành có hai hạng: một là làm lành mà tâm chẳng lành, làm tốt mà tâm chẳng tốt, cử chỉ nghiêm trang mà tâm bất hiếu bất kính. Giới luật tinh thông mà tâm hay tạo tội lỗi gọi là tội nặng. Hai là những người làm lành thấy rõ tội lỗi của phiền não lòng muốn xa lìa, theo đường thiện đạo, phát khởi phương tiện tầm tu giải thoát, gần gũi bạn lành, theo chân Thiện Tri Thức rèn luyện ý chí phá hoại ác Ma thu phục phiền não gọi là tội nhẹ. Người này học hỏi biết được các món Ma: Phiền não Ma, Ám Ma, Độn Ma, Trừng Ma, Khảo Ma, Cảnh Ma, Dục Ma, Si Ma, Bạo Ma, Tham Ma, Ảo Ma, Cảm Xúc Ma, Thọ Ma, Tưởng Ma, Ngũ ấm Ma, Nghịch Ý Ma, Thuận Ma, Thiên Ma, Chướng Ma, Nhu Nhược Ma, Dụ Dỗ Ma, Âm Thanh Ma, Ru Ngủ Ma, Hắc Ám Ma, Vương Giả Ma, Vật Báu Ma, Thúc Dục Ma, Chiêu Cảm Ma, và vô lượng các món Ma khác nhau rất khó phân biệt. Các thứ Ma như thế rất đa dạng hay làm mất công hạnh của những hàng Thanh Văn, Duyên Giác mới tu mới học rất dễ dàng. Các Tỳ Kheo nên quan sát cho thấu đáo phiền não ác tâm cho thật chín chắn để khỏi lầm lẫn với bọn Ma Quân trong một đường tơ kẻ tóc, mà mỗi người tu hành đều phải hiểu rõ điểm này. Đây gọi là sống trong sinh tử mà chằng bị sinh tử làm hại, sống trong vô minh mà chẳng bị vô minh lôi cuốn. Bấy giờ Đức Phật muốn tóm lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Đức Phật thuở quá khứ
Cùng vị lai hiện tại
Đều nương theo Mật Pháp
Thành tựu Đại Tổng Trì
Mật chủ Án Ma Pháp
Nhập vào Vô Gián Môn
Khởi sức đại dũng mãnh
Tu hành nơi số kiếp
Không chuyển chẳng thay đổi
Lòng kiên cố bền vững
Như ngọn Tu Di Sơn
Các phiền não nhiễu loạn
Như số bụi vi trần
Đến đi trong chốc lát
Không hại và vô hại
Nhờ tu tập kinh này
Thẩm sâu nơi Mật Định
Xác xuất các Tam Muội
Chuyển vời Ác Ma Pháp
Xóa đêm tối vô minh
Mà chẳng ai hay biết
Bằng hành động thực tế
Đắp y và mang bát
Cử chỉ nhẹ êm dịu
Im lặng ít nói năng
Dường như vào đại định
2. Hạnh Bồ Tát bất thóai
Trải qua vô số kiếp
Trồng các cội công đức
Như số bụi vi trần
Thời gian thoáng qua mau
Xem như đang dừng lại
Tịch tĩnh lòng thanh thoát
Chẳng động cũng chẳng chuyển
Chẳng được cũng chẳng mất
Chẳng có cũng chẳng không
Phải trái chẳng vin động
Chiều hướng chẳng có tên
Bí quyết khó lường được
Tạo thành chân Mật-Pháp
Phiền não tuy thịnh hành
Thoáng chốc hóa thành không
Tuy không mà lại có
Bổn phận của phiền não
Gieo chủng tử ác khổ
Trải qua sa số kiếp
Ở từ đời vô thủy
Không có chỗ ngừng nghỉ
3. Do đó Phật phương tiện
Dùng sức Siêu Mật Pháp
Trãi qua ức tăng kỳ
Nơi vô lượng số kiếp
Hàng phục chúng Ma quân
Thành ra là đạo bạn
Pháp nghịch chuyển thành thuận
Niệm ác quy niệm thiện
Đảo lộn pháp Thế gian
Phật chế Y Ca Sa
Viên thành pháp xuất thế
Từ bi vô chướng ngại
Ăn uống khác phàm phu
Đi đứng rất chậm rãi
Chẳng ngó liếc phi thời
Mà ngó vào tâm tính
Xa lìa các sắc dục
Ngồi thiền hoặc kinh hành
Không có chỗ gián đoạn
Đời sống rất giản dị
Tam y và nhất bát
Tùy thân đi bốn phương
Gieo duyên cùng khai đạo
Tịnh tu các phạm hạnh
Thanh tịnh phát trí huệ
4. Bồ Tát hành như thế
Mà chẳng thấy đạo hành
Bồ Tát tu như thế
Mà chẳng thấy pháp tu
Dường như trụ hư không
Chẳng mến tiếc vật, pháp
Chẳng vin động tưởng niệm
Xa lìa nội ngoại pháp
Gọn nhẹ chẳng chấp chặt
Tâm rỗng lặng hồn nhiên
Bỏ mục đích Tối-Thượng
Thành chính đẳng chánh giác
Nên gọi đó là Phật
Trang nghiêm cả quốc độ
Khiến Trời, Người thức tỉnh
Đến cúng dường nghe pháp
Rải hoa hoặc xông hương
Dùng các cách trang điểm
Ngợi khen cùng tán thán
Những công hạnh khó làm
Qui-y giữ tịnh giới
Vâng hành các phạm hạnh
Đèn nến đốt cúng dường
Trái cây cùng hoa quả
Cúng Phật Hiền Thánh Tăng
5. Kinh Phật Mẫu Chuẩn-Đề
Đứng đầu trong các kinh
Sức mạnh đại tự tại
Oai đức vô cùng cực
Khó nói khó nghĩ bàn
Diệu linh ứng tùy chỗ
Lúc ta thành Phật đạo
Quán sát các chúng sinh
Căn cơ quá thấp kém
Chẳng phải chỗ truyền thừa
Nên đem pháp giáo hóa
Mật truyền cho Bồ-Tát
Giữ gìn bản kinh này
Lưu bố khắp mười phương
Chỗ của Phật Vô-Động
Hoặc nơi cõi Ta Bà
Thích Ca Mâu Ni Phật
Trợ pháp rất mạnh mẽ
Được chúng sinh ưa chuộng
Tu tập càng tinh tấn
Đắc nhập các tam-muội
Thành vô thượng Bồ-Đề.
Khi Phật Mẫu Chuẩn Đề thuyết xong bài kệ pháp, ngài im lặng vào bản tính Chân Như Đà Ra Ni của Tối Đại Minh chú, an trụ mạnh mẽ như Tu Di Sơn. Bồ-Tát Kim Cang Mật Tích cùng các chúng Bồ-Tát, A La Hán trong pháp hội sinh lòng cung kính, nhiễu Phật ba vòng cúng dường tán thán đủ mọi cách. Sáu ngàn Thánh Chúng Bồ-Tát được Pháp Luân thường chuyển Đà Ra Ni. Các bậc đại A-La-Hán được pháp Vô Sinh Nhẫn Đà Ra Ni. Năm vạn thính giả phát Bồ-Đề tâm ủng hộ chính pháp. Pháp Hội Chư Phật, Bồ-Tát, Hiền Thánh Tăng được chư thiên, Nhân rải hoa cúng dường, tất cả đều hoan hỷ tín thọ phụng hành.
Nam mô Chuẩn-Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)

(Hết phẩm thứ mười một)



Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 24/11/11 21:53 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 19/11/11 21:08
Bài viết: 10

Đã cảm ơn     : 6 lần
Được cảm ơn : 4 lần



-----------------------------------
Phật Mẫu Chuẩn Đề - Ns Hoàng Huệ - Ca sĩ Mai Thiên Vân


st


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 6 25/11/11 23:49 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN – QUYỂN VI
BỒ TÁT CÚNG DƯỜNG PHẨM THỨ MƯỜI HAI


KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ VI
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN
BỒ TÁT CÚNG DƯỜNG PHẨM THỨ MƯỜI HAI

Lúc bấy giờ vào tiết mùa xuân. Tại rừng Ô Ta, đức Phật Mẫu Chuẩn Đề cùng với mười lăm nghìn vị đại A-La-Hán đều cư trú an lành. Các vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-Tát vây quanh cúng dường thưa hỏi những duyên sự chưa được giải đáp. Khi ấy có đại thần của vua Lãm Vương cầm đầu là ông Tuệ Mạng đem thức ăn vật uống đến cúng dường trong buổi thuyết pháp đầu tiên tại rừng Ô-Ta.
Ông Tuệ Mạng sau khi thiết lễ cúng dường xong rồi bạch Phật rằng:
- Chúng con là đại thần nước A La Hảm vâng mệnh đức vua đến đây làm lễ ra mắt đức Thế Tôn và làm lễ cúng dường ba ngôi Tam Bảo. Rất mong đức Thế Tôn từ bi nạp thọ cho đất nước chúng con được thanh bình an cư lạc nghiệp.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề im lặng kham nhẫn mà thọ thí. Bồ-Tát Kim Cang Mật Tích là bậc thượng thủ đứng đầu trong hàng đại chúng Bồ-Tát, ngài quan sát căn cơ của mọi người, rồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu đi nhiễu quanh Phật ba vòng, quỳ xuống chấp tay bạch rằng:
- Thế Tôn! Chúng con là hàng Bồ-Tát tuy tu hành theo Phật đã lâu, Nhưng sự hiểu biết vẫn còn nông cạn. Ngưỡng mong Thế Tôn chỉ bày phương pháp cúng dường, để cho chúng con và chúng sinh đời sau được nhiều điều lợi ích lớn.
Bồ-Tát Kim Cang Mật Tích thưa hỏi vừa xong. Phật Mẫu Chuẩn Đề đưa cánh tay sắc vàng xoa đầu đức Bồ-Tát mà dạy rằng:
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Đã từ lâu Như Lai ở nơi pháp cúng dường chưa từng nhắc nhở đến. Hôm nay có đầy đủ nhân duyên được các ông thưa hỏi. Như Lai sẽ vì các ông mà chỉ dạy phương pháp cúng dường đúng như thật.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Pháp cúng dường này của ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai chế ra để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh trong pháp giới hữu tình và vô tình.
Môn pháp này không luận là kẻ xuất gia, tại gia. Chỉ cần nên chú ý thực hành cúng dường đúng như thật, thì phước báu không thể hạn lượng được. Nếu có người thiện tâm đem lòng tôn trọng cung kính nơi Phật Pháp Tăng Tam Bảo, bỏ những ý nghĩ điên đảo làm đúng như pháp, hoặc đem y áo, hương hoa, thức ăn, vật uống, hương bột, hương xoa, đèn nến, tọạ cụ, ngọa cụ và tứ sự vật dụng phát tâm cúng dường nơi Phật Pháp Tăng. Tất cả những đồ cúng thí sửa soạn nghiêm tịnh, thân thể tắm rửa, ăn mặc kín đáo gọn gàng, cử chỉ hành động đúng theo thiện pháp. Lễ nghĩa chân thật, đầu thành đảnh lễ dâng cúng các món vật thực, lại ca ngợi tán thán công đức Phật Đà, ưa vui phát tâm phụng hành pháp báu, nghe pháp nhất tâm cần cầu chính đạo.
Lại nữa muốn cúng dường ba tịnh giới của Phật, phải siêng năng thưa hỏi và khởi động lòng tôn trọng đối với Phật mà tu hành. Đây gọi là pháp cúng dường rất được Trời, Người tôn trọng, hàng Quỉ Thần ưa vui bảo vệ cho người đó được hưởng những phước báu vui lạ hiếm có khó được.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Pháp môn cúng dường là pháp tối hậu bậc nhất trong tất cả các pháp môn khác mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-Tát cần nên chú ý quan sát. Pháp môn này là mẹ của các pháp, ưa sản sinh ra chư Phật ba đời, và hay giúp cho người tu mau định tâm, giữ giới và phát sinh trí huệ nhanh chóng, nhờ sức phụng thờ bền bỉ nơi vô lượng chư Phật, chư Bổ-Tát, chư Hiền Thánh Tăng trong mười phương quốc độ không có chỗ thiếu sót.
Nếu có kẻ ác hay làm việc phá hoại giới cấm của Phật, chuyên hại người bằng lời nói, hành động và việc làm, nay muốn trở thành người chính nhân trong Phật pháp, đều phải rốt ráo tu theo pháp môn phương tiện cúng dường quí báu bậc nhất này, vì nó là pháp đứng đầu của lục Độ Ba La Mật, rất được Trời, Người và Thế gian tôn thờ.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Pháp môn cúng dường hay biểu hiện sức oai thần mạnh nhanh của chư Phật nên được gọi là Đàn Na Ba La Mật, là chỗ trú ngụ của vô lượng công đức Phật, là chỗ quy thú của các môn tam muội Đà Ra Ni, cũng là chỗ về nương vững chắc của sáu loài chúng sinh.
Nếu có người vương mang tật khổ trì tụng nơi bản kinh này thành tâm cúng dường thời được an vui. Người bệnh lâu không hết, biết phát tâm cúng dường thì bệnh tiêu hết. Người gặp nhiều tai nạn đau thương, biết phát tâm cúng dường thời tai nạn qua khỏi. Người ngu si khờ dại, biết phát tâm cúng dường thời được trí huệ sáng suốt. Người nghèo hèn khốn khổ yếu đuối, biết phát tâm cúng dường thời được chỗ giàu sang phú quý. Kẻ ác độc táng tận lương tâm, biết phát tâm cúng dường, thời đặng chỗ hiền lành gặp Thiện Tri Thức. Người bỏn xẻn ganh tỵ, biết phát tâm cúng dường thời được tâm xả thí rộng rãi, thành tựu đại bi tâm. Kẻ gian xảo dối trá biết phát tâm cúng dường thời được chỗ ngay ngắn trong sạch v.v… tất cả những hành động, cử chỉ, lời nói, việc làm đều do pháp môn cúng dường này mà dễ thành tựu những điều mong muốn hợp lý đúng chính pháp, không bị chống trái bởi kẻ ác và nghịch cảnh lôi cuốn, trừ khi nghiệp ác của quá khứ quá nặng nề chưa thể chấm dứt. Đây gọi là pháp Bí-Mật chân truyền của giáo môn Mật Tông hay giúp cho tất cả chúng sinh tu tập thành tựu những Pháp chưa thành tựu và chóng được đạo vô thượng đại Bồ-Đề.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Cúng dường là được phước, không cúng dường là không có phước. Đây là pháp thứ nhất mà Như Lai muốn chỉ dạy những thiện pháp rộng lớn bí-yếu để cho người tu học nhận được lẽ mầu nhiệm không thay đổi của pháp cúng dường. Sở dĩ cúng dường là được phước báu, đó là nhờ lòng thành kính và sự lễ bái đối với Tam Bảo, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè thân quyến, biết thi ân và báo ân. Không có chủ ý chống báng Phật, Pháp, Tăng và hơn thua với mọi người. Đây gọi là pháp chân thật cúng dường hay còn gọi là Diệu Ứng Cúng. Thế nào là không cúng dường mà không có phước báu? Ấy là do chúng sinh mê muội, tham tài, bỏn xẻn, háo danh không biết làm pháp cúng dường, lại hay chê báng Tam-bảo, chửi mắng cha mẹ, thê nhi, khinh miệt kẻ yếu thế cô. Nên chúng sinh đó chẳng hưởng được phước báu, trái lại tự chiêu cảm lấy ác đạo không ngày ra khỏi.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Nếu có người không phát tâm cúng dường mà chẳng có chủ ý phá hoại Tam-Bảo, lại hay tán thán chư Phật, Bồ-Tát Tăng. Thường nghĩ nhớ đến công thành sinh dưỡng dục của cha mẹ, việc ân nghĩa lễ bái sinh lòng mến mộ quý kính.
Người này tuy không cúng dường bằng vật chất mà phước báu vẫn được đầy đủ. Nếu có người làm pháp cúng dường mà chủ ý phá hoại Tam-Bảo, làm rối loạn sự hòa hợp Tăng, người này chẳng những không được phước báu mà còn chiêu cảm lấy ác đạo rất nặng nề. Đây là pháp thứ hai của sự cúng dường và không cúng dường mà người học Phật tu hành cần phải biết rõ những điều hợp lý và không hợp lý đối với chính pháp, để ngăn ngừa ác đạo, vun trồng cội phước đúng như pháp.
Trong đời Hiền kiếp lúc ta hành đạo Bồ-Tát đã cúng dường cho vô lượng chư Phật không biết chán mỏi. Chỗ cúng dường trong pháp hội của Phật, Bồ-Tát không thể tính đếm thí dụ, huống là cúng dường cho chư Phật và chúng sinh trong pháp giới.
- Này ThiệnNamTử! Thiện Nữ Nhân! Ở nơi Phật Bảo Hoa Chuẩn Đề Vương, ta đã làm pháp cúng dường tọa cụ cho pháp hội đầy đủ và an ổn.
Ở nơi pháp hội của đức Tôn Thắng Tịnh Huệ Chuẩn Đề Vương Phật, ta đã cúng dường bát bảy báu và gieo căn lành tu tập.
Ở nơi pháp hội của đức Hỏa Quang Kim Cang Chuẩn Đề Vương Phật, ta đã cúng dường y phục, thuốc thang đầy đủ để hộ trì chính pháp và gieo căn lành thọ trì cấm giới.
Ở nơi pháp hội của đức Thần Thông Chuẩn Đề Vương Phật, ta đã cúng dường vườn cây suối mát đầy đủ và gieo căn lành tu học các môn tam muội Đà Ra Ni.
Ở nơi pháp hội của đức Hư Không Chuẩn-Đề Vương Phật, ta đã cúng dường âm nhạc tán thán công hạnh của Phật và gieo căn lành tu theo pháp môn Bí-Mật Đà Ra Ni chú.
Ở nơi pháp hội của đức Đại Minh Chuẩn-Đề Vương Phật ta đã cúng dường ánh sáng đầy đủ và thọ trì môn Mật Tạng Đà Ra Ni.
Ở nơi pháp hội của đức Oai Quang Chuẩn-Đề Vương Phật, ta đã cúng dường hương hoa chuỗi ngọc và các trân bảo, rồi phát tâm tu hạnh Viễn-Ly Tam muội Đà Ra Ni.
Ở nơi pháp hội của đức Tịnh Diệu Quang Chiếu Chuẩn Đề Vương Phật, ta đã cúng dường ngọa cụ và nước uống đầy đủ, lại thọ trì Luật Tạng Đà Ra Ni v.v… Do các công hạnh cúng dường, thọ trì Mật-Giáo không hề mệt mỏi, nên hôm nay ta được đạo vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đó là điều tất yếu.
Bấy giờ Phật Mẫu Chuẩn Đề vì đại chúng mà tuyên lại nghĩa kệ rằng:
1. Như Lai đấng Chính Giác
Bậc Vô Thượng Bất Biến
Sức tu tập vô định
Vô lượng đại pháp môn
Gom thành kho Tạng Báu
Tích lũy ở nhiều đời
Số kiếp như vi trần
Thành tựu môn Tam-Muội
Ta vì pháp chẳng tiếc
Đã bỏ thân cúng dường
Làm việc khó làm này
Mong cầu đạo chính giác
Hoặc dâng cúng thượng y
Vườn rừng cùng ao tắm
Ánh sáng, tọa cụ thảy
Âm nhạc cùng hương hoa
Bát vàng vật bảy báu
Ngọa cụ và thuốc thang
Tất cả đều dâng cúng
Việc làm hằng đầy đủ
Để cầu đạo vô thượng
2. CácNamTử! Nữ Nhân!
Pháp cúng dường bực nhất
Là xả bỏ thân tâm
Thực hành pháp vô lậu
Tuy hành chẳng có hành
Vì pháp vô sinh diệt
Thật tính cũng rỗng không
Tâm tướng đều như thế
Tuy có mà chẳng có
Ấy là pháp vô thường
Tuy không mà chẳng không
Pháp thường trụ khó thấy
Người trí hằng suy ngẫm
Mới có thể biết được
Như Lai trọn nơi pháp
Không có niệm nuối tiếc
Bỏ sinh diệt vô thường
Đặng pháp bảo chân thật
3. Đã lâu nơi tiền kiếp
Ta làm hạnh Bồ-Tát
Trải ức A tăng kỳ
Như số bụi vi trần
Các đức Phật xuất thế
Trong hằng sa cõi nước
Quốc độ đều nghiêm tịnh
Ở nơi các thế giới
Danh tự riêng khác nhau
Đức Tối Thắng Tỳ Lô
Chuẩn-Đề Vạn quang Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường các lọng báu
Thọ giới đại quy-y
Vâng hành pháp Mật Giáo
Tu tập chẳng thóai chuyển
Thành tựu môn tam muội
Nơi đức Võng Thiên Quang
Chuẩn-Đề Vô Kiến Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường châu Ma-Ni
Tràng phan và Bảo-Cái
Sốc cộng thảy một nghìn
Che mát được nghiêm tịnh
Rồi thọ trì Mật Tạng
Thành tựu Oai Đức chú
Nơi đức Vạn Thắng Vương
Chuẩn-Đề Mâu Ni Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường những hương hoa
Bông héo thay bông khác
Chứa nhóm tu thiện niệm
An trụ vào Mật Pháp
Thành tựu đẳng đẳng chú
Nơi đức Phật Diêu Diệu Quang
Chuẩn-Đề Tôn Vương Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường đèn, dầu, nến
Soi sáng trong đại chúng
Quy mạng Phật Pháp môn
Tu tập các khổ hạnh
Thành tựu Đại Tổng Trì
Nơi đức Sư Tử Âm
Chuẩn-Đề Tâm Vương Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường và xây dựng
Đền tháp, chỗ trú ngụ
Và một tòa Sư Tử
Vâng lên Ngôi Tam Bảo
Rồi phụng hành pháp báu
Siêng năng tinh tấn thảy
Thành tựu Huệ Thanh-Tịnh
Nơi đức Tam Ma Địa
Chuần-Đề Dũng Vương Phật
Ta đến trong pháp hội
Thiết lễ cúng trai tăng
Phóng sinh và bố thí
Công quả không mệt mỏi
Săn sóc đại đức tăng
Quét tước, lau dọn sạch
Rồi thọ trì Pháp Ấn
Kiên cố tâm bền vững
Hồi hướng đạo Chính Giác
Nơi đức Vạn Thiên Thủ
Chuẩn-Đề Huệ Vương Phật
Ta đến trong pháp hội
Cúng dường món ăn uống
Đến khi hết tiền của
Lòng vẫn không nhàm chán
Yên vui chẳng khổ não
Quy y đại Bồ-Đề
Trồng cội phúc công đức
Đến khi Phật nhập diệt
Y báo và chánh báo
Giử gìn rất tôn trọng
Chẳng để cho dứt mất
Ta cúng dường chư Phật
Vô lượng vô số Phật
Không có chỗ hạn lượng
Được chư Phật thọ ký
Thành vô thượng Bồ-Đề.

Khi Phật Mẫu Chuẩn Đề nói kệ xong rồi, ngài im lặng vào cảnh giới Mật Định Hư Vô Tổng Trì
“Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề ta bà ha”
Chư thiên cõi Trời Đao Lợi rải hoa cúng dường nơi pháp hội của Phật. Đại chúng A La Hán được Pháp Bất Khả Tư Nghì Công Đức. Ông Huệ Mạng cùng quyến thuộc nghe lời Phật dạy được pháp vô sinh nhẫn, phát tâm cúng dường tin hiểu, y giáo phụng hành rồi cáo lui.
Nam mô Chuẩn-Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần).
(Hết phẩm thứ mười hai)



Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 27/12/11 0:43 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN – QUYỂN VI,
PHẨM TẾ ĐỘ NHÀ BIỆN BÁC TA-MA-SA THỨ MƯỜI BA

KINH CHUẨN ĐỀ BẢN TÔN
QUYỂN THỨ VI
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN

TẾ ĐỘ NHÀ BIỆN BÁC TA-MA-SA PHẨM THỨ MƯỜI BA

Lúc bấy giờ lão Tôn Sư Duyệt Bát muốn tranh chấp việc cúng dường và phá hoại công hạnh của Phật, nên lão Tôn Sư cùng với Thất Đạo Tinh Quân gồm có: một là Hồng Đạo Tinh Quân, hai là Hoàng Đạo Tinh Quân, ba là Bạch Đạo Tinh Quân, bốn là Xích Đạo Tinh Quân, năm là Thanh Đạo Tinh Quân, sáu là Hắc Đạo Tinh Quân, bảy là Trợ Đạo Tinh Quân cùng nhau kéo đến rừng Ô Ta chủ ý muốn phân cao thấp với Phật Mẫu Chuẩn Đề.
Thế lực của lão Tôn Sư rất hùng mạnh, trong bảy đạo Tinh Quân có Trợ Đạo Tinh Quân Ta Ma Sa là biện bác lỗi lạc bậc nhất. Ngài Ta Ma Sa được mọi người tôn vinh là bực đại hiền, lão Tôn Sư suy cử ngài đứng đầu trong chúng đến đàm luận đạo pháp với Phật.
Khi ấy chư Thiên trên cung Trời Đâu Xuất Đà tên là Đại minh cùng với quyến thuộc bước vào pháp hội của Phật Mẫu Chuẩn Đề, quỳ gối đầu mặt lạy sát đất, hửu nhiểu ba vòng, ngồi qua một phía chắp tay bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Chúng con là hàng trời ở cung Đâu Xuất Đà, do sự thù oán chiếm đoạt cung nữ của thần A-Tu-La, nên chiến tranh giữa hai bên không có ngày chấm dứt. Hôm nay chúng con đến nơi đây, thấy Phật dạy cho tứ chúng những lời thiện pháp vô cùng quí báu. Ngưỡng mong đức Thế Tôn từ bi chỉ dạy cho chúng con có dịp hướng về đường chân lý lâu dài mà thân và tâm không hề thóai chuyển vọng chấp.
Khi ấy đức Phật Mẫu Chuẩn Đề phóng ánh quang minh nơi con mắt ở giữa sáng chói nhỏ như cây kim soi khắp trong đại chúng để quan sát căn cơ của chúng sinh, rồi vân tập các vị hóa Phật trên đỉnh Tỳ Lô ứng hiện phân thân bay lên hư không đồng tiếng ca ngợi công hạnh của Chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai rằng:
1. Phật quốc trang nghiêm ánh đạo vàng
Chuẩn-Đề Phật Mẫu xuống trần gian
Khai pháp chân truyền chưa từng có
Mật Giáo Bí Môn Đại Oai Thần
Đức từ rộng lớn ngàn muôn kiếp
Ẩn nhẩn tịnh tâm vạn muôn nơi
Chiết tính giả thân vô lượng số
Phật đấng pháp vương trí huệ mầu
Dù cho quá khứ, hiện tại thảy
Vị lai cộng lại số là bao?
Tu hành công hạnh không nhàm chán
Sống chết thay nhau nguyện tiến tu
Sự đời giả tạm chôn chân mãi
Phật đã tìm ra đạo chân như
Thức tỉnh vô minh và vọng tưởng
Gom bầu võ trụ nhẹ không sai
Ngài đã trọn xong lời phát nguyện
Chư Phật phân thân đến nơi đây
Tán tụng pháp môn thành chân lý
Mở đường giải thoát hướng tương lai
Pháp mầu Bí Mật không lường được
Cứu độ nhân sanh cả muôn loài
Thiện tâm gieo cấy không nao núng
Diệt ác độ mê chúng sinh chung
Bồ-Tát tịnh tu không lay chuyển
Gương sáng cho đời mãi noi theo
An trụ chơn ngôn thành vô gián
Vui cùng tam muội chẳng đắn đo
Tự tại bước chân vào thế giới
Phân thân độ chúng vạn muôn nơi
Trời người trông thấy đều tin tưởng
Lễ lạy cúng dường đấng Hùng-Bi
Việc làm đã mãn Phật thọ ký
Danh hiệu có tên Phật Chuẩn Đề
Tiếng đồn vang dội mười phương cõi
Quốc độ trang nghiêm tỏa mây hương
Oai thần dõng mãnh chân ngôn chú
Pháp hội nương theo Bí Mật Môn
Vun trồng cội phước hằng sa kiếp
Tứ chúng vui mừng thảy tán dương
Tôn kính cúng dường nơi Phật Tổ
Xuất sinh Mật Tạng đấng Tỳ Lô
Xoa dịu vết thương nhiều trọng trược
Vô minh tăm tối khó bước ra
Tình thương rộng lớn dìu sinh chúng
Tiếng pháp ngân vang phá mây mờ
Kính trọng bậc Thầy của ba cõi
Trí huệ sáng soi cả nhân gian
Con đường chân lý nay rộng mở
Thuyền giác đưa sang đến Niết Bàn
Chư Phật chứng minh lời thệ nguyện
Phân thân thành Phật thiệt chẳng sai.

Bấy giờ các hóa Phật nhiếp về đỉnh Tỳ Lô của Phật Mẫu Chuẩn Đề rồi biến mất. Đức Phật vì đại chúng, chư Thiên cõi Đâu Xuất Đà mà dạy rằng:
- Này Thiên Đế! Ở trong thế gian hay ở ngoài thế gian, hoặc là Dục Giới, Sắc Giới, vô Sắc Giới, tất cả đều bị hệ phược bởi vô minh, phiền não. Nhưng trong nhóm người trí chẳng ai tìm ra, chẳng ai biết rõ. Ví như vị Hải Đạo Sư cùng với chúng nhân năm mươi người ra biển khơi tìm ngọc. Tất cả mọi người không ai biết ai có chủ ý đen tối hại nhau khi thấy vàng bạc, ngọc ngà, châu báu. Ví như vua có các quần thần ba quan văn, võ. Mọi người không ai biết ai có chủ ý đen tối chiếm đoạt ngôi báu.
- Này Thiên Đế! Tất cả chúng sinh bị sanh tử khổ đau là bởi hệ phược phiền não vô minh mà trong nhóm người trí chẳng ai tìm ra. Do đó mà có cảnh con bất hiếu, cha bất nghĩa, vợ lăng loàn hiểm ác, anh giết em v.v… làm cho thế gian thêm nhiều điều điên đảo khốn cùng, hại nhau chẳng cần đắn đo suy nghĩ.
Ví như nơi thế giới của Phật Tỳ Lô Giá Na, tuy lấy Bồ-Tát làm thất bảo mà trong cõi nhân gian cũng lắm kẻ tạo tội thất nghịch chẳng đồng. Bọn Đổng La Tiên hợp với tập đoàn lõa thể hơn một trăm người mong ám hại Phật để giành phần lợi dưỡng và nắm ngôi vị độc tôn thiên hạ, nhưng cuối cùng họ đều thất bại.
- Này Thiên Đế! Phiền não vô minh thật là ác nghiệt thay. Đã bao phen Như Lai cân nhắc cho đại chúng những lời pháp màu cẩn mật vi diệu như thế để tu hành. Nhưng cũng có các thầy Tỳ Kheo vì vô minh phiền não không tự kềm chế được, phải bỏ pháp hội đi theo Tỳ Kheo Sim Sum Pa làm điều tội lỗi tai hại. Thời gian và vô thường nhanh như một cơn lốc, không tha thứ cho bất kỳ một ai. Như Lai đã cảnh tỉnh mọi người tu hành thiện nghiệp để đến Niết Bàn. Trong trận chiến đấu cuối cùng với bọn Ma-Vương Đin-Sa-Da, Như Lai tuy đã chiến thắng nội tâm và ngoại cảnh. Nhưng Như Lai đã phát tâm đại độ nhường quyền cai quản nơi ba cõi cho Ma Vương, Như Lai ở trong đại định chẳng cần xuất định, Như Lai là Định Tâm Vương Sư Tử Tam Muội Đà Ra Ni, im lặng thư thới không bị hệ phược bởi trần lao vọng lự. Ma Vương Đin-Sa-Da biết mình không kham nội vô lượng tạng báu Bí-Mật Tổng Trì nên đã thét kên một tiếng lớn kinh cuồng rồi biến mất.
- Này Thiên-Đế! Như Lai đã trãi qua vô lượng ức kiếp tăng kỳ tu tập không tranh lấn gian tham, không hơn thua tỵ hiềm, không thương ghét vô ích, không giành giựt địa vị đê hèn, không mua danh bán tước, không ích kỷ keo bẩn, không dùng lời nhảm nhí, không cố ý làm hại chúng sanh, không ham mê dâm dục, không mưu gian xảo trá, không bè đảng hại người, không nạt nộ kẻ yếu thế cô, không lừa đảo mua chuộc, không thư phù yếm đối, không ham mê tiền của, không trục lợi cầu danh, không khinh người ra mặt, không chê khen quá đáng, Không nghĩ quấy cho người, không gần gủi bạn ác, không nghe lời xúi giục, không đến chỗ đông người, không rượu chè bài bạc, không ác hại chúng sanh, không trừng phạt tôi tớ, không buông lung vô độ, không ham thích sung sướng, không quyền uy thế lực, không thù oán với người, không lừa thầy phản bạn v.v… Trong khi Như Lai thực hành những pháp “không” này mà Trời, Người, Thế gian không ai hành nỗi, thời những nghịch cảnh luôn luôn xuất hiện. Như Lai kham nhẫn an trú vào Mật pháp Tối Thượng Đà Ra Ni chú: “Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề ta bà ha” vào định Tổng Trì an nhiên tự tại. Do điểm này các vị Thiên Đế muốn hướng về con đường chơn lý lâu dài thời cần phải tu cần phải học và thực hành những công hạnh chơn thật mà Như Lai vừa nói đến. Ngài Kim Cang Mật Tích Bồ Tát nghe xong lời dạy của Phật, lòng hoan hỷ ở giữa đại chúng nói kệ khen rằng:
1. Đấng Đạo Sư Thiện Mật
Trí huệ không ai bằng
Hay cân nhắc dạy bảo
Pháp thiện pháp phi thiện
Giảng dạy nghĩa nhiệm mầu
Căn cơ cao cùng thấp
Đều có thể hiểu biết
Ngài mở lòng đại bi
Xoa dịu vết thương si
Cho tất cả chúng sanh
Bồi dưỡng pháp ẩm thực
Khiến yếu đuối tan biến
Mạnh khỏe lần bước đi
Sáng suốt thấy sự thật
Hư dối cùng chơn như
Rõ ràng không lệch lạc
2. Đấng Mật Chủ Đạo Sư
Thành tựu đạo chơn như
Im lặng không diêu động
Mà giảng nói nghĩa lý
Pháp giải thoát không hai
Thâm sâu trí mẫn đạt
Chơn pháp tự biến hiện
Thực hành không hư dối
Bỏ ác được thiện căn
Bỏ mê được trí huệ
Bỏ dữ được hiền lành
Bỏ danh, tiếng đồn khắp
Bỏ vật dục kính yêu
Bỏ rượu được tươi tỉnh
Những món pháp như thế
Chẳng vin động qua lại
Phải trái kiền tan biến
Thương ghét là u mê
Vui buồn mất trí huệ
Pháp đối đãi làm hại
Thế nhân chẳng ai biết
Bậc thánh chẳng ai ngờ
Giấc mơ của muôn kiếp
Quay đi rồi diễn lại
Chỉ có phật rõ biết
Cội nguồn của khổ đau
Món Diệu Pháp Bí-Mật
Như Lai không chán mỏi
Tỉnh tu thân trầm lặng
An ổn phục phiền nảo
Điều nhu tánh tham sân
Thắng phục sự biếng nhác
Độ lượng khi uống ăn
Bồ-Tát cần nên học
Thanh Văn phát tâm tu
Duyên Giác hằng quan sát
Các pháp tánh tướng này
Ấy là chơn tịnh đạo
Lúc ấy ở bên ngoài rừng Ô-Ta, lão Tôn Sư Duyệt Bát cùng với Thất Đạo Tinh Quân trên đường đến chỗ Phật ngự. Ông hiền giả Ta-Ma-Sa bị lạc trong rừng, lòng bỗng nhiên rung động sợ sệt, ông cố gắng tìm mọi người khắp nơi nhưng không gặp, bèn ngồi lại nghĩ chân dưới tàn cây lớn. Bỗng ông trông thấy có một người đang ngồi tịnh tu cách đó không xa, ông đến gần bên cạnh mà người đó vẫn không hay biết. Vừa trông thấy diện mạo của ngài Chiết Độc Hành Giả trong lớp thân người Đầu Mãng Xà, ông giựt mình kinh sợ định bỏ chạy. Bấy giờ ngài Chiết Độc Hành Giả lên tiếng nói kệ rằng:
Hiền Giả Ta-Ma-Sa!
Mặt ác lòng thiện niệm
Lòng ác mặt thanh bai
Trong cả hai điều này
Trí nhơn thường hiểu rõ
Lòng ác mặt hung ác
Thiện niệm mặt xinh thay
Trong cả hai điều đó
Hiền nhơn thường thấu hiểu
Chớ nên sợ mặt ác
Mà nên sợ lòng ác
Đạo chánh thường hoằng khai
Thân tâm ưa Mật Tích
Đạo đức thiệt là hay!!!
Hiền giả Ta-Ma-Sa nghe bài pháp kệ vừa xong thời thân tâm trở lại an định, bèn đến gần thưa hỏi ngài Chiết Độc Hành Giả rằng :
- Thưa Tôn Giả! Ngài nói kệ rất hay, tôi nghe lòng rất cảm phục. Nay xin hỏi Đại Tôn Giả, nếu người có tâm ác mặt ác thời làm sao biết được ? Người có tâm ác mặt thiện làm sao rõ được ? Người có tâm thiện mặt ác làm sao nhận được ? Rất mong Đại Tôn Giả vì tôi mà chỉ dạy cho điểm khó khăn này ?
Bấy giờ Chiết Độc Hành Giả vì ông Hiền Già Ta-Ma-Sa mà dẫn giải yếu lý Phật Đà rằng:
- Này Ta Ma Sa Hiền Giả! Lúc ngài đến gần tôi thâm tâm ngài không sợ, vì lúc ấy tôi đang ngồi tu, cả tôi và ngài đều có một thứ tâm thiện giống nhau. Nhưng khi ngài nhận thấy khuôn mặt Mãng Xà độc ác của tôi thì ngài bỗng nhiên kinh sợ bỏ chạy, đó là do mặt ác của tôi và tâm ác của ngài gặp nhau, nên ngài mới có hành động hoảng hốt lên như thế. Trong cơn đại định Mật Pháp Diệu Trạm Tổng Trì, tôi liền xuất định vì ngài mà nói bài kệ chân lý khuyến hóa khiến cho tâm ngài bỗng nhiên hết sợ, đó là do tâm lành tốt của cả hai người gặp nhau nên rất mừng rỡ, dứt bỏ các phiền phược ngoại cảnh, ấy cũng là tâm đạt cảnh đạt.
- Này Ta Ma Sa Hiền Giả! Nếu ngài đem những câu hỏi về đạo đức cật vấn tôi thời thiệt là không đúng. Bởi vì khuôn mặt tôi rất đáng ghê sợ, nhưng rất may mắn và lẹ làng ngài đã hiểu được tôi trong phút giây, nên ngài đã không còn ngần ngại lo sợ nữa. Này Ta Ma Sa Hiền Giả! Tất cả những câu hỏi của ngài đều lọt vào hành động tâm và cảnh, nếu ngài khéo quan sát thời sẽ hiểu được chơn lý rõ ràng.
- Này Ta Ma Sa Hiền Giả! Tôi đã bị vô thường và ác tâm cướp mất một phần tướng tốt của cơ thể. Nhưng nó không cướp mất của tôi một trí huệ tuyệt vời mà Phật đã hằng chỉ dạy những phương pháp tấn tu giải thoát. Ngài Chiết Độc Hành Giả muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Hãy lắng nghe pháp lý
Đà Ra Ni Tổng Trì
Hộ đạo trong Mật Định
Cạo sạch các phiền nảo
Như cắt bỏ râu tóc
Nhiễm tịnh được an vui
Tất cả biển ô trọc
Dường như cơn ảo ảnh
Thoáng qua mất rồi sanh
Người trí không nao núng
Khắc phục tiến vượt lên
Quên mình tâm nhẩn nhục
Bỏ giả được chơn như
Lúc hành lúc không hành
Biếng nhác cùng tinh tấn
Thấy nghe như gió thoảng
Được mất đều hườn không
Chỉ chuyên tâm cần cầu
Pháp Phật món giải thoát
Ai làm được việc này
Là gần đạo vô thượng.
Ông Ta Ma Sa Hiền Giả nghe bài kệ xong rồi, tâm hồn chợt tỉnh quỳ xuống lễ bái ngài Chiết Độc Hành Giả. Vị La Hán này hướng dẫn cho Ta Ma Sa Hiền Giả đến gặp Phật Mẫu Chuẩn Đề. Ông đi nhiễu ba vòng nơi Phật ngự, rồi quỳ xuống chắp tay bạch rằng:
- Thế Tôn! Ngài là đấng trí huệ bậc nhất trong ba cõi sáu đường, xin Đấng Từ Bi rộng mở con đường chơn chánh tu hành cho tôi và tất cả chúng sanh thấy được lý tánh giác ngộ dễ tu dễ tập và dễ thành tựu đạo mầu. Rất mong đức Thế Tôn hứa khã chỉ dạy cho được lợi ích an lạc.
Phật Mẫu Chuẩn Đề mĩm cười khoan thay, rồi vì Hiền Giả Ta Ma Sa mà dạy rằng:
- Này Ta-Ma-Sa! Nếu có người ở trong cảnh thuận và nghịch mà tu hành không chướng ngại, đó gọi là người có trí. Nếu ở trong cõi nhơn gian này không luận là kẻ ác người thiện, kẻ ngu người trí đều phát tâm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây gọi là người có lòng đại bi lớn đối với tất cả chúng sanh, người đó không có lòng sợ sệt là ông Thầy lớn hay giúp đỡ chúng sanh đủ mọi phương tiện tiến tu giải thoát. Người đó không có tâm phân biệt là khó hay dễ, cao hay thấp, trọng hay khinh, nghèo hay giàu. Bởi vì người đó hiểu biết ở trong chốn nhân gian đã sẳn có những pháp phân biệt ấy rồi. Điều cần thiết cho sự tu hành là nên giải thoát xa lìa những ý niệm phức tạp điên đảo, thời tất cả các pháp chẳng có pháp nào khó chẳng có pháp nào dễ. Từ nơi đó người tu sẽ đạt được chơn lý Tối Thượng Bình Đẳng Mật Ý Đà Ra Ni một cách dễ dàng, mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác cần phải tu phải học.
- Này Ta Ma Sa! Pháp có hai thứ: một là dễ hai là khó. Pháp dễ tu mà gặp hoàn cảnh dễ tu, thực hiện được pháp tu thời mau chóng thành tựu đại định Tam-Muội. Nếu biếng nhác là bỏ lỡ cơ hội tu hành thời ở trong hoàn cảnh khác không thể thực hiện được. Nếu pháp tu dễ mà gặp hoàn cảnh nghịch thời người tu thực hiện pháp tu khó thành tựu, nhưng có tâm kiên trì thời hoàn cảnh nghịch vượt qua dễ dàng. Nếu biếng nhác tức là đánh mất cơ hội tốt cho mình và cả thảy chúng sanh.
- Này Ta Ma Sa! Pháp khó tu cũng lại như thế. Nghĩa là pháp tuy khó mà gặp hoàn cảnh dễ tu, thời đó là cơ hội quý báu cấn nên phát huy tu tập cho đến khi thành tựu. Nếu biếng nhác tức là mất tất cả sa đọa vào chốn ác đạo. Ngược lại pháp khó tu lại gặp phải hoàn cảnh nghịch, cần phải phát huy ý chí mạnh mẽ thời thành công đắc quả dễ dàng. Nếu biếng nhác pháp tu không được phát huy, hoàn cảnh nghịch sẽ dìm người ấy xuống bùn lầy tội lỗi sanh tử nhanh chóng.
- Này Ta Ma Sa! Trong đời quá khứ Như Lai đã không quản ngại sự khó khổ tu hành đắc độ ở vô lượng thế giới, gần gủi theo các đức Phật không chán mỏi trãi qua số kiếp như vi trần xem chừng như giấc mộng hôm qua. Như Lai không bị bốn thứ độc hại: tình, tiền, danh, lợi làm hại, nên các phiền nảo bị suy bại không có chỗ đứng vững. Như Lai an trụ vào đại Pháp Định Mật Quang Minh Tam Muội Đà Ra Ni, nên các kiết sử, lâu hoặc bị tan biến, nghiệp ác không có chỗ nương cậy. Như Lai đã hàng phục được thất tình: mừng, giận, buồn, vui, thương, ghét, muốn và những món pháp vi tế tưởng còn sót lại trong thân tâm. Như Lai đã trãi qua số kiếp tu hành lâu xa, xóa bỏ tánh linh và sự nhạy cảm, xóa bỏ trí phàm phu và sự ham muốn, xóa bỏ sự rung cảm của nội tâm và ngoại cảnh. Như Lai im lặng an nhiên không nhiễm ô các pháp và không có ý xuất định, an trụ rỗng không nhẹ nhàng giải thoát. Bấy giờ đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Pháp Tối Diệu Tối Tôn
Chứa vô lượng chơn ngôn
Của hằng sa chư Phật
Muốn chóng mau thành tựu
Không nhàm chán khó dễ
Chỉ chuyên tâm tu hành
Thuận nghịch ở ngoài tâm
Như chớp nhoáng rồi tan
Khó dễ từ nơi đó
Tinh tấn thắng phục được
Huân tập món Mật Giáo
Đà Ra Ni đại nhạo
Khó lường chẳng suy gẫm
Hay trợ đạo cứu người
Thu phục các tâm ác
Oai lực đại dõng mãnh
Vượt qua hàng trí nhơn
Trải ức số muôn kiếp
Độ vô lượng chúng sanh
Khiến vào nơi Phật đạo
2.Ta-Ma-Sa Hiền Giả!
Tâm ác khó chế ngự
Việc ác lại dễ làm
Hoàn cảnh hay đưa đẩy
Xúi giục bực hiền nhân
Làm những điều bất thiện
Thuở quá khứ đã qua
Như số kiếp vi trần
Nơi thế giới Cực-Ác
Do sức thệ nguyện độ
Ta hành đạo Bồ-Tát
Sanh vào thế giới đó
Nghiệp ác rất nặng nề
Hành động và cử chỉ
Nói năng và ăn uống
Ngủ nghĩ sáng lại tối
Nam, Nữ tánh hung dữ
Sống chết lấy làm vui
Gươm đao sáng lấp lánh
Để phục vụ chém giết
Sự sống không nhơn nghĩa
Cha mẹ, anh chị em
Bất nghịch liền giết bỏ
Man rợ không cùng tận
Vua quan đều như thế
Mạnh sống yếu chết đi
Thù oán rất xem nhẹ
Đời sống như dã thú
Quốc độ đáng kinh sợ
3. Ta sanh vào nơi ấy
Kết huyết thống cha mẹ
Anh chị em bạn bè
Rồi từ giả quyến thuộc
Vào rừng sâu tu hành
Phương tiện lành như thế
Khiến mọi người cảm xúc
Mà lo lắng cho ta
Nơi hoang dã rừng cấm
Chỗ Quỉ dữ Mãng Xà
Rắn độc, Bò Cạp thảy
Hung thần hù dọa nạt
Chuyển động lòng Bồ-Tát
4. Vua Diệu Ác hay tin
Trong nước có người tu
Sai quân thần tìm đến
Để ám hại thân ta
Do bổn nguyện sâu nặng
Tu tập Pháp Bí-Mật
Chuẩn-Đề chơn ngôn chú
Oai-Thần đại mật nhiệm
Cảm hóa tịnh màu mầu
Vô vi vô biến hiện
Ứng nghiệm đại chú võ
Phá ác xô bạt ác
Ác nhơn chẳng đến được
Họ liền dùng hỏa công
Đốt rừng để hại ta
Gió lửa vô cùng tận
Cháy mạnh cả bốn hướng
Bấy giờ trong Mật Định
5. Ta tụng chú Chuẩn-Đề
Khiến hai vị hộ pháp
Chuyển Thế Đại Long Vương
Phun nước trừ lửa dữ
Dập tắt trong phút giây
Để che chở thân ta
Lòng bi độ tất cả
Nguyện xã thí tấm thân
Nên ta dạy Hộ Pháp
Lui về nơi bổn quốc
Quân thần, vua Diệu Ác
Không bỏ lỡ cơ hội
Bao vây chỗ ta ngồi
Dùng dao gậy đánh đập
Cung tên tẩm thuốc độc
Bắn thẳng vào thân ta
Việc làm rất hung ác
Mà tâm ta chẳng sợ
Thản nhiên sức chịu đựng
Máu chảy đầy y áo
Thân tâm vẫn bình tỉnh
Như chẳng có việc gì
Khiến bọn chúng ngơ ngác
Nhìn nhau mà bàn luận
Thuốc độc thấm vào máu
Chạy rần vào tim mạch
Khống chế các huyết quản
Bóp chết cả thân thể
Nhịp tim như ngừng đập
Mà ta vẫn trụ vững
Niệm thần chú Chuẩn Đề
An nhiên vào đại định
Sống chết ở thế gian
Vượt ra khỏi tầm mắt
Suy ngẫm chẳng hiểu được
Dường như diển ảo thuật
Để hàng phục chúng nhơn
Thân ta liền hóa lớn
Thu nhiếp các khí giới
Chuyển thành đài sen báu
Oai nghi đại dõng mãnh
Ý chí vô cùng tận
Sức mạnh như Thái-Sơn
Trang nghiêm Phật quốc độ
Ánh sáng chiếu diệu khắp
Xô bạc các ác nhơn
Thần thông đại tự tại
Hiển lộ cam lồ vị
Từ bi vô chướng ngại
Thắng phục chư chúng sanh
Vượt qua khỏi ba cõi
Khiến Trời, Người ngơ ngác
Không lấy gì so sánh
Sợ hải chẳng dám khinh
Gươm giáo đều hạ xuống
Mà quy-y Tam-Bảo
Vua Diệu-Ác hồi tâm
Quay về đường chơn lý
Nghe pháp không chán mỏi
Tu tập hạnh chơn như
Tối Mật Ý thần chú
Chúng nhơn theo đức vua
Cũng tu tập Thánh Thiện
6. Ta Ma Sa Hiền Giả!
Sự ganh tỵ mạnh mẽ
Dù cố gắng thực hiện
Để thắng kẻ chơn tu
Việc ấy là mộng ảo
Không ai ham chí thú
Thích ác làm việc ác
Mà cũng chẳng được gì
Suốt đời sống đau khổ
Như một kẻ bị giam
Thân tâm bị bóp nghẹt
Không có chỗ nương nhờ
Và chịu mọi hình phạt
Khí cụ rất cay độc
Hoàn cảnh là như thế
Kẻ trí khéo xét soi
Sẽ hiểu được việc này
7. Ta Ma Sa Hiền Giả!
Thân này là vô thường
Cái chết rất dễ đến
Không ai ngăn cản được
Bỏ mạng trong phút giây
Thắng bại có ích gì
Tranh nhau giành thế lực
Khi chết nó về đâu?
Thế nhân ai hiểu được?
Giả sử đều hiểu được
Nhưng không cải sữa được
Bởi lòng tham sân si
Quá thạnh và cường bạo
Khiến ác tâm vẩy đầy
Không ai cưỡng lại được
8. Ta Ma Sa Hiền Giả!
Nếu người chưa chứng quả
Ở nơi huệ giải thoát
Thân tâm chưa thanh tịnh
Cũng không thể cưỡng được
Nếu có người chơn thật
Cầu quả vị giải thoát
Ngày đêm không mệt mỏi
Tinh tấn quên ăn uống
Quyết chí đến chơn như
Oai nghi đều giữ vững
Thời gian bào mòn xoáy
Tinh thần bị nao núng
Cũng không thể cưỡng được
Do chất độc mê hồn
Tình, tiền, danh, lợi thảy
Giết chết bao thế nhân
Quyến rũ kẻ tu hành
Phàm phu chẳng hiểu được
Lâm vấp khổ một đời
Cho nên phải đảnh lễ
9. Mười Phương Phật, Pháp, Tăng
Chúng Thánh Hiền Bồ-Tát
Thuận nghịch không phân biệt
Mà chí thành đảnh lễ
Thành tựu pháp hồi hướng
Tu tập kinh điển này
Nếu có kẻ in chép
Hoặc cúng dường hương hoa
Chí thành không xao lảng
Dùng tiếng khen tán thán
Kinh tạng đại Chuẩn-Đề
Mật-Pháp Tổng Trì Môn
Khó nói khó nghĩ bàn
Công đức rất vô lượng
Khiến đó đặng thoát khỏi
Oan trái của ba cõi
Sức Mật-Nhiệm ba cõi
Uy dũng hàng Ma chúng
Phá hoại các ác tâm
Bảy mươi đức ức Phật
Vân tập nơi đảnh môn
Vì để nghe kinh này
Chuẩn Đề đại minh chú
Hộ trì kẻ tu hành
Mà bảo hộ cho đó
Lần đến đạo Bồ Đề
Bấy giờ trên hư không bảy mươi ức cu chi đức Phật đồng cất tiếng khen ngợi Phật Mẫu Chuẩn Đề, các vị Bồ Tát thượng thủ của các đức Phật đồng hóa thân đến cúng dường ngàn cánh sen quí báu phát ra ánh sáng lớn, trong ánh sáng có vô lượng âm thanh nhập Mật của đại thần chú soi thẳng vào tâm chúng sanh tiếng vang vừa đủ nghe, mà bên ngoài cảnh vật đều như chỗ vắng lặng rỗng không. Chư Thiên cõi Trời Đâu Xuất Đà tên là Đại Minh Cùng với quyến thuộc và bát bộ Kim Cang thần được việc chưa từng có. Hiền Giả Ta-Ma-Sa phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác xuất gia tu hành thành bực La Hán. Sáu nghìn Bồ-Tát Được Pháp Luân Thường chuyển Đà Ra Ni. Hàng Thanh Văn, Duyên Giác được môn Tam Muội Bất Thối Chuyển. Khi ấy trên hư không có tiếng ca ngâm đờn sáo và rãi hoa cúng dường Phật Mẫu Chuẩn Đề. Đại hội tán thán công hạnh của chư Phật vừa xong đều y giáo phụng hành mà lui ra.
Nam mô Chuẩn Đề Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN
QUYỂN THỨ SÁU
Bỏ đường tà Diêm Đê Ra về với Phật, cứu thế gian không quản sự khó khăn. Pháp u-huyền phản phất nghĩa kinh văn. Giáo Hội Phật thắm nhuần trong đại chúng. Bản án nghiêm trị, Phật tự răn mình nơi số kiếp. Nay chúng sanh chẳng phải kẻ tội đồ. Phiền nảo như ánh chớp, tử sanh như giấc mộng Phật diễn dụ bày chơn lý. Bồ Tát nghe xong đến cúng dường. Ta Ma Sa hỏi đạo Phật từ bi giảng nói.
Nam mô Thường Trụ Thập phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập phương Tăng
Nam mô Chuẩn Đề Vương Phật (3 lần)
(Hết phẩm thứ mười ba)
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN – QUYỂN VII, PHẨM SƯ TỬ HẨU KIM CƯƠNG BỒ-TÁT THỨ MƯỜI BỐN



KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN
QUYỂN THỨ VII
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN - THIỀN NHÂN
PHẨM SƯ TỬ HẨU KIM CƯƠNG BỒ-TÁT THỨ MƯỜI BỐN
Lúc bấy giờ ngài Sư Tử Kim Cương Bồ-Tát trịch áo bày vai hửu ở giữa chúng hội bước ra đãnh Lễ Phật, đi nhiễu ba vòng, quỳ xuống chấp tay mà bạch rằng:
Thế Tôn! Chúng con nghe Phật nói về những Mật-Nghĩa Đà Ra Ni phương tiện giúp cho chúng sanh được nhiều điều lợi ích. Nay xin Thế Tôn dẫn giải cho chúng con được hiểu biết Thủy Tổ loài người là ai? Thủy Tổ phiền nảo là ai? Ngưỡng mong Thế Tôn từ bi chỉ dạy cho chúng con và chúng sanh đời sau được dứt sự nghi lầm.
Lúc ấy đức Phật Mẫu Chuẩn Đề ở nơi Mật Định Kim Cang Tỳ Lô Quán Đảnh tâm chú, xuất nhập các môn tam muội Đà Ra Ni dậy an lành mà dạy cho ngài Kim Cang Sư Tử Hẩu Bồ Tát rằng :
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Hãy lắng nghe những điều thâm-mật khó hiểu khó nghĩ bàn. Như Lai sẽ vì các ông mà diễn nói Mật Giáo Môn Đệ Nhất Đà Ra Ni,không có một và hai. Đó là nghĩa Bí-Áo Huyền Diệu Bất Động Môn làu làu một thế chơn như nơi thân và tâm, hay xuất sanh vô lượng công đức được chư Phật tôn trọng ngợi khen, các hàng Tỳ Kheo Bồ-Tát vâng chỉ y giáo phụng hành. Trời, Người qui thuận cúng dường, tán thán, ngợi khen là việc chưa từng có, Như Lai đã xa lìa chấp có chấp không cũng như chấp pháp thuận nghịch hai bên. Như Lai không bị gò ép bởi pháp Thế gian và Xuất Thế gian. Các pháp có danh tự, cú nghĩa cũng lại như thế.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Các ông chớ cho rằng Thủy tổ loài người chính là con người và người ấy là ai? ở đâu? Các ông chớ nhầm lẫn rằng Thủy tổ loài người chẳng phải là con người. Vì sao? Vì bản tánh ác và thiện ở trong vạn vật đều thể hiện rất rõ nét, bản tánh ấy đã có từ vô thỉ vô chung không ai dạy mà tự nhiên sẵn có, bản tánh này đủ sức chế ngự xác thân, tâm ý và hoàn cảnh bên ngoài lẩn bên trong, nhưng không được xem là Thủy Tổ của loài người.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Thủy Tổ của loài người chính là Phật-Tánh bất di bất dịch do chư Phật tu tập thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Phật tánh này đã sẵn có trong lòng chúng sanh từ vô thỉ đến nay, phiền nảo cũng lại như vậy. Các ngươi dù biết trong chúng sanh có Phật tánh, nhưng lại không biết Thủy Tổ loài người là ai ở đâu? Ví như hai anh em ruột là chủ của hai căn nhà cạnh nhau. Họ có thói quen không giao tiếp và chú ý về hành động việc làm tên tuổi danh tánh của nhau. Nếu có người hỏi đến họ đều trả lời không biết. Cũng vậy Phật Tánh và Thủy Tổ loài người vốn không có khác nhau, phiền nảo cũng lại như thế, vì một niệm sai lầm nên các ông chẳng biết Thủy Tổ loài người là ai? và Phật tánh là ai? Dù rằng cả hai đều ở rất gần nhau trong tâm não và ý thức.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Phật Tánh và chúng sanh vốn không hai không khác, chúng sanh và phiền nảo cũng lại như vậy. Phật tánh là bình đẳng gọi là Tổng Trì Đà Ra Ni. Chúng sanh cũng bình đẳng gọi là đại Trì Đà Ra Ni. Phiền nảo cũng bình dẳng gọi là Nhiếp Trì Đà Ra Ni. Các món pháp như thế chẳng ai hiểu được, chẳng ai biết được. Do sự phân biệt chấp trước nơi ý nghĩ mà chúng sanh chẳng đến được pháp Tối Thắng Tự Tại của giáo môn Bí Mật thành tựu nghĩa, thành tựu pháp, thành tựu Tô Tất Địa đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Pháp Mật-Tạng của chư Phật không thể đến được. Tổng Trì Đà Ra Ni chú của chư Phật Ba đời không thể đến được. Nếu pháp Bí-Tạng của chư Phật có thể đến được, thời chúng sanh không cần phải tu tập khổ hạnh nơi vô lượng ức kiếp để tìm thấy bổn tánh thanh tịnh của chính mình. Phật tánh vốn xưa nay là Hư Vô Tịch Tỉnh, Đại Nhiệm Mật, Bất Động, không tà không chánh. Bổn tánh này gọi là Pháp Tánh Đà Ra Ni, không bị ngăn trệ bởi dục vọng, không kinh sợ bởi hoàn cảnh, không tham mê vật chất cám dỗ, không nghi ngại về mọi phương diện, chẳng tham ác, chẳng mê thiện, không dị biệt, không theo định bỏ loạn, không mê tâm chẳng bỏ tâm, không tình cũng chẳng vô tình, không đối đãi cũng chẳng phải bỏ mặc, không tu cũng chẳng phải bỏ tu, không hành cũng chẳng phải bỏ hành,không giải thoát cũng chẳng phải lìa giải thoát, không gàn buộc cũng chẳng phải lìa gàn buộc, không luân hồi cũng chẳng phải lìa luân hồi v.v…. Các pháp Bí-Mật-Môn Đà Ra Ni Tổng Trì tánh không như thế chẳng phải là pháp vô-vô cũng chẳng phải là pháp hửu-hửu. Pháp tuy có đối đãi mà tâm vốn không đối đãi. Pháp tuy không đối đãi mà tâm lại có đối đãi. Pháp tuy có lúc đối đãi có lúc không đối đãi. Tâm có lúc không đối đãi có lúc đối đãi. Cho nên tâm và pháp cả hai đều phản quang giúp cho người tu đang tối dược sáng, bỏ sáng được tối. Tùy chỗ sử dụng tâm đắc, pháp đắc, cũng có lúc không cần tâm đắc và pháp đắc. Đây là pháp môn Bí-Yếu Mật Tạng Diệu Ngữ Ngôn Đà Ra Ni hay khiến cho chúng sanh đời nay và đời Mạt Pháp sau này tu tập kinh đại thừa Chuẩn-Đề Bổn Tôn mau thành tựu quả Tối Sơ Đại Mật Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Pháp môn Bí mật Đà Ra Ni này hay xuất sanh các môn tam muội Đại Định an trụ Bất Động chuyển như vậy, như nhiên dường như hư không chẳng có dấu vết. Nơi Thế gian có pháp cấu pháp tịnh, muốn cắt đứt rời bỏ không thể được, muốn bắt lấy bảo thủ không dễ dàng. Cho nên ở nơi pháp môn Bí Mật Vi Diệu Đà Ra Ni này còn gọi đó là: Phật phi Phật, Pháp phi Pháp, Tăng phi Tăng, định phi định, loạn phi loạn, giác phi giác, chơn phi chơn, đạo phi đạo, dâm phi dâm, tà phi tà, ác phi ác, thiện phi thiện v.v… Vì các pháp xưa nay tánh tướng vốn không thì làm gì có Thủy Tổ loài người. Nếu Thủy Tổ loài người mang bản tánh độc ác thời chẳng được gọi là đúng. Nếu bản tánh ấy hoàn toàn thuần thiện thời mới được gọi là Thủy Tổ của loài người, đây gọi là chánh danh.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Tánh ác và tánh thiện là pháp đối đãi cùa phiền nảo. Như Lai đã bao phen an trụ trong Mật Định xuất nhập nơi hằng hà sa ức như vô số vi trần thế giới làm pháp chiêm nghiệm tư duy để thoát ra vòng sanh tử, phiền nảo, khổ đau mà chúng sanh hằng ôm ấp đeo đuổi nó không hề có niệm chán mỏi và có ý buông bỏ. Như Lai đã im lặng vào chỗ Hư Vô Mật-Pháp Đà Ra Ni, ví như đang uống Cam Lồ dược vị, như đang cùng các vị đại Bồ-Tát dạo chơi các cõi Phật quốc, như đang ngồi trên xe thất bảo tự tại nơi các cõi Trời Đao Lợi, Đâu Xuất Đà, Tứ Thiên Vương, Tu Diệm Ma Đại Phạm, Phạm Phụ, Phạm Chúng, Long Cung, Quỷ Thần A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhơn phi Nhơn cùng với đia ngục A Tỳ không có chỗ chướng ngại. Như Lai là chúng sanh mà khác với chúng sanh. Như Lai là Thánh mà khác với Thánh. Như Lai là Bồ-Tát mà khác với Bồ-Tát. Như Lai là Phật Thế Tôn là ngôi vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc Thiện Thệ, Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn:
Khể thủ quy-y Tô-Tất-Đế
Đầu Diện Đãnh Lễ Thất Cu Chi
Ngã Kim Xưng Tán Đại Chuẩn-Đề
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha.
Án Chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề ta bà ha.
Bấy giờ đức Phật Mẫu Chuẩn Đề muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Đấng Vô Thượng Mật Ngôn
Chuyển mạnh bánh xe Pháp
Như Đại Sư Tử Vương
Phước đức vô cùng tận
Đầy đủ nghĩa pháp yếu
Khéo léo đều phục chúng
Diệu dụng nơi thế giới
Số tính như vi trần
Trí tịch huệ vô tịch
Suốt thấu trong tam giới
Đại độ khắp quần sanh
Im lặng dường như ngủ
Tiếng rống như Sư tử
Lẫy lừng như Rồng Thiên
Pháp nghĩa mầu rộng lớn
Ứng hợp các căn cơ
Chậm nhanh tuy có khác
Mà liệu định pháp mầu
Chọn đến chỗ vô định
An lạc tâm rỗng lặng
Diệu phước đại công đức
Thành trì chẳng có tướng
Danh lợi không chỗ nương
Ngu khôn chẳng điểm tựa
Thiện ác không nghe thấy
Cõi Phật đại quang minh
Trang nghiêm tịnh quốc độ
Công đức vô cùng tận
Khó nói khó nghĩ bàn
2. Hởi Nam Tử! Nữ Nhơn!
Muốn học đạo toàn chơn
Phải ân cần cầu Pháp
Các dục nhiểm xa lìa
Xả bỏ các việc ác
Cùng tội lỗi gian tham
Các vật chất mến yêu
Vợ con, vàng bạc thảy
Bạn bè đang thân thiết
Bỏ đi không nuối tiếc
Người trí nhẫn như vậy
Chẳng mỏi mệt tìm cầu
Nơi Thiện Hửu Tri Thức
Mà phục dịch ăn uống
Chấp tác, công quả thảy
Nghe lời dạy thâm sâu
Ghi nhớ tìm hiểu đó
Siêng tu tập oai nghi
Theo hạnh lành cao thượng
Thành tựu được như vậy
Gọi là Chơn-Mật đế
3. Phật Pháp chẳng biến hiện
Hư không chẳng chỗ sanh
Ly, lìa tuy có khác
Mà ý nghĩa lại đồng
Vô Vi, Tối-Mật-Ý
Bí yếu vô sai biệt
Suy gẫm lâu mới hiểu
Mỹ âm, Bí-mật âm
Tịnh âm, Thắng Nghĩa ậm
Quảng âm, Đại Oai âm
Nhuyển âm, Diệu pháp âm
Phật tánh rộng lớn khắp
Xuất sanh từ vô thỉ
Trụ chổ Hư Không Tạng
Đến đi khó lường được
Ra vào như ánh chớp
Xuất nhập pháp phương tiện
Thoáng hiện rồi biến mất
Không thể suy diễn được
4. Như Bồ-Tát Mật-Chiếu
Do bổn đại thệ nguyện
Cứu độ các chúng sanh
Như nhà Đại Ảo Sư
Vừa thấy Ngài biến mất
Chúng sanh dù thương tưởng
Một bậc thầy khả kính
Mà chẳng biết là ai?
Tổ loài người cũng thế
Dù biết mà chẳng biết
Dường như sống mộng ảo
5. Hởi Nam Tử! Nữ Nhơn
Thế gian là vô thường
Vua đất chết chế ngự
Không ai ngăn cản nổi
Thuốc trường sanh bất tử
Dù uống trăm ngàn ly
Cũng không thoát sanh tử
Trong mãnh bụi hằng sa
Ức vi trần thế giới
Chẳng tính đếm thí dụ
Phiền nảo là đất chết
Không có ngày yên lặng
Chúng sanh ở nơi đó
Mà thọ các đại khổ
Mê mệt lòng không chán
6. Đấng Đạo Sư Vạn Mật
Chuẩn-Đề Vương Thế Tôn
Sanh nơi đời ngu khôn
Tu hành Tập Chủng Trí
Huệ Đà La Tối thượng
Chế phục các phiền nảo
Ly lìa pháp thiện, ác
Thiện báo cùng ác báo
Tiền báo hoặc hậu báo
Nghiệp lành cùng nghiệp dữ
Pháp đối đãi sanh tử
Chẳng đắm nhiễm phút giây
Mà siêng tu đại pháp
Chuẩn-Đề Bí-Mật chú
Quảng đại chư chúng sanh
Thành tựu Bồ-Đề thọ
Quy-y đấng Chánh Giác
Mười phương ba đời Phật
Số Phật như vi trần
Không tính đếm thí dụ
Trời người chung tin tưởng
Thanh Văn, Duyên Giác thảy
Thấy Phật đấng xuất thế
Rãi hoa cúng dường Phật
Bao nhiêu các đức Phật
Thành tựu môn Mật-Giáo
Nhờ tu tập kinh này
7. Mười phương chúng Bồ-Tát
Xuất sanh trong đời ác
Thành tự đại phương tiện
Như tiếng chuông cảnh tỉnh
Khơi dậy lòng chúng sanh
Hàng phục chúng quân Ma
Thu phục các tà pháp
Nhiếp trừ chư phong thủy
Hóa giải nạn binh đao
Tất cả đều lui tán
Chúng sanh vướn tai nàn
Vương mang bao nghiệp khổ
Mà tưởng nhớ đến Phật
Tu tập kinh điển này
An ổn lòng tịnh định
Nhẹ nhàng như hư không
Chí thành tu tinh tấn
Quy-y và lễ bái
Tán thán cúng dường Phật
Hương bột hoặc hương xoa
Hương đốt, trầm, gỗ quý
Chiên đàn, Bạch giới tử
Huân lục hoặc phong đàn
Pha chế bơ cùng sữa
Cúng dường nơi thân Phật
Chí thành lòng cung kính
Mà tu tập kinh này
Trì tụng vô số kiếp
Công đức vô cùng tận
8. Như Bồ-Tát Mật Hạnh
Quân trì bình đẳng nguyện
Suy xét các nhân duyên
Dùng đại huệ tán thán
Nơi cõi Phật hằng sa
Quảng huệ soi thấu khắp
Cung kính cúng dường Phật
Tấn huệ hàng phục Ma
Lễ bái chư Bồ-Tát
Huệ chiếu nơi ba cõi
Quan sát nghĩa Phật pháp
Tịnh Huệ, địa Ngục môn
Cứu độ vô lượng chúng
Thiện huệ trừ ác đạo
Phổ hóa chư chúng sanh
Minh Huệ phá chư ám
Khai mở pháp phương tiện
Tán huệ ly phiền nảo
Giải thoát các trói buộc
Pháp huệ độ chúng sanh
An nhiên thanh tịnh địa
Như huệ khuyến đại chúng
Thầy lớn của Trời, Người
Đẳng huệ nhiếp tất cả
Thị hiện vô biên thân
Mật huệ khai đạo pháp
Mở môn đại cam lộ
Hải huệ nhập pháp giới
Im lặng dường như không
Đạo huệ độ quần Ma
Chuyển sức thần thông lực
Nghĩa huệ chơn lược thuyết
Thí dụ các nhơn duyên
Thí huệ cúng dường Phật
Hồi hướng khắp pháp giới
Thắng huệ mau thành tựu
Nghĩa pháp không cùng tận
Oai huệ đức hộ pháp
Giữ gìn tạng Bí-Yếu
Viên huệ pháp đầy đủ
Xoay dần trong chúng sanh
Nguyện huệ lòng bình đẳng
An lạc thành Tịnh-Độ
Các trí huệ như thế
Tập nhứt thiết chủng trí
Trời người không đến được
9. Như Lai trọn nơi pháp
Thành tựu vô biên thân
Trí huệ cũng như thế
Dạo đi trong Tam-Giới
Bằng cỗ xe Mật-Pháp
Nơi hằng sa thế giới
Tự tại không chướng ngại
Bằng các món tam muội
Tịnh Ý đà ra ni
Thâm tâm hằng trong sạch
Quang-Minh đà ra ni
Soi sáng trong ba cõi
Viên Tịch đà ra ni
Thẩm sâu nơi đại định
Mật ngữ đà ra ni
Diễn nói nghĩa đại pháp
Đẳng giác đà ra ni
Khai ngộ cho tất cả
Viễn ly đà ra ni
Quán sát sự xa lìa
Tuệ Mạng đà ra ni
Thân tâm đủ giới đức
Mật Tạng đà ra ni
Gồm thâu các phương tiện
Bát Nhã đà ra ni
Trí huệ thường tự tại
Thật tướng đà ra ni
Thi hành pháp chơn thật
Hồi hướng đà ra ni
Nghĩ nhớ chư chúng sanh
Đức Tạng đà ra ni
Chỗ chúa nhóm công đức
Bảo sanh đà ra ni
Các vật báu hiện đến
Cụ túc đà ra ni
Đầy đủ các tướng tốt
Pháp cự đà ra ni
Ngọn lửa soi đêm tối
Chánh pháp đà ra ni
Năng trừ nguy hiểm nạn
Tán thán đà ra ni
Ca ngợi hạnh thanh tịnh
Bất động đà ra ni
Im lặng không ngủ nghĩ
Vô niệm đà ra ni
Xa lìa các trược uế
Vô gián đà ra ni
Cứu khổ nơi địa-ngục
Quảng Hỏa đà ra ni
Dập tắt lửa Ma giới
Tịnh giới đà ra ni
Trang nghiêm cõi Phật độ
Thiện Mật đà ra ni
An ủi chư chúng sanh
Tự tại vô chướng ngại
Trên suốt Trời Cứu Cánh
Dưới thấu ngục A-Tỳ
Phương tiện vì đại chúng
Mà chẳng ai hay biết
10. Như Lai hằng buông bỏ
Chẳng chút lòng tham tiếc
Ra đi vào Niết Bàn
Chơn thị tịch là vui
Chẳng bận rộn quấy nhiễu
Tánh không nhập pháp giới
Pháp giới tự rỗng không
Viễn ly, ly tất cả
Nhất niệm, niệm hườn không
Vô vi đại mầu mầu
Nhiệm-Mật vô cùng tận
Vướng vít chút bản ngã
Chẳng được gọi là chơn
Không Mật-Pháp, Thiền Na
Chẳng gọi đó là định
Không oai nghi vững chắc
Chẳng gọi đó là Luật
Không xuất gia giải thoát
Chẳng gọi đó là lìa
Nếu lìa mà chẳng lìa
Gọi đây là phàm tục
Chẳng được dự chánh pháp
Chánh pháp chẳng có tướng
Dụng tướng từ nơi tâm
Chánh pháp chuyển động mạnh
Chấn động cả ba cõi
Tiếng nổ lớn chớp nhoáng
11. Như Lai đấng Hùng Mãnh
Chế ngự Trời, Người thảy
Hàng Ma độ muôn chúng
Chư Phật hằng khen ngợi
Tán thán đại công đức
Hư không trỗi nhạc âm
Cúng dường đấng vô thượng
Chuẩn-Đề Vương đức Phật
Hoa rãi như mưa lớn
Tiếng linh báu hòa reo
Tỳ Bà trỗi nhịp khúc
Chập chả, trống chiêng khua
Các âm thanh thượng diệu
Ca ngâm, vịnh, múa hát
Vì để cúng dường Phật
12. Bậc Vô Thượng Đạo Sư
Thành tựu pháp chơn như
Siêu vượt trong Tam Giới
Đà Ra Ni Tổng Trì
Mật pháp hàng Ma pháp
Sức mạnh Đại Tự Tại
Đều ở nơi kinh này
Mười phương ba đời Phật
Xưng dương cùng tán thán
Bổn nguyện tánh pháp màu
Chuẩn-Đề Phật vi diệu
Vì chúng hiện phân thân
Bảy mươi câu chi Phật
Thị hiện băm hai tướng
Quốc độ đều riêng khác
Chật đầy cả hư không
Để ủng hộ kinh này
Đại Oai đức rộng lớn
Trí hùng dựng Phật môn
Thành lớn cõi Niết Bàn
Che chở các hiểm nạn
Khiến chúng sanh vào đạo
Mà tu tập kinh này
Lần đến đạo vô thượng
Nam mô Chuẩn-Đề Hội Thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)
(Hết phẩm thứ mười bốn)
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN
QUYỂN THỨ VII
MẬT SƯ: THÍCH GIÁC TIẾN – THIỀN NHÂN
PHẨM Y BÁO VÀ CHÁNH BÁO THỨ MƯỜI LĂM
Lúc bấy giờ ngài Sư Tử Hẩu Kim Cang đại Bồ-Tát Ma Ha Tát suy nghĩ rằng: – Nếu chúng sanh có thể nương nhờ vào sức mạnh của đại thần chú Chuẩn-Đề mà tu tập, tức là còn niệm tưởng và ghi nhớ phân biệt. Như vậy các chúng sanh do lẽ nào mà được chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?
Phật Mẫu Chuẩn Đề biết được tâm niệm của Bồ-Tát, ngài im lặng vào Mật Định Tổng Trì môn tam muội, phát ra ánh kim quang trên đảnh Tỳ Lô như một mũi kim màu vàng phóng thẳng vào hư không làm cho đại địa, phong địa, thủy địa, hỏa địa, kim địa, thành quách lâu đài trong Tam-Giới đều bị chấn động mạnh. Như một người lực sĩ đang chuyển động các cơ bắp phát ra những tiếng kêu cóc cách. Ánh hào quang ấy lưu thông các quốc độ nhanh như ánh chớp đến các cõi Phật rồi trở về trạng thái ban đầu. Ngài Sư Tử Hẩu Kim Cang Bồ-Tát thấy điềm lành bèn hiệp chưởng hướng Phật mà bạch rằng:
Thế Tôn! Chúng con bị màn vô minh tăm tối che đậy không có lối thoát ra. Hôm nay nếu chúng con lọt vào màn vô minh tăm tối thứ hai thì chúng con lại càng lún sâu và không có chỗ giải thoát. Vậy xin Thế Tôn vì chúng sanh đời nay và đời sau dạy rõ pháp tu của giáo môn Mật Tông, mà chỗ niệm tưởng phân biệt có chứng đắc. Như vậy chúng con phải tu cách nào? hành cách nào? Dể đạt đến chỗ vô chứng vô đắc.
Khi ấy phân thân của Phật Mẫu Chuẩn Đề từ nơi thế giới Diệu Bí Ấn của Phật Tỳ Lô Kim Cương Như Lai cách nhau hằng hà sa số vi trần thế giới, quốc độ tên Thông Quán, ngự ở trung tâm vũ trụ. Từ nơi Mật Định Đà Ra Ni Bổn Tôn đức Phật nhiếp các phân thân ở các quốc độ của chư Phật trở về trên đảnh Tỳ Lô, dậy an lành mà bảo với ngài Kim Cang Sư Tử Hẩu Bồ-Tát rằng:
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Ông có thể vì tất cả chúng sanh đời nay và đời sau khai mở tạng Bí Mật của giáo môn Mật Tông mà thưa hỏi Như Lai những lời thần bí vi diệu bực nhứt này. Vậy các ông hãy chú ý lắng nghe. Ta sẽ vì các ông mà giảng nói pháp mầu thanh tịnh Đà Ra Ni này.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Pháp có hữu tức có vô, niệm có hữu tức có vô. Nếu pháp không hữu tức không vô, niệm niệm cũng lại như thế. Các ông quan niệm rằng thần chú Chuẩn-Đề này là có niệm thời không đúng, mà nghĩ rằng nó là vô niệm thì sai lầm. Pháp của Phật chẳng phải là niệm, chẳng phải là vô niệm, chẳng phải chơn chẳng phải phi chơn, chẳng phải phân biệt cũng chẳng phải vô phân biệt, chẳng phải hư chẳng phải vọng, chẳng phải tà chẳng phải chánh, chẳng phải ác chẳng phải thiện, chẳng phải thế gian hay xuất thế gian, chẳng phải Niết Bàn hay phi Niết Bàn. Vì sao? Vì pháp của Phật vượt qua tầm hiểu biết của Trời, Người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-Tát, La Hán, Pháp của Phật khó có thể đến được, vì pháp ấy là Y-Báo Chánh-Báo khó giữ gìn, khó tu hành, khó đạt thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Pháp của Phật là phi phàm phi thánh. Phàm phu không thể học được và Thánh Nhơn chẳng thể hiểu được. Pháp của Phật phi Thanh Văn, Duyên Giác và A La Hán, vì Thanh Văn không thể đến được, Duyên Giác không thể đạt được và A La Hán tuy dứt sanh tử nhưng chưa đầy đủ bổn nguyện độ sanh. Phật là vô độ mà độ tất cả, ở nơi chư Phật chẳng thấy có độ và không độ, hằng ở nơi Mật-Định an trụ vững chắc, chẳng theo sáu căn, sáu trần và sáu cảnh. Nội pháp đều xa lìa mà chẳng bị mất. Ở nơi pháp chẳng xa lìa mà xa lìa viên thành Mật Pháp Tâm Ấn Đà Ra Ni biến pháp giới thường trụ Tam-Bảo.
- Này Thiện Nam Tử! Thiện Nữ Nhơn! Lúc Như Lai đang thọ bát tại rừng Ô-Ta, bấy giờ chư Thiên cõi Trời Đao Lợi tên là Đại Hạnh đến nhiễu quanh Như Lai ba vòng rồi hỏi ta rằng:
- Thế Tôn! Hiện nay chúng con ở cõi Trời an hưởng khoái lạc chẳng nghĩ gì đến đạo đức tu hành, thân tâm lắm nỗi tham đắm ngu si. Chúng con có nhân duyên lành đến đây gặp lúc Phật thọ bát, chúng con có dịp cúng dường món ăn của cõi Trời và Phật đã thọ thí xong. Vậy chúng con xin hỏi Phật, ngài có thọ bát hay không thọ bát? Nếu có thọ bát là đồng với chúng sanh. Nếu không có thọ bát là đồng với gỗ đá. Chúng con là kẻ mê mờ trong Tam-Giới, xin Phật mở lòng từ bi thương xót chỉ dạy cho chúng con hiểu được chân lý mầu nhiệm của Phật.
Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề mỉm cười nhìn ngài Đại Hạnh Chư Thiên rồi mở lời dạy rằng:
- Này Thiên Đế! Các ngươi chớ nên nói rằng Như Lai đang thọ bát, có thọ bát và không thọ bát. Như Lai là bực ứng cúng Chánh Đẳng Chánh Giác an trụ và xuất nhập nơi Mật Định Đà Ra Ni không động không niệm. Như Lai đã xa lìa phiền nảo đến tận gốc rễ, không còn có dư nghiệp, biệt nghiệp, định nghiệp, ác nghiệp, cộng nghiệp, tiền nghiệp, trung nghiệp, hậu nghiệp, ngữ nghiệp, oán nghiệp, hiện tại nghiệp, quá khứ nghiệp, vị lai nghiệp, đẳng đẳng nghiệp v.v… các nghiệp như thế tính số lượng. Như Lai đã nhiều lần nhập diệt không muốn ở lại nhân gian. Các ngươi đã nhiều lần thỉnh cầu Như Lai, làm cho ta động mối từ tâm. Sao hôm nay các ông lại gạn hỏi Như Lai có thọ bát hay không thọ bát? Thân tướng của Như Lai mà các ông trông thấy đó chỉ là ảo ảnh. Ví như nhà đại Ảo-Sư làm ra pháp hội rộng lớn của chư Phật và xóa đi một cách dễ dàng không ai ngờ được thuật biến hóa thần bí ấy. Như Lai cũng lại như vậy, dù các ông có thấy thân tướng và hình bóng của Như Lai, nhưng trọn không thấy được chơn hạnh thật sự của Như Lai, trừ Phật với Phật mới hiểu biết nhau mà thôi.
- Này Thiên Đế! Mười phương chư Phật chế ra pháp tam y nhứt bát tùy thân là khác hẳn với thế gian, và chế ra pháp tu hành giải thoát là thoát khỏi thế gian. Cách ăn uống, đi đứng nằm ngồi cũng không giống với phàm tục, các oai nghi khép kín gọn gàng. Khi ăn đều có tụng kinh chú nguyện, cầu nguyện và hồi hướng công đức cho khắp pháp giới chúng sanh hưởng sự lợi ích lớn, thì làm sao gọi là giống gỗ đá và giống chúng sanh được?
- Này Thiên Đế! Như Lai là vô thọ, vì tất cả chúng sanh cầu khẩn pháp tu hành giải thoát khi ta sắp nhập Niết Bàn. Như Lai vì thương xót chúng sanh mà chẳng nhập diệt. Các ông thấy Như Lai đang thọ mà chẳng thấy chỗ vô thọ của Như Lai, nhưng các ông chẳng thấy chỗ vô thọ của Như Lai. Giả sử các ông thấy chỗ vô thọ của Như Lai, nhưng các ông chẳng thấy chỗ thọ của Như Lai. Ví như các ông dùng ngọn đèn đốt sáng lên trong đêm tăm tối, khi đèn còn cháy thời thấy cảnh vật rõ ràng, nhưng khi tắt đèn thời các ông không thấy cảnh vật nữa. Cũng vậy Pháp của Như Lai là tạng Bí Mật Đà Ra Ni thậm thâm vi diệu, là Y-Báo chánh báo không ai so bì được. Các ông không thể lấy vọng mà so với định, không thể lấy mê mà so với giác, không thể lấy ác mà so với thiện, không thể lấy cát mà so với vàng rồng, không thể lấy xích sắt mà so với trân châu, mã nảo v.v… Do lẽ này mà biết rằng chỗ thọ của Như Lai các ông còn chưa hiểu biết rõ ràng hà huống là chỗ vô thọ.
- Này Thiên Đế! Như Lai chẳng phải vì vọng chấp mà nhiều lời giảng nói như thế. Như Lai thích im lặng nhẹ nhàng rãnh không giải thoát đại tự tại. Như Lai là đấng Thành Tựu Viên-Tịch là đấng Siêu Thiện Huệ, không tích chứa hữu hình và vô hình, chẳng tích chứa thiện ác, sanh tử thì làm gì có thọ và không thọ!? Như Lai thị tịch gọn gàng chẳng có chỗ chướng ngại. Như Lai đã từ lâu tu tập chơn hạnh Phật đà của giáo môn Mật-Tông không hề có niệm thối chuyển, chỗ tu tập ấy chẳng phải thiệt chẳng phải giả, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải đúng chẳng phải sai, chẳng phải nhất vị, chẳng phải hai tướng, chẳng phải tam thừa, chẳng phải tứ thiền cho đến cửu thứ đại định, chẳng phải tứ diệu đế hay bát thánh đạo phần, chẳng phải lục bộ Ba La Mật, chẳng phải thập nhị nhân duyên hay tứ hoằng thệ nguyện, chẳng phải lìa ba độc bỏ sáu căn ly Tam-Giới, chẳng phài theo chánh bỏ tà, chẳng phải mười tám cộng pháp hay sáu mươi hai pháp ngoại đạo v.v… Như Lai chẳng bị các món pháp này làm chướng ngại phân tâm. Như Lai chỉ phương tiện thực hành các pháp ấy cho đến khi thành tựu rồi xã bỏ nhẹ nhàng không luyến tiếc. Như Lai đã tu tập công hạnh Tối Chánh Giác như thế khó ai bì kịp chỗ vi mật nhiệm mầu lạ lùng như thế. Bấy giờ đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
1. Nơi cõi Phật hằng sa
Mười phương rộng bao la
Chỗ Viễn-Tịnh bậc nhất
Chư Phật vì thương xót
Ở nơi nguyện Mật-Pháp
Trí lực vạn năng thắng
Mà thành tựu Phật quốc
Vô lượng ức Câu chi
Tán thán diệu công hạnh
Đồng tiếng niệm thần chú
Án sĩ lâm Bộ lâm
Phật đảnh đại tâm ấn
Xuyên suốt các Phật địa
Âm thanh vượt hư không
Các cõi trong Tam-Giới
Đều rúng động êm dịu
Chúng sanh cảm ứng được
Khoan thay sức nhiệm mầu
Cõi A-Tỳ, Địa Ngục
Tự nhiên được siêu thoát
Sức mạnh oai thần lực
Nhập pháp giới thanh tịnh
Ly cấu ly khổ hải
Lìa thiện ác tham sân
Thấy ly mà chẳng ly
Thấy lìa mà chẳng lìa
Vì đó là thật tướng
Các tướng pháp như thế
Chẳng ai phá hoại được
Mười phương ba đời Phật
Ở nơi Pháp tướng ấy
Như lấy mắt nhìn ngang
Mà chẳng cần nhìn lại
Tự Tại thâm Mật-Pháp
2. Ta nay lược thuật nói
Nghĩa giáo môn đệ nhất
Các Bồ-Tát thượng thủ
Giữ gìn bổn kinh này
Y theo pháp tu tập
Thuần thục đạo vô thượng
Dùng gỗ hoặc chiên đàn
Khắc tượng và trạm trỗ
Khen ngợi cúng dường Phật
Đèn, nến, hương hoa thảy
Bông Mạn cùng Chiêm Bặt
Đa La hoặc Khiết La
Các loài hoa bực nhứt
Mà cúng dường thân Phật
Chiêm ngưỡng không chán mỏi
Niệm niệm chí bền vững
Vượt qua đường sanh tử
Các ác Ma chận đánh
Bồ-Tát chẳng nao núng
Các cung tên giáo mác
Xe ngựa cùng xe pháo
Voi dữ rất hùng mạnh
Lòng ác tánh tham ác
Tâm giận lộ sân si
Ganh ghét đạo Chánh Giác
Quyết hại thân Bồ-Tát
3. Vì nghe lời Phật dạy
Ta tu tập nhẫn nhục
Mở rộng tâm từ lớn
Nhiếp độ chúng cang cường
Hàng phục đại hung dữ
Mà tụng chú Chuẩn-Đề
Thu phục tâm đại ác
Các quân Ma hoảng sợ
Tâm ác liền biến mất
Sức mạnh Đại Pháp Vương
Không lường muôn ức cõi
Ta là cha muôn loại
Biết được lòng đại chúng
Kinh sợ tâm nhút nhát
Nên diển nói kinh này
Toái trừ đại ác nhơn
Khiến đó được an ổn
Tuy độ được chúng sanh
Mà chẳng thấy thiệt độ
Nếu độ tức hữu vi
Trong cả hai điều đó
Ta siêu vượt chánh định
Mật-Tạng Đại Bí Pháp
Vào các môn tam muội
Vượt qua hàng đại thánh
Thành bực Siêu-Thánh-Vương
4. Các Bồ-Tát chẳng biết
Ta tu tập những gì?
Thành tựu chỗ không thành
Pháp không Nhất-Mật-Nghĩa
Không thể luận không pháp
Mà hiểu được chơn lý
Hoặc dùng pháp không chấp
Biểu lộ ý chơn như
Cũng chưa hiểu được Phật
5. Chỗ chư Phật an trụ
Thâm diệu và huyền bí
Không thể suy diễn được
Lúc ta làm Bồ-Tát
Sức tinh tấn siêng tu
Ngày đêm ít ngủ nghĩ
An trụ nơi rừng vắng
Tu hành pháp Mật Định
Lặng lẽ cùng hư không
Dạo chơi chỗ im lặng
Ăn uống pháp hỉ thực
Chẳng móng động theo trần
Lướt mình vào vũ trụ
Bỏ cuộc sống đáng yêu
Tiêu diêu nơi thế giới
Tự tại vào Niết Bàn
Chơn thị tịch là vui
6. Chư Thiên Đại Tự Tại
Thấy ta ngồi tu tập
Sức mòn mỏi yếu đuối
Y áo đều rách nát
Thân thể như rũ liệt
Ốm yếu xương lòi lên
Hơi thở càng yếu dần
Mà tưởng ta sẽ chết
Dù thân thể yếu đuối
Mạch máu như ngừng chảy
Nhưng chẳng thể chết được
Bởi sức mạnh Tổng-Trì
Tối-Thắng đại thần chú
Án ngữ Đà La Môn
Bế quan các huyết mạch
Dập tắt lửa địa ngục
Thu phục đại tà tâm
Dọn sạch các hình cụ
Như vào chỗ không người
Phiền nảo không chỗ trụ
Lui tán ẩn núp hết
Thân tâm vô động chuyển
Bế huyệt, huyệt trống không
Bế khí, khí chẳng tuyệt
Bế thần, thần kinh phục
Bế Quỉ, Quỉ lánh tà
Bế Ma, Ma biến mất
Các tam muội như thế
Thuận nghịch khó lường được
Trong mỗi một sát-na
Trãi qua như số kiếp
Hàng phục chư Ngoại-Đạo
Nhẹ nhàng như mãi lông
Chúng sanh quá nặng nghiệp
Cang cường chẳng chịu tu
Nên ta vào Niết Bàn
Lòng chẳng chút do dự
Bỏ lại thân củ mục
Rời xa cuộc trần thế
7. Khổng Tước đến hại ta
Mà cũng lại cầu ta
Vì chúng sanh ngủ dục
Độ tận không còn thừa
Ta nhớ thuở quá khứ
Chư Phật đại phương tiện
Ngự trên đài Phật quốc
Ẩn hiện đảnh Tỳ Lô
Phát huy ánh sáng lớn
Hiện vô số ức thân
Sanh vào các thế giới
Nhơ bẩn hoặc trang nghiêm
Tùy theo lời bổn nguyện
Hoặc già, trẻ, nam, nữ
Hoặc chủ, tớ, quân, tôi
Vua chúa cùng mỹ nữ
Hoàng Hậu trong cung cấm
Thị hiện các cõi Trời
Đế Thiên cùng Đế Thích
Đao Lợi, Tu Diệm Ma
Tứ Thiên Vương, Phạm Chúng
Phạm Phụ, Đại Phạm Phụ
Mà trì tụng kinh này
Tu tập đại Mật-Tạng
Lưu bố giữa thế gian
Tuyên thuyết nghĩa giải thoát
Như tiếng rống Sư Tử
Chúa tể của muôn loài
Tất cả đều quy phục
8. Hỡi Nam Tử! Nữ Nhơn
Như Lai Tịnh Vương Pháp
Không ai so bì kịp
Bực xuất thế Đạo sư
Diệu tịch đại pháp mầu
Chơn Tịch vô vi Pháp
Huệ Tịch đại thánh thiện
An định không nhàm mỏi
Vững chắc như Tu Di
Trong tất cả Mật-Định
Thanh Văn cùng Duyên Giác
Bồ-Tát, Đại Bồ-Tát
Ngoại Đạo Thánh Chúng Tánh
Thần Thánh chư Thiên Ma
Dạ Xoa, Quỉ Bàn Trà
Rắn độc cùng Bò Cạp
Như Lai nơi chánh định
An vui đại hỷ xã
Rõ biết việc đời trước
Như thấy cảnh hôm nay
Y-Báo và Chánh Báo
Đều ở nơi kinh này
9. Quang Minh bậc Tối-Phạm
Soi rõ chốn trần nhơ
Trí huệ đại Thiện Tịch
Phá mờ chư ám chướng
Cõi Phật tịnh vi diệu
Soi sáng suốt đêm đen
Sa số các Phật quốc
Đồng danh hiệu Chuẩn-Đề
Trong thế giới vi trần
Siễng nhập hội thượng Phật
Các tướng tốt chánh phụ
Ẩn hiện ánh hào quang
Bay thẳng vào hư không
Hóa thành ngôi thất bảo
Đài cao vững rộng lớn
Đón mừng Phật Đại Nhựt
Giáo chủ tạng Bí-mật
Chủ trì nơi pháp hội
Tuyên thuyết pháp Mật-Giáo
Chuyển mạnh bánh xe pháp
Mưa pháp vũ rộng lớn
Đánh trống pháp cổ lớn
Uy vũ rộng bốn phương
Chúng sanh nghe vui mát
Thân tâm được an ổn
Xuất gia cầu giải thoát
Bồ-Tát vâng pháp chỉ
Mà lưu bố kinh nàygiới
Khắp hằng sa thế giới
10. Bấy giờ nơi đảnh Phật
Thu nhiếp các phân thân
Rồi trở về bổn quốc
Trong đại chúng Bồ-Tát
Thanh Văn cùng Duyên Giác
Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di
Bát bộ Kim Cang Thần
Thấy việc chưa từng có
Tán thán Đại Chuẩn-Đề
Thành tựu chơn Mật Pháp
Diễn rộng nghĩa đại thừa
Lật ngược tâm nghi kỵ
Chủ động diệu pháp môn
Phá hoại những tà kiến
Kiến chấp hoặc mê chấp
Nội chấp, ngoại chấp thảy
Ngoại đạo đều kinh sợ
Khiến tất cả đại chúng
Ngưỡng mộ nơi kinh này
Oai đức vô cùng cực
Không lấy gì so sánh
Sức trang nghiêm đại độ
Duyên theo các căn tánh
Hóa độ chư chúng sanh
Thành Vô Thượng Bồ-Đề.
Nam mô Chuẩn-Đề Hội thượng Phật Bồ-Tát (3 lần)
KINH CHUẨN ĐỀ BỔN TÔN
Quyển thứ VII
Phật Chuẩn-Đề vì Bồ-Tát Kim Cang, chỉ nguồn gốc loài người ai Thủy Tổ? Nói Mật Nghĩa bày phô đường chơn lý, dạy đạo mầu phá hoại cả hai bên. Trong đại chúng nghi ngờ câu thần chú. Phật vì đó nói chỗ thọ cùng không thọ.
Nam mô Thường Trú Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trú Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trú Thập Phương Tăng
Nam mô Chuẩn-Đề Vương Phật (3 lần)
(Hết phẩm thứ mười lăm)



Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 12 bài viết ]  Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế tiếp

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh