Hôm nay, Thứ 6 28/01/22 19:12

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 8 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 02/01/12 1:19 
Ngoại tuyến
Thành viên tích cực
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Thứ 5 01/09/11 0:31
Bài viết: 462
Đến từ: Trung Cung Thanh Tịnh (0979599669)

Đã cảm ơn     : 159 lần
Được cảm ơn : 297 lần
Thử một lần trượng phu

Một giai thoại kể rằng, chú tiểu nọ có tật xấu hay ăn cắp vặt và lúc nào cũng cãi chối. Nhiều lần các huynh đệ trình báo cho sư phụ biết nhưng không thấy sư phụ nói năng gì cả. Một hôm bắt gặp quả tang, các sư huynh đệ liền áp giải chú đến trước sư phụ và đều cùng quỳ xuống thưa: “Nếu sư phụ không đuổi sư em này đi thì chúng con sẽ bỏ đi hết”. Nhìn qua một lượt thấy nét nặt người nào cũng rất căng thẳng vì ấm ức còn riêng sư em thì rơm rớm nước mắt vì lo sợ, vị sư phụ liền ôn tồn nói: “Ta thấy các con đã đủ khôn lớn để chọn lựa việc phải trái nên các con muốn đi đâu thì đi, ta không ngăn cản vì không phải bận tâm nữa. Riêng sư em này còn nhỏ dại quá, chưa biết tội phước là gì nên phải cần ở lại với ta”. Khi ấy chú tiểu bật khóc nức nở và các huynh đệ kia ai nấy cũng đồng cảm kích trước tấm lòng vị tha cao cả của sư phụ. Các huynh đệ đó đã hiểu ra rằng nếu có người phạm lỗi là đón nhận bản án bị đuổi đi ngay lập tức thì chắc chắn trong tương lai sẽ khó có ai được ở lại để tu tập bền lâu với sư phụ vì ai mà không có những giây phút lỗi lầm. Về sau, chú tiểu kia trở thành một thiền sư lỗi lạc và danh tiếng.

Sống mà chỉ biết dựa vào những nguyên tắc cứng nhắc thì làm sao điều phục được con người, vì nguyên tắc vốn cố định còn bản chất con người thì muôn hình vạn trạng và liên tục đổi thay.

Phải có một nhận thức thấu đáo và nội lực vững vàng thì ta mới làm được cái quyết định sấm sét như vị sư phụ đó. Ông đã không ngại người đời hiểu lầm ,chê trách cũng không sợ các môn đồ bất mãn bỏ đi. Ông thà chịu mất lòng người khác chứ không chịu làm trái với đạo lý từ bi mà ông đang sống và giảng dậy cho môn đồ.

Mà cũng không phải vì đạo lý hay nguyên tắc nữa, đó chính là tình thương vô điều kiện của một người đã vuợt thoát ra ngoài sự khống chế và trói buộc của phiền não.

Ta có làm được như vị sư phụ đó không? Chỉ cần một nhận thức đứng đắn về nguyên nhân sâu xa của kẻ gây ra lỗi lầm, có một trái tim đủ lớn để chứa đựng thì tha thứ sẽ không còn là sự thực tập khó khăn nữa vì bản chất của nó tùy thuộc rất ít vào đối tượng. Biết đâu nhờ vào lòng vị tha của ta mà kẻ kia tỉnh ngộ và thay đổi cuộc đời, đó chẳng phải là việc làm cao cả của một bậc trượng phu sao?

Lỗi lầm này của ai?

Đời sống với khuynh hướng hưởng thụ đã khiến cho ta không có nhiều cơ hội để nuôi dưỡng và bảo vệ những đức tính quý báu trong tâm hồn, thậm chí ta còn liều lĩnh chấp nhận chịu hư hao những hạt giống tốt đẹp ấy để đổi lấy những thỏa mãn, tiện nghi. Khi đời sống tinh thần trở nên yếu kém thì chắc chắn ta sẽ gây ra ít nhiều những vụng về trong cách hành xử với người chung quanh hay lỡ chân trượt vào cạm bẫy.

Lúc đầu ta hay có thói quen đổ thừa cho hoàn cảnh, trách đời trách người nhưng khi tâm tư lắng đọng ta mới thấy rõ chính nhận thức sai lầm và nội lực yếu đuối của ta mới là nguyên nhân gốc rễ gây ra tất cả những vụng về, lầm lỡ đó.

Vừa mặc cảm ăn năn, vừa hốt hoảng lo sợ, tâm tư vốn sa sút giờ lại càng sa sút hơn. Nếu không có cánh tay hết lòng nâng đỡ của người thương yêu đưa tới, mà còn phải chịu thêm áp lực của những người chưa hiểu, chưa cảm thông thì có thể ta sẽ lún sâu vào vũng lầy lầm lỗi hay sẽ chọn giải pháp tồi tệ nhất để mong tìm một lối thoát thân.

Tôi được nghe kể về một em sinh viên vì không được toại ý về kết quả điểm thi, cho rằng các thầy cô đã cố tình chèn ép mình nên đã đối xử rất hung bạo với Ban Giám Hiệu nhà trường. Sự việc đáng tiếc này đã gây xáo trộn rất lớn trong dư luận. Thầy cô và bạn bè gần như tẩy chay em, gia đình đã trách giận và không muốn nhìn mặt em, những người chung quanh đã không tiếc lời cay đắng buộc tội và háo hức muốn trừng phạt em với một bản án tù xứng đáng. Kết quả là vài tuần sau đó, em đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng và trở thành bệnh nhân tâm thần cho đến nay.

Đúng là em đã phạm sai lầm, em đã từng là người của công chúng, là học sinh gương mẫu, đại diện thế hệ trẻ năng động và sáng tạo qua cuộc thi tài năng trẻ… Nhưng nếu nhìn cho thấu suốt, ta sẽ thấy hành động sai lầm của em hôm nay không chỉ của riêng bản thân em thôi , nó còn liên hệ sâu xa đến nhiều đối tượng đã và đang ảnh hưởng đến đời sống của em. Ta không thể nào nói em là một cá thể biệt lập, không có liên can gì tới ta. Không đâu, tất cả chúng ta đều có một phần trách nhiệm trong đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Nếu gia đình chăm sóc đời sống tinh thần của em kỹ lưỡng hơn, bạn bè và môi trường chung quanh tiết chế được những năng lượng tiêu cực hơn, tôn giáo kịp thời đem tới cho em những phép thực tập có khả năng chế ngự những cảm xúc trong lòng hơn, học đường trao truyền cho em đầy đủ vốn liếng đạo đức và có tình thầy trò hơn, an ninh xã hội quản lý chặt chẽ hơn các nguồn phim ảnh hay trò chơi điện tử có tính chất bạo động, kinh tế phát triển cân đối hơn để con người bớt bận rộn, có nhiều cơ hội tìm hiểu và thương nhau nhiều hơn… thì chắc là em không dễ lạc vào nẻo đường tăm tối như vậy.

Ta nỡ đổ hết trách nhiệm này lên vai em thì sao em gánh nổi. Em sẽ gục ngã và mất hết tương lai và ta cũng sẽ mất dần những người em tiếp nối ta đi về tương lai. Những người em đó là tương lai của chúng ta. Em đã mắc phạm sai lầm và em cần được cứu giúp, đó là con đường thoát cho em và cho cả chúng ta. Ta đừng nên để sự giận hờn và thất vọng quá mức khiến ta trở thành kẻ thờ ơ, vô trách nhiệm, để rồi ngoảnh mặt quay đi hay thẳng tay trừng trị hết những người em nhất thời non dại.

Xin cho một con đường

Ta cũng chớ nên cho mình cái quyền lên án, buộc tội kẻ khác. Nếu chúng ta vẫn còn có những vụng về, mắc phải những lầm lỡ, dù người đời chưa biết đến thì chúng ta cũng không thể nào tự cho mình là trong sạch mà tùy tiện dán nhãn hiệu xấu xa lên đầu kẻ vừa phạm lỗi. Hãy cho người kia một cơ hội để chuyển hóa, vì như vậy cũng chính là ta đã tự cho mình một con đường thoát trong tương lai.

Vậy nên tha thứ là chất liệu quan trọng của bản chất thương yêu. Khi thiết lập bất cứ một liên hệ tình cảm nào, nếu ta ngây ngô nghĩ rằng người kia chắc chia từng lầm lỗi thì ta sẽ khổ và sẽ làm người thương của ta khổ. Đời sống còn chìm trong vô minh thì không thể tránh khỏi hành vi không tự chủ. Vấn đề là ta có khả năng chấp nhận và tha thứ rồi tìm cách giúp họ vượt thoát tình trạng hay không chứ không phải mong muốn người kia toàn hảo thì ta mới có thể yêu thương.

Tất nhiên là tùy vào mức độ sai lầm của người kia mà ta nên thể hiện cách tha thứ nào hiệu quả nhất, tại vì điều đó cũng có tính chất quyết định cho sự chuyển hóa hay khinh lờn của đối tượng. Cho dù cách thức nào đi nữa, thậm chí ngay cả sự lựa chọn không tha thứ ngay thì ta cũng đừng quên tự hỏi mình một câu hỏi quan trọng: Ta làm vậy vì người kia hay vì chính ta? Coi chừng ta đang bị thúc đẩy bởi sự tự ái hay tổn thương của bản ngã ích kỷ mà cứ ngỡ là vì người kia.

Nếu thật sự vì tương lai của người kia thì ta phải đủ sáng suốt và can đảm để thu gọn cảm xúc buồn giận trách móc của mình, tìm cách ứng xử với người kia như thế nào để họ sớm hồi phục. Chỉ cần kiểm tra lại tâm ý, lời nói và hành động của mình có xuất phát từ tình thương hay không là ta đủ yên tâm để làm quyết định.

Cho dù người kia có đứng ra bày tỏ sự ăn năn hối cải một cách thành khẩn hay không thì ta cũng nên nhớ rằng đó chỉ là hình thức để ta thấy được thái độ muốn sửa chữa sai lầm và cũng nên xem đó là một biên bản ngầm ký kết cho sự hợp tác giúp đỡ nhau. Ta đừng để mình bị kẹt vào những hình thức thể hiện bên ngoài mà không thấy được trái tim của người kia. Ta đã từng chứng kiến có rất nhiều người sẵn sàng buông xuôi tất cả nếu kẻ phạm lỗi chịu quỳ xuống cầu khẩn thiết tha, nhưng họ lại sẵn sàng đóng chặt trái tim khi người kia không biết đem sự hối cải trong tâm ra trình diễn cho đẹp lòng họ.

Khó vượt qua chính mình

Ta có thể đặt cho mình câu hỏi tại sao ta khó có thể tha thứ cho người kia? Ta chỉ thường chỉ nghĩ một chiều là do mức độ vi phạm của họ quá lớn nhưng tại sao cũng có trường hợp như vậy mà có người lại hành xử khác ta?

Có khi ta chịu nhiều áp lực từ những khó khăn trong cuộc sống hoặc đang bế tắc khổ đau vì những phiền não trong lòng, nên ta không còn đủ năng lượng để ngồi xuống lắng nghe hay không còn đủ thiện chí để tìm hiểu về lỗi lầm của người kia nên ta đã có những phán xét rất vội vàng.

Trường hợp này do ta sa sút về nội lực

Có khi người kia đã cố gắng hết sức nhưng vì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ cứng rắn nên để điều đáng tiếc phải xảy ra. Trong khi đó, ta lại tưởng là người kia đã không nhiệt tình; hoặc người kia do họ vụng về nhất thời mà buông ra những hành vi thất lễ nhưng ta lại cho rằng người kia đang rất khinh thường và có ý muốn loại trừ ta. Trường hợp này ta bị vướng vào trí tưởng tượng sai lầm.

Có khi người kia vì u mê dại dột hay vì yếu đuối nên không thoát khỏi vũng lầy đam mê để cho lỗi lầm cứ lập lại nhiều lần như một điệp khúc; hoặc ta chưa từng chứng kiến một người có thể gây ra lầm lỗi tày trời như vậy; hoặc ta chưa có thói quen tha thứ cho kẻ có quá nhiều ân tình với ta như vậy mà lại đang tâm phản bội ta. Trường hợp này, khả năng chứa đựng tình thương của trái tim ta còn quá nhỏ, chưa có cơ hội mở rộng ra.

Có khi người kia mắc những sai lầm không đáng kể nhưng vì tính ta vốn quá chỉnh chu, đòi hỏi mọi việc phải hoàn hảo nên lúc nào cũng canh chừng lỗi lầm của người khác để kết tội; hoặc do ta không hề quan tâm đến hoàn cảnh hay trình độ nhận thức của người khác, chỉ muốn áp đặt theo hình thức của riêng mình. Trường hợp này, ta bị kẹt vào sự cố chấp và định kiến, đó một loại bản năng tự vệ rất cổ hủ.

Có khi sự việc diễn ra ta đã liền bực tức và vội vàng tuyên bố đoạn tuyệt, sau khi điềm tĩnh nghĩ lại thì thấy mình cũng hơi quá đáng, nhưng muốn kẻ phạm lỗi kia phải thành khẩn biểu lộ sự ăn năn thì ta mới chịu bỏ qua. Lỡ như người kia thiếu ý thức hay cứng đầu thì lỗi lầm ấy sẽ biến thành bản án treo không rõ ngày kết thúc. Trường hợp này, ta là kẻ yếu đuối, hành xử theo cảm tính.

Có khi người ta phạm những lồi lầm với ta vô cùng nghiêm trọng, hay có ảnh hưởng đến danh tiếng và uy tín của ta; hoặc ta đã muốn tha thứ rồi nhưng lại sợ người khác cười chê ta thiếu kỷ cương nề nếp hay dung túng cho kẻ làm điều xấu; hoặc ta e ngại nếu tha thứ quá dễ dàng thì người kia sẽ ỷ lại, chẳng coi ta ra gì.Trường hợp này, ta bị kẹt vào danh dự, thực chất cũng là một loại nghiện cảm xúc, một loại tôn thờ chủ nghĩa cá nhân.

Tất cả những trường hợp không thể tha thứ vừa nêu đếu có cùng một nguyên do chính là sự vướng kẹt vào bản ngã. Vì quá nâng niu bản ngã nên ta chỉ nghĩ đến những điếu có thể đem lại lợi ích thiết thực cho chính ta thôi. Đó chính là căn bệnh vị kỷ truyền kiếp, hành tung của nó hết sức tinh vi và phức tạp, nếu thiếu quan sát tinh tế thì ta rất dễ bị nó đánh lừa là ta đang vì kẻ khác.

Càng vị kỷ thì càng không thể vị tha trong khi tình thương phải bắt nguồn từ trái tim biết buông bỏ bớt những cái riêng của mình để chia sẻ đến tha nhân, vì tha nhân cũng chính là một phần đời sống của ta. Không có tha nhân thì không có tình thương, làm sao ta sống nổi khi đời sống không có tình thương?

Thà là ta cứ tha lầm thì mức độ hối tiếc sẽ thấp hơn nhiều so với chấp lỡ. Bởi khi nhận ra chính thái độ cố chấp của ta ngày ấy đã đẩy người kia rớt xuống vực thẳm của khổ đau thì ta sẽ gánh chịu mặc cảm ăn năn suốt đời. Còn khi phát hiện ra quyết định tha thứ của ta đã không mang tới hiệu quả thì ta vẫn còn nhiều cơ hội để cứu được, vì trái tim ta đang trong chiều hướng nở ra và mạnh mẽ chứ không co rút lại.

Điều đáng sợ nhất là trong quá trình thương yêu, ta đã để cho trái tim mình trở nên bé nhỏ và không còn là vật rung cảm linh thiêng nữa.

Này bạn! Tôi không có ý khuyên bạn hãy trở thành bậc thánh để sẵn sàng tha thứ hết mọi lầm lỡ của con người. Nhưng nếu trái tim bạn còn sức chứa đựng thì đừng suy tính gì nữa, hãy tha thứ cho nhau đi. Tha thứ luôn là linh dược màu nhiệm có thể trị liệu mọi nỗi khổ niềm đau cho người được tha thứ và cho cả người tha thứ.

Mắm muối không hề mặn
Với lượng cả dòng sông
Lỗi lầm kia bé nhỏ
Với cõi lòng mênh mông…


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 02/01/12 13:06 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 6 09/09/11 11:33
Bài viết: 151

Đã cảm ơn     : 120 lần
Được cảm ơn : 244 lần
Bài dài, nhưng rất hay và có ý nghĩa giáo dục cao.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 02/01/12 15:08 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 16/08/11 23:55
Bài viết: 298

Đã cảm ơn     : 93 lần
Được cảm ơn : 357 lần
phúc định đã đăng rất nhiều bài nhưng vì nó là những bài mà ai đi vào con đường tu cũng đều phải biết , và nếu như chính chủ nhân của bài đó hay người đọc mà thực hiện được một chút xíu xíu thôi thì cũng đủ đạt được quả vị trong đường tu rồi, và vì thế nên Minh Thiên chỉ đọc thôi mà không bình luận gì..
nhưng bài hôm nay Minh Thiên phải nói rằng cám ơn em dã đăng bài này lên..nó rát có ý nghĩa đối với tất cả những ai dù có tu hay không tu, đời hay đạo..trong đạo nếu ta không có lòng vị tha tha thứ xả bỏ thì rất khó vượt lên đến đỉnh cao của việc tu tập ..
xin một lần nữa cảm ơn em, và anh cũng mong em đã đăng được thì cũng sẽ làm được như bài viết.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 02/01/12 23:52 
Ngoại tuyến
Thành viên tích cực
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Thứ 5 01/09/11 0:31
Bài viết: 462
Đến từ: Trung Cung Thanh Tịnh (0979599669)

Đã cảm ơn     : 159 lần
Được cảm ơn : 297 lần
minhthien đã viết:
phúc định đã đăng rất nhiều bài nhưng vì nó là những bài mà ai đi vào con đường tu cũng đều phải biết , và nếu như chính chủ nhân của bài đó hay người đọc mà thực hiện được một chút xíu xíu thôi thì cũng đủ đạt được quả vị trong đường tu rồi, và vì thế nên Minh Thiên chỉ đọc thôi mà không bình luận gì..
nhưng bài hôm nay Minh Thiên phải nói rằng cám ơn em dã đăng bài này lên..nó rát có ý nghĩa đối với tất cả những ai dù có tu hay không tu, đời hay đạo..trong đạo nếu ta không có lòng vị tha tha thứ xả bỏ thì rất khó vượt lên đến đỉnh cao của việc tu tập ..
xin một lần nữa cảm ơn em, và anh cũng mong em đã đăng được thì cũng sẽ làm được như bài viết.


Phúc Định biết anh sẽ lên tiếng và bình luận với bài viết này, và anh cũng đã nói, để em hiểu anh hơn.
Nói chung xét cho cùng làm bậc TRÍ thì phải lắng nghe cuộc sống bằng cả 2 tai đúng không anh. Ta có tai Trái và tai Phải. Có lời trái và lời phải ta phải phân minh chính mình.
Nhiều khi muốn lấy lòng một kẻ người ta làm một bọc quà, một bữa ăn, một phong bì, một lời tâng bốc...và người TRÍ cũng có lúc ăn no bả mà chẳng biết, còn người ta lại miệt thị một người ăn mày không có gì cho họ..., đó là chuyện của thế gian miễn sao đừng giống mình là được.
Tiếc rằng, nhiều khi CON người vẫn thường muốn và lắng nghe những điều mà người nào mình thích và họ làm mình vui. để phân minh được như vị sư thật khó, vậy là anh đã làm được rồi đó.


Sửa lần cuối bởi Phúc Định vào ngày Thứ 3 03/01/12 2:14 với 3 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/01/12 0:02 
Ngoại tuyến
Thành viên tích cực
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Thứ 5 01/09/11 0:31
Bài viết: 462
Đến từ: Trung Cung Thanh Tịnh (0979599669)

Đã cảm ơn     : 159 lần
Được cảm ơn : 297 lần
Năng lực phán xét
Sự thật thừ nhất là bạn không thể thực sự trông cậy vào bản thân để tự thấy hết sự mê lầm của mình. Khi mê lầm, bạn không biết mình mê lầm . Bạn cần phải có sự giúp đở đáng tin cậy từ bên ngoài để chỉ cho bạn thấy rõ. Vì vậy, khi Đức Phật khuyên những người Ca-lam ( Kalamas ) phải tự mình biết lấy, một trong những điều Ngài bảo họ phải tự biết mình là phải biết những hành vi của họ thường được các bậc hiền trí phán xét như thế nào. Khi khuyên con trai của Ngài La-hầu-la thấy những hành động của mình đã gây ra điều tai hại thì Tôn-giả phải bàn luận với một vị thiện trí thức trong quá trình tu học. Có như thế Tôn-già mới biết làm thế nào để thành thật với những người khác - và với chính mình – về những lỗi lầm của mình và đồng thời tiếp cận với kiến thức của vị ấy. Tôn giả sẽ tự mình tiếp tục tái chuyển pháp luân.

Vì vậy, nếu thật sự muốn trở thành thiện xảo trong tư tưởng, lời nói và hành động của mình, bạn cần một vị thiện trí thức chỉ cho mình thấy những điều mình chưa biết rõ. Vì bạn rất khò nhìn thấy những điều này khi mình còn có những tập tính xấu, nên bổn phận chủ yếu của một vị thiện trí thức là chỉ rõ những lỗi lầm của bạn-vì chỉ khi nào biết rõ lỗi lầm bạn mới có thể sửa chửa chúng ; và chỉ khi nào sửa chửa chúng bạn mới có được lợi lạc từ tình yêu thương của vị thiện trí thức khi vạch rõ lỗi lầm cho mình.

“ Nếu thấy bậc hiền trí, chỉ lỗi và khiển trách. Như chỉ chỗ chôn vàng. Hãy thân cận người trí ! Thân cận người như vậy, Chỉ tốt hơn, không xấu ”

( Kinh Pháp Cú 76 HT. Thích Minh Châu dịch )

Khi đưa ra những lời phán xét về lỗi lầm của bạn, vị thiện trí thức giống như một người huấn luyện ngựa đến gặp Đức Phật. Ngài hỏi anh ta huấn luyện ngựa của anh ta như thế nào ? Anh ta trả lời rằng, một số ngựa phù hợp với cách huấn luyện nhẹ nhàng, một số khác chỉ phù hợp với cách huấn luyện cứng rắn, một số khác thì kết hợp cả hai cách huấn luyện ; nhưng nếu một con ngựa không phù hợp với cách huấn luyện nào cả thì anh ta sẽ giết con ngựa đó để giữ danh tiếng cho phương pháp huấn luyện đã được kế tục từ nhiều đời. Rồi người huấn luyện ngựa hỏi Đức Phật xem Ngài dạy dỗ các đồ đệ của Ngài như thế nào. Đức Phật đáp : “ Cũng giống như vậy ”. Một số đồ đệ không phù hợp với những lời phê bình nhẹ nhàng, một số khác thì phải dùng lời phê bình cứng rắn và với một số khác phải dùng cả hai cách, nhưng nếu một đệ tử không đáp ứng được cách phê bình nào cả, Ngài sẽ giết đệ tử đó. Người huấn luyện ngựa sửng sốt khi nghe Phật nói vậy và chỉ hiểu được khi Ngài giải thích, Ngài nói “ giết ” là ngụ ý gì : Ngài sẽ không tiếp tục dạy dỗ đồ đệ đó nữa, như vậy có nghĩa là đã giết chết cơ hội tiến bộ của người đó trong việc tu tập.

Do đó, điều kiện tiên quyết trong việc duy trì với một vị thiện trí thức là ta phải sẵn sàng chấp nhận những lời chỉ trích của người đó, cả những lời nhẹ nhàng lẫn những lời gay gắt. Vì vậy mà Đức Phật bảo các môn đồ của mình đừng dạy dỗ ai vì tiền, vì người trả tiền là người quyết định chúng ta phải dạy họ điều gì và hiếm khi người ta trả tiền để nghe những lời chỉ trích họ cần phải nghe. Nhưng ngay cả khi người thầy dạy miễn phí, ta có thể gặp sự thật khó chịu thứ hai mà Đức Phật đã nói đến : Bạn không thể với bất kỳ ai cũng mở lòng mình ra được. Năng lực phán xét của chúng ta có sức mạnh và bởi vì sức mạnh đó có thể tạo ra những lợi ích hay tai hại lâu dài , chúng ta phải chú trọng tới việc chọn thiện trí thức. Đừng để rơi vào cái bẩy dễ dàng của việc phê phán hoặc thiếu cân nhắc – phê phán dựa vào những tình cảm yêu ghét thiếu suy nghĩ, thiếu cân nhắc vì tin rằng đạo sư nào cũng là người hướng dẫn mang lại lợi ích cho ta. Thay vì làm như vậy, bạn hãy thận trọng trong việc chọn người mà bạn sẽ chấp nhận những phán xét của người đó làm của mình.

Dĩ nhiên điều này nghe có vẻ như là một nghịch lý. Bạn cần một vị thầy giỏi để giúp bạn phát triển năng lực phán xét, nhưng bạn cần có những năng lực phán xét thật tốt để nhận ra được ai có thể là một vị thầy giỏi, và mặc dầu không có một phương pháp dễ dàng nào đề tránh được cái nghịch lý đó, nhưng nếu bạn chịu học hỏi từ những trải nghiệm của mình, để cho ta có thể biết mình tìm kiếm điều gì trên con đường tu học. Trên thực tế những lời dạy của Ngài về việc làm thế nào để chọn một vị thiện trí thức là một bài tập sơ khởi về sự nhận thức sâu sắc ; học cách làm thế nào để phát triển những năng lực phán xét thận trọng để cho cả bạn nữa có thề trở thành một thiện trí thức, trước hết là của chính mình và sau đó là của những người chung quanh mình.

Bước đầu tiên trong sự thận trọng là phải hiểu được phán xét một cách có ích nghĩa là gì. Bạn hãy đừng nghĩ đến một vị quan tòa đang ngồi ghế xử án và đang tuyên án có tội hay vô tội, mà hãy nghĩ đến một cô giáo dạy dương cầm đang ngồi lắng nghe bạn chơi đàn. Cô giáo không đưa ra lời phán xét cuối cùng về tiềm năng trở thành nghệ sĩ dương cầm của bạn. Thay vào đó cô giáo đang đánh giá một công việc đang tiếp diễn : lắng nghe ý định chơi đàn của bạn, lắng nghe bạn thực hiện ý định đó có thành công hay không. Nếu nó không thành công, cô giáo phải tìm hiểu xem vấn đề là do ý định hay việc thực hiện ý định đó, đưa ra những lời gợi ý có ích, và rồi để bạn thử dạo lại bản đàn. Cô giáo cứ tiếp tục như vậy cho đến khi cô hài lòng với việc đánh đàn của bạn. Nguyên tắc quan trọng là cô không bao giờ phán xét con người bạn. Thay vào đó cô giáo phải tập trung chú ý vào những hành động của bạn và luôn tìm hiếm những cách tốt hơn để nâng các hành động của bạn lên đạt những chuẩn mực mỗi ngày một cao hơn.

Trong lúc đó, bạn cũng học từ cô giáo cách đánh giá việc đánh đàn của mình ; suy nghĩ cẩn thận hơn về ý định của mình, lắng nghe kỹ hơn việc đánh đàn của mình. Phát triển những chuẩn mực cho những gì mang lại hậu quả và học cách suy nghĩ một cách sáng tạo hầu tìm ra những cách thức để cải thiện việc đánh đàn của mình. Điều quan trọng hơn hết là bạn đang học được việc tập trung sự phán xét của mình vào việc đánh đàn của mình – bạn sẽ dể dàng nhận ra những thói quen xấu và từ bỏ chúng để thay vào đó những thói quen thiện xảo hơn.

Dĩ nhiên khi bạn là cô giáo đánh giá sự tiến bộ của bạn khi bạn chơi một bản nhạc nào đó thì đó cũng là một phần của sự tiến trình lâu dài hơn trong việc đánh giá xem mối quan hệ đã diễn ra tốt đẹp như thế nào. Cô giáo phải đánh giá, qua thời gian, xem thử bạn có học hỏi được gì nhờ sự hướng dẫn của cô ấy không và bạn cũng làm công việc đánh giá đó. Nhưng cũng như đã đề cập trước đây, cả hai người không ai phán xét giá trị của người kia. Cô giáo chỉ căn cứ vào sự tiến bộ của bạn để quyết định xem cô ấy có uổng công vô ích khi tiếp tục nhận bạn làm học trò. Bạn đánh giá xem những lời chỉ bảo của cô giáo thực sự giúp bạn chơi đàn tốt đến mức độ nào. Nếu một trong hai người quyết định chấm dứt mối quan hệ thì đó không thể là vì bạn là người học trò tồi, mà chỉ vì cô ấy không phải cô giáo phù hợp với bạn, hoặc là bạn không phải người học trò phù hợp với cô giáo ấy.

Tương tự như vậy, khi bạn đánh giá một người có thể trở thành đạo sư của bạn, bạn hãy nhớ rằng trong Phật giáo không có Sự Phán xét cuối cùng. Khi tìm kiếm một vị thầy, bạn muốn có một vị thầy là người sẽ đánh giá những hành động của bạn như là một sự việc đang tiến triển và bạn cần phải áp dụng cùng một chuẩn mực như vậy khi đánh giá vị thầy đó. Và bạn không cố gắng đóng vai trò quá sức là người đánh giá người là đánh giá trị thực chất của người đó. Đơn giản là bạn chỉ đánh giá xem liệu những hành động của người thầy đó có phản ảnh được hay không các kỹ năng mà bạn muốn học hỏi và những phẩm chất tinh thần –vốn cũng là một loại hành động –mà bạn cũng sẽ tin tưởng nơi một người huấn luyện hay một người hướng dẫn. Nói cho cùng, cách duy nhất để chúng ta hiểu biết những người khác là thông qua những việc làm của họ và những phán xét của chúng ta cũng chỉ làm được như thế. Tuy vậy, bởi vì chúng ta đang đánh giá xem liệu chúng ta có muốn tiếp thu những chuẩn mực của một người khác làm chuẩn mực của mình, chúng ta đánh giá những gì họ đang làm cũng không phải là một việc làm quá đáng. Và đó là để chúng ta tự bảo vệ mình, và để bảo vệ cho chúng ta, Đức Phật khuyên ta nên tìm kiếm hai phẩm chất ở nơi một người thầy : trí tuệ và tính chính trực. Để đánh giá được những phẩm chất này, chúng ta cần có thời gian và sự nhạy cảm, vì vậy mà Đức Phật cũng khuyên chúng ta nên sẵn sàng tiếp xúc nhiều với người đó và phải thật sự tinh mắt quan sát xem người đó hành động như thế nào.

Một thời khi vua Ba-tư-nặc đến viếng Đức Phật thì có một nhóm người tu khổ hạnh trần truồng đi ngang qua gần nơi đó. Nhà vua đến gần họ, quỳ xuống và đảnh lễ họ. Xong nhà vua quay lại nói với Đức Phật và hỏi Ngài : “ Những người khổ hạnh đó xứng đáng để đảnh lễ không ? ”. Ngài đáp rằng nhà vua chỉ có thể có câu trả lời khá thỏa đáng cho câu hỏi đó sau khi đã có thời gian tiếp xúc với họ và chỉ khi có con mắt quan sát thật tinh tế. Nhà vua ca ngợi sự thận trọng của Đức Phật và nói thêm rằng : “ Những người đó thực ra là những người do thám của con. Họ mới vừa đi trinh sát quân địch trở về và lát nửa thôi, sau khi tắm rửa và mặc quần áo vào họ sẽ trở về nhà vui vầy với gia đình họ ” Vì thế bạn không thể phán xét người khác chỉ bằng những ấn tượng ban đầu. Người ta rất dễ giả bộ làm ra vẻ có trí tuệ. Trong quá khứ, người ta thường dễ có ấn tượng bởi những sự khổ hạnh cùng cực ; giờ đây, những quảng cáo cho những cuốn sách giáo lý và những khóa tu học cho ta thấy chúng ta bị hấp dẫn bởi những tiêu chuẩn bề nổi, nhưng nguyên tắc để gây ấn tượng cũng vẫn là một.

Để khỏi mất thì giờ và sự cực khổ không cần thiết trong việc tìm kiếm. Đức Phật đã lưu ý bốn dấu hiệu cảnh báo ban đầu chỉ cho ta thấy những người thấy tiềm năng không có trí tuệ hay tính trung thực xứng đáng với sự tin tưởng của ta. Có hai dấu hiệu cảnh báo việc trí tuệ không đáng tin cậy: Dấu hiệu thứ nhất là khi người ta không tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ mà họ nhận được – nhất là sự giúp đỡ của các đấng sinh thành hay các vị thầy của họ. Người không có lòng biết ơn sẽ không biết quý trọng lòng tốt, không biết quý trọng nỗ lực nhằm giúp đỡ kẻ khác, và do đó chắc chắn chính họ cũng sẽ không nỗ lực để giúp đỡ người khác. Dấu hiệu thứ hai là họ không tôn trọng nguyên tắc nghiệp báo. Hoặc là họ chối bỏ quan niệm rằng chúng ta có sự tự do chọn lựa, hoặc là họ rao giảng rằng một người có thể xóa đi nghiệp xấu của một người khác đã gây ra trong quá khứ. Những người thuộc loại này có nhiều phần chắc là sẽ không nỗ lực để trở nên thiện xảo một cách chân thật và do đó họ là những người hướng dẫn không đáng tin cậy.

Về việc thiếu trung thực cũng có hai dấu hiệu cảnh báo: Dấu hiệu thứ nhất là khi người ta không cảm thấy xấu hổ khi nói một điều dối trá cố ý, như Đức Phật có lần nói: “ Một người như vậy có thể làm bất kỳ một điều xấu xa nào”. Dấu hiệu thứ hai khi người ta không tranh luận một cách công bằng và thẳng thắn ; xuyên tạc đối thủ của họ, chộp ngay lấy những sơ hở nhỏ của phía bên kia đã nêu lên. Đức Phật nói những kẻ như vậy thì không đáng cho chúng ta nói chuyện với họ, và lại càng không đáng để ta tôn trọng họ làm thầy. Đối với những người không bộc lộ những dấu hiệu cảnh báo sớm, thì Đức Phật cho chúng ta lời khuyên làm thế nào để đánh giá trí tuệ và tính trung thực của họ trong những hành động của họ qua thời gian. Một câu hỏi Ngài muốn bạn tự hỏi là liệu những hành động của người thấy có bộc lộ phần nào tham, sân, si khiến cho người thấy đó tự cho là mình có kiến thức về mọi điều thực sự mình không biết, hoặc bảo người khác làm một điều gì đó không mang lại lợi ích tốt nhất cho người đó. Để thử trí tuệ của người thầy, Đức Phật khuyên nên để ý xem người thầy tiềm năng phản ứng như thế nào trước các câu hỏi về những gì là thiện xảo và những gì là bất thiện và xem người thầy đối phó với tai họa, nghịch cảnh như thế nào. Để tìm hiểu về tính trung thực, bạn hãy tìm đức hạnh của người đó trong những sinh hoạt hằng ngày, và sự trong sáng trong những giao tiếp của người thầy đó với những người khác. Người thầy đó có đưa ra những lý do bào chữa cho việc không tuân thủ các giới luật, hạ thấp các giới luật xuống ngang tầm với hành vi của mình hay nâng hành vi của mình lên ngang tầm với giới luật. Người thầy đó có lợi dụng người khác một cách gian dối không ? Nếu như vậy thì bạn nên tìm một người thầy khác.

Tuy nhiên, ở đây ta lại gặp sự thật khó chịu thứ ba của Đức Phật : Bạn không thể là người phán xét công bằng tính trung thực của người khác nếu chính bạn không có được chút trung thực nào. Đây chắc hẳn là sự thật khó chịu nhất trong tất cả, vì nó đòi hỏi bạn chấp nhận trách nhiệm cho những phán xét của mình. Nếu bạn muốn trắc nghiệm tiềm năng hướng dẫn tốt của người khác thì chính bạn cũng phải vượt qua được một bài trắc nghiệm. Ta lại thấy nó giống như việc lắng nghe một người đánh dương cầm. Bạn chơi dương cầm càng giỏi thì khả năng của bạn phán xét việc đánh đàn của người khác càng tốt.

May thay Đức Phật cũng đã hướng dẫn cách phát triển tính trung thực, và cách này không đòi hỏi bạn bắt đầu phải là tốt bẩm sinh. Nó chỉ đòi hỏi một mức độ tốt chân thật và chín chắn : phải ý thức rằng những hành động của ta tạo ra tất cả những sự thay đổi trong cuộc đời ta, vì vậy bạn phải rất thận trọng trong những hành động của mình ; thái độ sẵn sàng thú nhận những sai lầm của mình, với chính mình và với những ngưới khác; và thái độ sẵn sàng rút kinh nghiệm từ những lỗi lầm của mình để bạn không tiếp tục phạm những sai lầm đó mãi. Như Đức Phật đã dạy La-hầu-la, trước khi bạn hành động bằng ý nghĩ, lời nói hay việc làm, bạn hãy nhìn vào những kết quả mà bạn nghĩ là hành động của bạn mang đến. Nếu hành động đó sẽ làm hại bạn hay một người nào khác thì bạn đừng làm. Nếu bạn không nhìn thấy trước sự tai hại nào hết, bạn hãy tiến hành làm. Trong khi bạn đang hành động, hãy kiểm tra xem liệu bạn có đang gây ra những tai hại gì không nhìn thấy trước được không. Nếu có hãy dừng lại, nếu không hãy tiếp tục cho đến khi hoàn tất. Sau khi đã hoàn tất, bạn hãy nhìn vào những kết quả lâu dài của hành động của mình. Nếu nó gây ra một điều tai hại gì đó, bạn hãy thảo luận với một người nào đó trong quá trình tu học. Hãy biết xấu hổ với lỗi lầm của mình, và quyết định không tái phạm. Nếu hành động của bạn không gây tai hại gì cả, hãy lấy đó làm niềm vui và tiếp tục hành trì tu tập.

Khi bạn tu học theo cách này, bạn học được bốn nguyên tắc quan trọng về việc vận dụng khả năng phán xét một cách lành mạnh. Trước tiên bạn phán xét hành động của bạn, không phải là phán xét chính bạn. Nếu bạn biết tách rời cái ngã của mình ra khỏi những hành động của mình, thì bạn có khuynh hướng sẵn sàng chấp nhận lỗi lầm của mình hơn và ít chống chế hơn khi người khác vạch rõ cho bạn thấy những lỗi lầm của mình. Nguyên tắc này cũng áp dụng vào ý thức xấu hổ mà Đức phật khuyên bạn nên cảm thấy đối với những lỗi lầm của mình. Sự xấu hổ này không phải nhắm vào bạn mà là vào hành động của bạn – sự xấu hổ mà một người có lòng tự trọng cảm thấy khi người đó làm một việc gì không xứng đáng với mình và không muốn tái diễn việc đó nữa. Sự xấu hổ loại này không làm cho mình suy yếu đi. Nó chỉ giúp bạn nhớ cái bài học mà mình đã học được mà thôi.

Việc này cũng liên quan tới nguyên tắc quan trọng thứ hai về việc phán xét lành mạnh. Nó đòi hỏi phải có chánh niệm theo ý nghĩa nguyên thủy của từ này ; giữ một điều gì đó trong tâm của mình. Chánh niệm loại này là tối cần thiết để phát triển năng lực phán xét của bạn, vì nó giúp bạn nhớ những bài học bạn đã học được qua năm tháng về những gì mang lại hiệu quả và những gì không mang lại hiệu quả. Bởi vì chúng ta thường cố gắng hết sức để quên những lỗi lầm của chúng ta, chúng ta cần phải luôn rèn luyện chánh niệm để ghi nhớ những bài học chúng ta đã học được về những lỗi lầm của mình để ta không mãi học đi học lại bài học đó mãi.

Đôi lúc bạn nghe định nghĩa chánh niệm là trạng thái không phán xét của tâm, nhưng đó không phải là cách Đức Phật giải thích về chánh niệm. Ngài thường so sánh chánh niệm với một người gác cổng theo ý nghĩa là nó giúp cho bạn phán xét việc gì nên làm và không nên làm.

Cũng giống như pháo đài biên cương của nhà vua có một người gác cổng – khôn ngoan, kinh nghiệm, thông minh – để không cho vào những người anh ta không biết, và chỉ cho vào những người anh ta biết, với mục đích bảo vệ những người ở trong và ngăn ngừa những người bên ngoài ; tương tự như thế, một môn đồ của các bậc vô thượng là người có chánh niệm, hết sức kỹ càng, thận trọng, ghi nhớ và có thể nhớ lại được cả những việc đã được làm hay đã được nói ra từ rất lâu. Lấy chánh niệm làm người gác cổng cho mình, môn đồ của các bậc vô thượng từ bỏ những gì thiện xảo, từ bỏ những gì đáng trách, nuôi dưỡng những gì vô tội, và giữ mình với sự trong sáng.

Tăng Chi Bộ kinh ( Anguttara Nikaya ) 7,63

Vì thế chánh niệm thực sự đóng góp một vai trò thiết yếu trong việc phát triển những năng lực phán xét của bạn.

Khi bạn tiếp tục cố gắng áp dụng những bài học mình đã học được, bạn khám phá ra nguyên tắc thứ ba về việc phán xét lành mạnh : Đó là những bài học bạn rút ra được từ những lỗi lầm của mình sẽ tạo ra một sự thay đổi, nếu bạn hành động dựa theo những hành động đó. Phút giây hiện tại không nhất thiết khi nào cũng mới đến nỗi những bài học của ngày hôm qua sẽ trở nên vô dụng hôm nay. Bạn có luôn tìm ra được những sự tinh tế mới trong việc áp dụng những bài học của quá khứ, nhưng những nét đại cương của việc tạo khổ và diệt khổ thì luôn luôn là như vậy.

Nguyên tắc thứ tư là bạn phải học cách làm sao để được lợi lạc từ những lời phán xét của người khác. Khi bạn đã chọn một người để giãi bày mọi chuyện, bạn muốn chấp nhận những lời khen chê của người đó, nhưng đồng thời bạn cũng muốn thử thách những lời khuyên bảo của người đó. Như Đức Phật đã từng nói với người dì của mình, bà Gotami, bạn có thể thử thách chân pháp bằng cách xem những kết quả pháp ấy mang lại khi đem áp dụng. Nếu nó đưa đến những phẩm chất đáng quý như là ly tham, khiêm tốn, hài lòng, tinh tấn và thanh thản, đó là chân pháp. Người dạy cho bạn chân pháp này đã thỏa mãn ít nhất là sự thử thách có phải là một vị thiện trí thức không. Và bạn càng ngày càng học được nhiều hơn cách làm thế nào để phán xét chính mình.

Một vài người có thể không tán thành cho rằng chú tâm tìm kiếm những thiện trí thức có thể mang lại lợi lạc cho ta là một việc ích kỷ, và thật là độc ác khi ta thử thách người khác xem có đạt yêu cầu không. Nhưng nói như thế là chưa thấy được trọng tâm của vấn đề. Những lợi lạc mà bạn có được từ tình bạn như thế này không phải chỉ dành riêng bạn mà thôi; và khi thử thách vị thiện trí thức của mình, bạn cũng đang thử thách chính mình nữa. khi đồng hóa với những phẩm chất của một vị thiện trí thức, bạn có thể thành người có tư cách thiện trí thức đối với người khác. Trở lại với câu chuyện tập đánh đàn dương cầm với một người thầy dạy dương cầm giỏi. Khi bạn chơi đàn dương cầm giỏi hơn, bạn không phải là người duy nhất được thưởng thức ngón đàn của mình. Bạn càng giỏi thì bạn càng mang lại nhiều niềm vui hơn cho những người khác. Bạn hiểu càng rõ việc đánh đàn thì bạn có thể dạy tốt hơn cho những người thành tâm muốn học đàn với bạn. Đó là cách mà những dòng truyền thừa thuyết giáo thượng phẩm được thiết lập để mang lại lợi lạc cho thế gian.

Vì thế, khi bạn tìm kiếm một thiện trí thức, bạn đang tiếp cận một dòng truyền thừa những bậc thiện trí thức, vươn dài trở lại đến tận Đức Phật, và giúp mở rộng vào tương lai. Gia nhập vào dòng truyền thừa này có thể đòi hỏi phải chấp nhận trách nhiệm về những hành động của mình. Nhưng nếu sẵn sàng đương đầu với thách thức, bạn biết chấp nhận năng lực phán xét này của con người – cái năng lực mà nếu không được rèn luyện có thể dễ dàng gây ra những điều tai hại – và rèn luyện nó cho mục đích thiện lành cao cả hơn.


Một hôm, có hai vị thiền sinh đi đường gặp một thiếu nữ mặc bộ đồ kimono mới đẹp. Khi đến đoạn đường sình lầy, cô có vẻ ái ngại, đi qua sợ lấm đồ.

Một thiền sinh hiểu ý, liền đến nói, “Tôi sẽ giúp cô qua đoạn sình lầy.

Thiền sinh đưa hai tay bế cô ta đi qua khỏi đoạn sình lầy rồi để cô xuống, bỏ đi. Thiền sinh cùng đi thấy vậy bất bình, trong lòng bực dọc, không vui. Khi về đến chùa, thiền sinh ấy nói, “Tại sao thầy dám ẳm một thiếu nữ xinh đẹp như vậy? Giới luật chỗ nào?”

Thiền sinh kia trả lời, “Tôi đã bỏ cô ấy bên đường, còn thầy mang cô ấy về đến chùa.”

Thế thì người làm mà không chấp, còn người không làm thì lại chấp. Vậy ai hơn ai, quý vị nói thử coi?


Sửa lần cuối bởi Phúc Định vào ngày Thứ 3 03/01/12 1:37 với 2 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/01/12 0:22 
Ngoại tuyến
Thành viên tích cực
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Thứ 5 01/09/11 0:31
Bài viết: 462
Đến từ: Trung Cung Thanh Tịnh (0979599669)

Đã cảm ơn     : 159 lần
Được cảm ơn : 297 lần
Phật bảo ngài Từ Thị:

Nếu có chúng sanh dùng tâm nghi hoặc tu các công đức, nguyện sanh cõi ấy, chẳng hiểu rõ Phật trí, bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, đại thừa quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí. Ðối với các trí ấy nghi hoặc chẳng tin, nhưng vẫn tin tội phước, tu tập cội lành nguyện sanh cõi ấy.

Giải: Phẩm này giảng về cái nhân của thai sanh, khuyên nên sanh lòng tin sâu xa hầu khỏi đọa vào nghi thành biên địa: trong năm trăm kiếp chẳng được thấy Phật và Tăng, chẳng được nghe kinh pháp.

Ngài Tịnh Ảnh viết: ‘Trước hết nói “chẳng hiểu rõ Phật trí”, câu này là tổng, [những câu như] “bất tư nghị trí” v.v… là biệt. Phật trí uyên thâm, những trí khác không suy lường nổi nên bảo là “bất tư nghị”. Phật trí thật nhiều, chẳng thể kể hết nên bảo là “bất khả xưng”. Phật trí biết rõ cùng tột các pháp môn nên gọi là “quảng trí”. Phật trí ở địa vị cao trỗi nên gọi là “vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí”.

Sách Hội Sớ lại nói:

“Chẳng hiểu rõ Phật trí” là nghi tánh đức bất tư nghì của Phật trí, chẳng ngộ được vì sao đức Như Lai là vĩ đại. Niệm Phật vãng sanh được kiến lập bởi Phật trí mà [chúng sanh] lại nghi ngờ trí ấy nên chẳng thể hiểu rõ Phật trí.

Bất tư nghị trí: vì trí huệ của Phật sâu rộng chẳng thể nghĩ bàn nên gọi là “bất tư nghị trí”. Niệm Phật vãng sanh được kiến lập bởi bất tư nghị trí mà [chúng sanh] lại nghi trí ấy nên bảo là “chẳng hiểu rõ bất tư nghị trí”.

Bất khả xưng trí là trí huệ của Phật nhiều đến vô lượng chẳng thể nói kể cho hết được nên gọi là bất khả xưng trí. Niệm Phật vãng sanh là do bất khả xưng trí thành tựu mà lại nghi trí ấy thì gọi là “chẳng hiểu rõ bất khả xưng trí”.

Ðại Thừa quảng trí là trí biết đến cùng tột các pháp môn nên gọi là đại thừa quảng trí. Niệm Phật vãng sanh là do đại thừa quảng trí cảm thành mà lại nghi trí ấy nên gọi là “chẳng hiểu rõ đại thừa quảng trí”.

Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí là trí ấy địa vị cao trỗi nên gọi là vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí. Nay niệm Phật vãng sanh đây do vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí phát khởi mà lại nghi trí ấy nên bảo là “chẳng hiểu rõ vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí”.

Kinh nói: ‘Dùng tâm nghi hoặc’ nghĩa là do chẳng tin hiểu nổi Phật trí nên sanh tâm ngờ vực. Chữ “nghi” có bốn ý, dưới đây tôi sẽ tổng hợp những ý chính của các vị Ðàm Loan, Nguyên Hiểu, Tuấn Ðế và Cảnh Hưng để giảng.

* Một là chẳng tin vào bất tư nghị trí nên nghi nếu chỉ niệm A Di Ðà Phật chưa chắc đã được vãng sanh Cực Lạc, chẳng biết rằng bất tư nghị trí có đại oai lực chẳng thể suy lường được nổi. Hết thảy muôn pháp không pháp nào chẳng phải là tự lực, tha lực, tự nhiếp, tha nhiếp, thiên biến vạn hóa vô lượng vô biên. Há nên dùng cái tình thức còn ngăn ngại của phàm phu ngờ vực diệu pháp vô ngại của đức Như Lai; đâu biết rằng một tấm gương có thể hiện bóng muôn vàn cảnh tượng, củi chất ngàn năm một mồi lửa cháy sạch.

Vì vậy, chí tâm nhất niệm xưng danh tiêu diệt được trọng tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp. Mười niệm ắt được vãng sanh có chi là lạ!

* Hai là chẳng tin vào bất khả xưng trí, chẳng hiểu được rằng thể tánh của Phật trí là tuyệt dứt mọi đối đãi, lìa mọi lỗi lầm, tuyệt mọi sai trái.

* Ba là chẳng hiểu rõ đại thừa quảng trí, nghi Phật chẳng thể thật sự độ hết thảy chúng sanh, lại ngờ hết thảy chúng sanh niệm Phật chẳng phải đều được vãng sanh Tịnh Ðộ. Bởi thế, đối với A Di Ðà Phật bèn sanh ý tưởng suy lường.

* Bốn là chẳng hiểu rõ vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, ngờ Phật chẳng đắc Nhất Thiết Chủng Trí. Do bởi nghi như thế nên đối với pháp môn niệm Phật chẳng thể chánh tín; do đó phải bị thai sanh.

Trong tác phẩm Tông Yếu, ngài Nguyên Hiểu lại viết:

‘Nếu người chẳng đoạn nổi bốn mối nghi đó thì dẫu sanh vào nước kia vẫn ở biên địa.

Nếu như có kẻ dẫu chẳng thể hiểu nổi cảnh giới của bốn trí vừa nói trên đây nhưng tự khiêm, tâm nhãn chưa mở nhưng ngưỡng mộ Như Lai, một bề tin phục thì những người như vậy sẽ tùy theo hạnh phẩm vãng sanh về cõi ấy, chẳng lạc vào biên địa.

Sanh vào biên địa là một loại riêng chẳng thuộc vào chín phẩm. Vì thế chẳng nên vọng sanh nghi hoặc’.

Lời luận này rất tinh xác, rất khẩn yếu. Nếu như tin hiểu được các trí của Như Lai thì là bậc thượng căn lợi trí; còn nếu chẳng tin hiểu nổi thì cứ giữ lòng rỗng rang, tự khiêm, tin kính, ngưỡng mộ các trí ấy thì cũng được vãng sanh, chẳng bị đọa vào nghi thành. Hành nhân Tịnh nghiệp nên đọc lại vài ba lần lời luận trên để thể hội sâu xa yếu chỉ ‘hư tâm ngưỡng tín’ ấy.

‘Nếu có chúng sanh đối với các trí ấy ngờ vực chẳng tin, nhưng vẫn tin tội phước, tu tập cội lành, nguyện sanh cõi ấy’ là nói về hạnh cảnh của kẻ bị sanh vào biên địa.

‘Tội phước’: ngũ nghịch, thập ác v.v… là “tội”; ngũ giới, thập thiện v.v… là “phước”. Chẳng kính tin nổi Phật trí, nhưng vẫn tin vào tội phước, nhân quả, thường tu lễ Phật, niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Do niệm Phật thật sự là căn bản của các điều thiện nên bảo là ‘tu các cội lành’. Hạng người như vậy tin phước chẳng tin trí, tin Sự nhưng lại mê nơi Lý nên bị đọa vào nghi thành.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 11/01/12 21:14 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Chủ nhật 18/09/11 12:41
Bài viết: 135

Đã cảm ơn     : 7 lần
Được cảm ơn : 94 lần
Cám ơn những bài viết chia sẽ rất bổ ích của PĐ

_________________
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam Mô Kim Cang Thủ Bồ Tát
Nam Mô Uế Tích Kim Cang Hộ Pháp


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Trả lời: THA THỨ
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 11/01/12 22:55 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 3 03/01/12 6:27
Bài viết: 8

Đã cảm ơn     : 30 lần
Được cảm ơn : 8 lần
Bài viết rất hay,cám ơn các đạo sư, đọc mà ngẫm là thấy trong lòng mình có một luồng gió mới và mọi việc sẽ là lòng ta lay động. Cảm tạ rất nhiều


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 8 bài viết ] 

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh