Hôm nay, Thứ 4 06/07/22 18:04

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 1 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 7 18/12/21 21:49 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Thứ 6 30/08/13 0:12
Bài viết: 650
Đến từ: Bụng Mẹ

Đã cảm ơn     : 17 lần
Được cảm ơn : 41 lần
ĐIỂM MƯỜI TÂM ĐỨC.
--------------------------
Đời phàm trải mấy sương mai
Tâm thân chánh pháp hình hài Mẹ Cha
Đại ngã vụ trụ bao la
Bước theo Nẻo Chánh mới là Phật Tiên
Sân si giải thoát trần miền
Bồ đề ý trí giữ kiên định lòng
Chánh Tà hiển mật song song
Sát na đắc đạo hiểu lòng vị tha
Tâm Tiên dụng ích tựa Cha
Gót Phật tiến bước sẽ đà Thành Công
Phước sanh vô lượng vun trồng
Gieo Phước sẽ gặt hanh thông đời đời
Sinh ra Hiếu hạnh con ơi
Ta bà nguồn cuội nhớ lời Mẹ ban
Khổ hạnh giới luật không nhàn
Ta mới thấu hiểu Gian Nan gọi Mời
Chánh Pháp chẳng thể buông lơi
Thấu lời Cha Mẹ rạng ngời Đại Duyên
Thần linh nắm giữ Đại Quyền
Chúng sanh Chấp Ngã hão huyền tưởng sai
Nhân quả vô sắc hình hài
Đến khi Vô Ngục kêu ai? muộn rồi
Thiếu Đạo chẳng khác Mồ côi
Vô Minh tham dục Đứng Ngồi chẳng yên
Vì Tham quên Tánh Thảo Hiền
Chánh Pháp bỏ mặc sao yên Bồ Đề
Kinh sách còn phải có lề
Chúng sanh hiểu Chánh thoát mê Đường Tà
Phải hiểu Đại Đạo Bao La
Hiểu được chút ít cũng là Đại Bi
Chữ Bi dụng Thoát điều Si
Đức kia con đắc cũng vì lắng nghe
Dụng Tay không thể nào che
Nghiệp mà gây tạo như hè Đốt Thân
Dục sanh lợi ích nợ nần
Miếng ăn tiền bạc Nghiệp cân nặng nề
Chánh Pháp biển hiện Gần Kề
Giúp con giải thoát chẳng chê chỗ nào
Chữ Tâm triết lý là Bao
Vô Thường lớn rộng khởi Mào Phước Duyên
Tâm Linh tỏ rõ uy quyền
Gieo Tà gặt Quả luyên thuyên Ngục Sầu
Theo Phật Liên Sắc bùn nâu
Trí Huệ rộng mở muôn mầu Thành Tiên
Thánh Phật chẳng ở Chùa Chiền
Tâm Con Đạo Chánh sẽ yên cơ đầy
Tâm con phải nhẹ như Mây
Tiền Chúng Sanh cúng không cầy Tham Lam
Nhân Quý ở việc Con làm
Chỉ cần giữ Đạo bạn Tham xa rời
Thơ Cha Me tỏ nên lời
Khai Thị hiểu biết không mơi trò đùa
Chánh Pháp chẳng để hơn thua
Đông sang tiến bước gió lùa Thành Công.

P/S: Nguồn: Dương Hoàng Hải.
- Tên Do Tổ, Cha Mẹ Đặt (Pháp Danh): Tửu Thiên.
- Ra Thơ Vào Lúc 9 Giờ 30 - Thứ Bảy, Ngày 18 tháng 12 năm 2021.
- Nam Mô Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn.
- Nam Mô Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn.
- Tâm Chú Mật Tông Đức Giao Trì Kim Mẫu:

" Om Jindu Siddhi Hum "

1. Tiểu sử Đức Ngọc Hoàng Đại Đế như sau:

Nguyên danh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là gì ?

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ gọi tắt là NGỌC HOÀNG , cũng xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Điệt Tôn NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ hay Huyền Khung Cao Thượng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ .

Đời nhà Tống, vua Chân Tông và Huy Tông đều có thánh hiệu nầy. Tống Chân Tông thì xưng là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chân Thể Đạo NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN ĐẾ . Tống Huy Tông thì xưng là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chân Thể Đạo Hạo Thiên NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ .

Còn trong Đạo Kinh tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Điệt Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Điệt Tôn NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ

*Y cứ vào “Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh”, ở Hạo Thiên giới, có đức Quang Nghiêm Tịnh Lạc quốc vương và Hoàng hậu Bảo Nguyệt hạ sinh ra NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Khi vừa sinh ra, toàn thân tỏa hào quang.

Trong nước tất cả đều được sung mãn, lúc còn nhỏ thì Ngài được thông minh sáng suốt, khi lớn lên thì tâm từ chan rãi khắp nơi, đem tiền bạc vật báu trong kho ra bố thí cho những kẻ nghèo nàn khốn khó, cô đơn không nơi nương tựa, đói rách tàn tật. Sau khi quốc vương Tịnh Lạc băng hà, thì Thái tử lên ngôi trị vì, đất nước rất phồn thịnh. Một thời gian sau, vua giao lại nước cho các đại thần, rồi vào trong núi Phổ Minh Hương Nham mà tu hành, trải qua ba ngàn hai trăm kiếp chứng được kim tiên, lấy hiệu là “Tự Nhiên Giác Hoàng”, lại trải qua trăm ngàn kiếp nữa mới chứng Ngọc Đế.

1.- LÀ VUA CỦA MUÔN THẦN:-

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vua các cõi trời, các cõi tiên; là chủ của các cõi thánh, là Thần tối cao của ba động Tiên, của các Thần trong tam giới. Ngọc Hoàng có quyền ra mệnh lệnh cho chín từng trời, cai trị các thần trong năm non bốn biển.

Đi đâu thì muôn thần theo làm tả hữu, giống như hoàng đế trần gian có các bề tôi theo hầu vậy. Ông Bạch Cư Dị có bài thơ rằng:-

“An kỳ tiện môn bối, Liệt thị như công khanh Ngưỡng yết Ngọc Hoàng đế, Khể thủ tiền trí thành”

“Xung quanh nhiều kẻ hầu, Giống như các quan chầu Ra mắt đức Ngọc Đế, Như thành kín, cúi đầu” (các quan vây quanh như tường thành kín đáo vậy)

2.- CAI QUẢN HẾT THIÊN ĐẠO:-

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là hóa thân của Tam Thanh. Ngọc Hoàng đối với tam thanh giống như là trước thì không có mà sau thì diệu hữu, trước là Vô cực sau là Thái cực , trước thì vô vi sau là hữu vi vậy. Vì thế, Ngọc Hoàng là chủ tể của Tam tài, đứng đầu thiên địa nhân. Ngọc Hoàng điều khiển Tử Vi Bắc Cực Đại Đế điều hành ngang dọc của trời đất; khiển Câu Trần Thượng Cung Đại Đế điều hành Tam Tài, chấm dứt việc binh đao; khiển Hậu Thổ Hoàng Địa theo âm dương mà sanh sanh hóa hóa. Nói chung, khắp cả đất trời, núi sông đất lớn, tạo hóa âm dương …không có gì ở ngoài sự chưởng quản của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ

*VIỆC CÚNG TẾ:-

Ngày đàn sanh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là mùng chín tháng giêng. Nơi các cung quán đền miếu của Đạo Giáo đều có cử hành nghi thức cúng tế, gọi là “Hội Ngọc Hoàng” .

Đạo sĩ và tín chúng tụ hội tổ chức đại lễ “Trai thiên” (Lễ Chạp Trời) để cầu xin được ban bố phúc đức, thọ mạng dài lâu. Ở hai tỉnh Phúc Kiến và Đài Loan, dân chúng gọi NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là “Thiên Công” (Ông TRỜI), ngày mùng 9 tháng 1 gọi là lễ “Bái thiên công” (lạy ông Trời). Cả nhà già trẻ bé lớn , đều ăn chay, tắm gội sạch sẻ, dâng hương lễ bái, tụng kinh. Có nơi còn tổ chức hát ca vui vẻ. Miền bắc Trung Quốc còn có tập tục rước kiệu tượng Ngọc Hoàng đi vòng quanh khắp đường trong xóm ấp mình.

Đến ngày 25 tháng chạp , các đạo quán và dân chúng làm lễ dâng hương tụng kinh để kính tiễn Ngọc Hoàng.

Ngọc Hoàng Đại Đế

“Ông Trời” là để chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế , cũng tôn xưng bằng nhiều danh hiệu như:- “Ngọc Đế” , “Hạo Thiên Thượng Đế” , “Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế”, “Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chân NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ”.

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần minh cao cấp của Đạo giáo, địa vị gần nhất dưới Tam Thanh Tôn Thần. Nhưng trong con mắt của người thế tục Trung Quốc , NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần tối cao, là vua của các thần khác.

*Theo truyền thuyết dân gian, NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ không chịu mệnh lệnh của vua khác, cai quản khắp nhân gian, thống trị hết thần tiên của ba giáo Nho, Đạo, Thích, điều động hết thiên thần, địa kỳ, nhân quỉ. Thiên thần là những vật tự nhiên được “thần hóa” như:- mặt trời, mặt trăng, sao, phong bá (thần gió), vũ sư (thần mưa), tư mệnh, Tam Quan đại đế, Ngũ Hiển đại đế v.v…đều dưới quyền của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Địa kỳ (chi) cũng là những vật tự nhiên ở đất được thần hóa như:- thần Thổ Địa, thần Xã tắc, thần Núi non, thần Sông biển, thần Năm tháng, nói chung bao quát cả “bách thần”.

Nhân quỉ là những nhân vật lịch sử sau khi chết được thần hóa, bao gồm : tổ tiên, những bậc công thần, những văn nhân v.v…

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ thống lãnh trời, đất, người, thần linh ba cõi, cùng quản lý mọi sự thịnh suy tốt xấu của vũ trụ vạn vật .

Về lãnh vực nầy, Ngài có các thuộc hạ như:- Văn Xương đế quân coi về sự học hành, Quan Thánh đế quân coi về việc mua bán, Xảo Thánh Tiên sư coi về công nghiệp, Thần Nông Tiên đế coi về nghề nông, Đông Nhạc đại đế cai trị các địa phương, cùng với những phụ tá như :- Thanh Sơn vương, Thành Hoàng gia, Thổ Địa công, Địa Cơ chủ. Ngoài ra còn có những vị coi về phần âm như:- Phong Đô đại đế và Thập Điện Diêm Vương …Tất cả đều dười quyền cai trị, chỉ đạo, phân bổ của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ .

Trong cơ sở lý luận của Đạo giáo, có sự phân chia rõ rệt của ba giới: trời, đất, người. Trời thì có 13 tầng, một tầng là ba mươi ngàn dậm. Khu vực “Trời ngoài” gọi là “Vô cực”, còn khu vực “Trời trong” gọi là “Thái cực”. Thái Cực thiên lại phân làm năm thiên là :- Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung Ương. NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần tối cao, tất cả thần linh đều phải nghe theo lệnh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Sự phân chia Thái Cực thiên như sau:-

1.- Trung Thiên:- là nơi cư ngụ của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ , nắm quyền điều khiển cả trên là ba mươi sáu “Thiên”, ba ngàn thế giới, lẫn dưới là bảy mươi hai “Địa”, tứ đại bộ châu có sanh linh đang sống.

2.- Đông Thiên:- do “Tam Quan Đại Đế” cai quản, chủ về việc ban phước tăng thọ, giải tai xá tội trừ nạn cho sanh linh.

3.- Nam Thiên:- do “Văn Hành Thánh Đế” cai quản, chủ về việc theo dõi ghi chép công tội , hay bổ nhiệm thăng giáng cấp của tất cả chư Thần.

4.-Tây Thiên:- do Thích Ca Mâu Ni cai quản, chủ về giáo dục tâm linh cho con người, dạy họ làm lành lánh dữ và qui y theo Phật để tu đạo giải thoát.

5.-Bắc Thiên:- do “Tử Vi Đại Đế” cai quản, chủ về việc ban cho tiền bạc, tài sản, cũng như họa phước con người.*Theo truyền thuyết thì NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ chính là “hóa thân” của “Đấng Tối Cao Thái Cực” trong Tam Thanh, là vị được cổ nhân sùng kính hạng nhất.

Ngọc Hoàng cư ngụ nơi “Ngọc Thanh Cung”, chưởng quản hết từ trên là 36 thiên, ba ngàn thế giới, các bộ thần tiên, tới dưới là 72 địa, tứ đại bộ châu. Nói tóm lại , là chưởng quản tất cả chư Thần, Tiên, Phật, cho đến triệu ức sanh linh… do đó mới tôn xưng Ngài là “Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế”.

*Lại có một thuyết khác, cho rằng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là “Thiên Quan” của “Tam Quan Đại Đế”, giống như Tử Vi Đại Đế của Đạo giáo , nghĩa là một vị “Phước Thần” coi về phước, lộc , thọ. Tam Quan đại đế còn xưng là “Tam Giới Công”, gồm có:- “Tứ Phước Thiên Quan Tử Vi Đại Đế” ở cõi thượng nguyên, “Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế” ở cõi trung nguyên và “Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế” ở cõi hạ nguyên, gồm lại gọi là “Tam Quan Đại Đế” vậy.

*Danh xưng Ngọc Đế xuất phát từ sự tôn trọng “Ông Trời” của người thượng cổ.

Thời đại nhà Ân, nhà Thương gọi vị thần tối cao là “Đế” hoặc “Thiên Đế” hay “Thượng Đế”, có nghĩa là một vị “VUA” có năng lực chi phối hết thảy trên trời dưới đất , hai bên chư thần văn võ. Đời nhà Châu (Chu) lợi dụng tinh thần sùng bái “Ông Trời” nầy mà gọi vua là “Con của Trời” (thiên tử) nên “vua nói ra thì tất cả phải nghe theo”.

*Về lãnh vực “Họa hình” thì mãi tới đời Đường, Tống mới có chính thức. Đó là hình tượng một vị “mình mặc loại y phục Cửu Chương, đầu đội mão Thập Nhị Hành , tay cầm Ngọc Hốt, (玉笏 : Cái hốt, ngày xưa vua quan ra chầu đều cầm cái hốt, hoặc làm bằng ngọc, hoặc làm bằng tre, ngà, có việc gì định nói thì viết lên giấy để phòng cho khỏi quên.

Ðời sau hay làm bằng ngà voi mà chỉ các quan cầm thôi—TĐHV Thiều Chửu). Hai bên có Kim Đồng, Ngọc Nữ theo hầu, hoàntoàn mô phỏng theo y phục của vua chúa Tần, Hán.

-Vào đời viễn cổ, có một nước tên là “Quang Nghiêm Diệu Lạc”, vua là “Tịnh Đức Vương”, hoàng hậu là “Bảo Nguyệt Quang” , đã lớn tuổi mà chưa có con trai. Một đêm nọ, nằm mộng thấy Thái Thượng Lão Quân bồng một đứa con nít trai đưa cho hoàng hậu. Tỉnh dậy, hoàng hậu biết mình có thai. Mang thai mười tháng, đến ngày mùng chín tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sanh Thái Tử. Từ nhỏ, Thái tử rất thông minh trí tuệ, lớn lên đã phụ tá cho vua cha đắc lực, thương yêu dân chúng, làm việc thiện cứu giúp nhân dân. Sau khi nhà vua băng hà, Thái tử giao đất nước lại cho các đại thần rồi vào trong núi để tu hành. Trải qua tám trăm kiếp, hi sinh bỏ mạng để cứu chúng sanh, cuối cùng đạt đạo chân, phi thăng cõi trời, được muôn thần sùng kính ái mộ, đưa lên làm “NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ ”, cai quản khắp tam giới.

Ngày mùng chín tháng giêng âm lịch là ngày “Đản sinh” của Ngọc Đế (Thiên Công Sinh) . Tháng giêng là tháng khởi đầu của năm, chủ của bốn mùa, cây cối nhờ vào khí thủy mà từ đó sanh sôi nẩy nở thêm ra. Số “chín” là con số “lớn nhất” của các số, đại biểu cho ý nghĩa “cực đại, cực đa, cực cao”. Cho nên, người ta lấy con số “chín đầu tiên” (thượng cửu) của năm (9 tháng 1) làm ngày sinh của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là do ý đó.

*Trong “Lãi Hải Tập ” của Vương Quỳ đời nhà Minh nói rằng:- “Nghĩa của ngày sinh thần minh là nghĩa của “sự bắt đầu”, cho nên lấy ngày mùng chín tháng giêng là thánh đản của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Số bắt đầu từ “một” đến lớn nhất là “chín”, kết thúc của “sự bắt đầu” vậy”. Như thế, khi nói đến ngày sinh của các vị thần, chúng ta cần phải lưu ý đến hàm nghĩa của “con số” biểu trưng vậy.

*Việc cúng bái NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ có nguồn gốc quan hệ đến sự sùng bái trời đất của người xưa và tư tưởng kính trời sợ đất của con người mà thành. Người xưa cho rằng, “Trời” là vị chúa tể của vạn vật, là nguồn gốc của sự sanh ra và nuôi lớn muôn vật, cho nên mọi người không thể không kính trời sợ đất, thuận theo trời mà hành đạo. Do đó, họ nghĩ rằng trong tự nhiên phải có một vị “thần minh tối cao” cai quản và chi phối hết thảy mọi vật.

Nhà vua là người được mệnh lệnh của “Trời” cho xuống nhân gian để cai trị người. Nếu vua mà thuận theo thiên ý thì sẽ được mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, còn nếu nhà vua làm trái với thiên ý, thì “trời” nhất định sẽ giáng tai họa để trừng phạt. Mà nếu hễ nhà vua mà đã kính sợ “trời” thì các quan và dân chúng cũng phải kính sợ “trời”. Vua đã là người phụng mệnh “trời” để cai trị dân chúng thì nhất nhất không thể không sùng bái “trời”, cho nên phải có định kỳ “tế trời”, đó là chức trách tối quan trọng của nhà vua. Trải qua nhiều triều đại, mỗi năm nhà vua đều phải cử hành “LỄ GIAO” (lễ tế trời), nhưng chỉ có “nhà vua” mới là người “đủ tư cách tế trời” mà thôi ! Đến khi, triều đại phong kiến kết thúc, dân chúng mới bắt đầu được phép “tế trời”.

*Theo trong các sách sử thì từ các đời Tần , Hán,Đường, Tùy, Tấn, Ngụy… đều có tổ chức “Lễ tế trời” rất trọng thể. Nhưng “trời” không thể hiểu như là “bầu trời xanh trên cao” kia được, khái niệm “trời” rất vô hình, mênh mông … thì làm sao biết chỗ nào, người nào… để cúng tế đây ? Từ đó, người ta phải cụ thể hóa “trời” bằng danh xưng “NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ ” để có đối tượng rõ ràng mà cúng bái.

*Vì NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là vị thần do con người tưởng tượng ra mà thành, nên không thể có “hình dạng cụ thể” được. Mãi cho đến thời vua Tống Chân Tông mới có hình tượng NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ như đã mô tả ở trên. Như vậy, chúng ta thấy có sự khác biệt về nhận thức của “Trời Vô Hình” lúc đầu và “Trời Hình Tượng” kể từ khi Đạo giáo thịnh hành. Còn trong dân gian, không cần nói đến ý nghĩa cao thấp , hữu hình vô hình gì cả, mà trong đầu mỗi con người Trung Quốc đều mang nặng, khắc sâu hình tượng “ÔNG TRỜI” hiện diện rất thân cận, gần gũi và mật thiết với họ.

*Việc cúng tế “Ông Trời” phải được thực hiện sao cho có phần long trọng, trang nghiêm hơn các “thần minh’ khác, vỉ Ngài là vị quyền uy tối cao trên tất cả thần thánh khác. Do đó, lúc đầu không ai dám đưa hình tượng nào ra về Ngài, chỉ dùng hai biểu tượng là “Thiên Công Lô” (lò hương cúng trời) và “Thiên Công Tòa” ( ngai vua trời) để cúng bái mà thôi.

Các Miếu thờ đều đặt “Thiên Công Lô” ở trước cửa, khi cúng bái thì ngẫng mặt lên bầu trời mà van vái, từ đó phát sinh tục lệ “đốt nhang” trong cúng tế.

-Trong con mắt của mọi người, NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ là lớn nhất, nên việc cúng tế phải làm cho ra vẻ mới được. Vòa buổi chiều hôm trước (tức chiều mùng 8/1) , cả nhà già trẻ bé lớn đều ăn chay, tắm gội sạch sẻ, sửa soạn phẩm vật thịnh soạn. Kế đó, dâng hương cúng tế, lạy ba lạy chín vái . Trong ngày cúng tế, không được phơi quần áo đàn bà, phải lật úp “thùng phân” lại để thiên công không nhìn thấy, khỏi phạm tội bất kính. Ở những nơi cúng tập thể phải có phẩm vật đặc biệt là “con heo nguyên vẹn” để cúng theo nghi thức rất long trọng.

Vì địa vị của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ quá cao, nên phàm những việc nhỏ nhặt như cầu tài, cầu tự, cầu danh, cầu lợi đều không được “cầu trời phò hộ”, vì Ngọc Đế đâu có rãnh mà giải quyết những chuyện nầy !

Khi cúng Ngọc Đế, tất phải nhớ cúng thêm cả hai ban văn võ bá quan theo hầu cận Ngài, không được chỉ để một tượng Ngọc Đế đơn độc mà cúng, như thế thành ra “cô quân” (ông vua cô độc) hay sao ? Phạm vào điểm nầy, thành ra tội bất kính Ngọc Đế vì không nói lên được uy thế của Ngài .

• Ngày mùng chín tháng giêng âm lịch là ngày “đản sinh” của NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ . Xứ Mân Nam của Đài Loan dân chúng gọi là “Ngày sinh ông Trời”. Vào ngày ấy, tất cả những đạo quán đều tổ chức cúng kiến với những nghi thức vô cùng long trọng như :- Chúc thọ, tụng kinh, lễ bái…

Nhà nhà người người đều ra ngoài trời, hướng vọng lên không trung mà khấu bái.

* Ở thời đại phong kiến, chỉ có nhà vua mới đủ tư cách tế trời, còn dân chúng thì tuyệt đối không được tùy tiện cúng bái trời. Khi phong kiến kết thúc, điều cấm kỵ trên đã bãi bỏ. Tuy vậy, dân gian vẫn tin rằng địa vị của Ngọc Đế quá cao nên không được phép tô vẽ đắp hình tượng của Ngài để thờ cúng, mà chỉ dùng hai món tiêu biểu là “Thiên Công Lô” và “Thiên Công Tòa” như đã nói ở trên để cúng bái . Khi cúng, tín đồ chỉ thắp hương và lễ lạy trước “Thiên Công Lô” mà thôi.

* Nghi thức “cúng trời” chỉ diễn ra từ khuya đêm mùng tám đến khi mặt trời mọc sáng mùng chín thì ngừng. Ngày hôm trước đó, cả nhà đều ăn chay tắm gội sạch sẻ, tập trung mạnh mẽ tinh thần , bỏ hết những chuyện tạp nhạp trong tâm, để việc cúng tế được linh nghiệm. Mọi người tập trung trước chính sảnh (gian thờ), trần thiết bàn bát tiên, lập đàn cúng tế.

Trên bàn cúng trời, có :- cặp đèn “thần đăng”, năm thứ trái cây (cam, quít, tần quả, chuối, mía), phải nấu sáu món chay là :- kim châm, mộc nhĩ (nấm mèo), nấm hương cô, rau thái tâm, đậu uyển, tàu hủ, tất cả thức ăn đều phải được đậy kỹ bằng vải lưới thật mỏng, ngoài ra, đặc biệt còn phải có ba hộp trà ngon. Có tổ chức múa mâm vàng, ca hát chúc tụng, phát “lộc”. Khi đến giờ mãn, cả nhà chỉnh trang y phục, đến chính sảnh đứng theo tôn ty thứ tự mà hành lễ “tam quỵ cửu khấu” (ba lạy chín vái), sau đó mới đốt giấy tiền vàng bạc. (công kim)

Một vài nơi, người dân có tục “cúng gà” trong dịp nầy, phải dùng gà trống để cúng chứ không được dùng gà mái.

2. Vương Mẫu Nương Nương hoặc là Dao (Diêu) Trì Kim Mẫu, Tây Vương Mẫu, Kim Mẫu, Kim Mẫu Nguyên Quân, Cửu Linh Đại Diệu Quy Sơn Kim Mẫu, nói gọn là Vương Mẫu hay Kim Mẫu. Thế danh tính là họ HẦU (có nơi nói là DƯƠNG) tên HỒI, tự UYỂN LINH , tên chữ là THÁI HƯ.

Tín ngưỡng về Tây Vương Mẫu đã có từ lâu đời ở Trung Quốc. Trong phần “Quyển 3 nói về Khu vực phía Tây của Sơn Hải Kinh” đã nói:- “Tây Vương Mẫu cư trú tại núi Ngọc Sơn, hình tướng như người, có tướng lạ là đuôi beo răng cọp tiếng kêu rất to, tóc như cỏ bồng bay phủ. Là người coi về các chứng bệnh dịch và ngũ tàn (5 thứ tai nạn làm tàn phế con người)”.

Ý nghĩa đoạn nầy nói rằng Tây Vương Mẫu là một con người đặc biệt nhìn giống như “quái vật”, có hình tướng uy mãnh, chưởng quản về các chứng bệnh ôn dịch và các tai nạn của con người.

*Riêng “Liệt Tiên Toàn Truyện” có ghi:-“ Tây Vương Mẫu chính là những khí tinh hoa diệu mầu của phương Tây tạo thành, cùng với Đông Vương Công chia nhau giữ sổ sách tên tuổi các vị Tiên trong mười phương ba cõi, vị nầy ở hướng Tây, là vị thần ở gần Tam Thanh, có địa vị rất cao”.

Tây Vương Mẫu là sự tập hợp những tinh khí kỳ diệu của khu vực hướng Tây tạo thành, là vị nữ thần được Đạo Giáo ở vùng Y Xuyên Thần Châu rất sùng bái.

Hiện hữu trước tiên ở khu vực phương Tây, có cái đức là nguyên khí của Đất, chủ cai quản về chân khí âm linh, là vị chí tôn của “Thuần âm khí” vậy. Dao Trì Kim Mẫu cư trú trong những dãy núi cao đẹp đẽ ở phương Tây Trung Quốc. Ngôi Miếu Thờ Ngài đầu tiên hiện nay ở Hồi Sơn thuộc huyện Xuyên của tỉnh Cam Túc. Từ đó cho thấy, thánh địa trước tiên của Dao Trì Kim Mẫu không ngoài dãy núi Cam Túc .

Khu vực nầy người phàm không thể đến được, cho nên từ xưa đến nay chưa ai trông thấy được tôn nhan của Ngài, chỉ theo lời diễn tả của Trang Thúc là dung mạo của Kim Mẫu tươi đẹp như hoa, đoan trang tôn quí.

Chỗ ở của Tây Vương Mẫu là Vườn Treo của núi Côn Lôn, đây l một hoa viên gọi là “Lang Phong”, có chín tần lầu ngọc, tả hữu có ao tiên nước xanh biếc vây quanh. Ngài có năm người thị nữ tên là “Hoa Lâm”, “Mỵ Lan”, “Thanh Nga”, “Dao Cơ” và “Ngọc Chi”. Tây Vương Mẫu có một bảo vật quí hiếm ăn nó thì được trường sanh bất lão tên là “quả đào tiên” (còn gọi là bàn đào) .

Loại đào nầy, cứ ba ngàn năm mới trổ hoa, ba ngàn năm nữa mới kết trái, ăn vào thì tuổi thọ kéo dài. Khi đào đã chín, Vương Mẫu Nương Nương thường triệu tập các vị thần tiên mở ra bửa tiệc chúc thọ gọi là “Dao Trì Tập Khách” để chiêu đãi . Do đó, nhân gian hiểu rằng Tây Vương Mẫu là tượng trưng cho sự trường sinh bất tử . Trong câu chuyện thần thoại nói về Thường Nga (Hằng Nga) có nhắc đến việc nàng ăn cắp thuốc bất tử của chồng là Hậu Nghệ để uống sau đó bay lên cung trăng là do vào niềm tin bất tử vào Tây Vương Mẫu vậy.

Tây Vương Mẫu chưởng quản phương Tây, là người quản lý sổ sách các vị tu hành ở cõi trên hoặc cõi dưới, có được chứng quả Tiên hay không. Ngài cùng với Đông Vương Công là hai vị hiện thành do nguyên khí từ ngàn xưa của Đông Tây tạo nên, để nuôi dưỡng trời đất, cai quản muôn vật. Tây Vương Mẫu tự xưng là con gái của Thiên Đế, mà danh từ Thiên Đế lại do Huyền Thiên Thượng Đế tiếm xưng, thực ra thì trong “Lễ khúc lễ tập” nói rằng cả bốn vị Thanh Đế, Xích Đế, Huỳnh Đế và Bạch Đế mới là Thiên Đế .

*Còn trong “ Tây Vương Mẫu truyện” thì nói rằng Kim Mẫu cùng với Mộc Công hợp hai khí âm dương để nuôi lớn trời đất, sinh sôi nẩy nở muôn vật, những tiên nữ đắc đạo trong mười phương ba cõi đều do Ngài quản hạt”.

*Trong “Liệt tiên toàn truyện” có ghi :- Tây Vương Mẫu tức là Quy Đài Kim Mẫu, là bậc chí tôn của khí tinh diệu thuần âm phương Tây tạo thành. Hóa sanh ở Y Xuyên của Thần Châu, họ Hầu (hoặc Dương) , tên Hồi, tự là Uyển , tên chữ là Thái Hư”.

* Sách “Sử ký đại uyển truyện lược” ghi:- “ Tây Vương Mẫu là bậc Cổ Tiên, họ Hầu hay Dương , tên Hồi, tự Uyển Linh, ở núi Côn Lôn”.

* Sách “Đạo Tạng Đạo Tích Kinh” chép:- “Điện của Ngài Tây Vương Mẫu tọa Tây hướng Đông, vàng ròng làm đất, cảnh sắc sáng rỡ, dung mạo đoan trang uy kính, thắt dây lưng Linh Phi, đeo gươm Phân cảnh. Trên đầu như hoa lớn, đội mão Thái Chân Thần Anh, trước ngực thêu chim phượng. Nhìn sơ qua tuổi ước chừng ba mươi, nhưng đó là do Ngài có phép “thâu ngắn tuổi” lại nên có nhan sắc linh diệu tuyệt thế, quả thật là Chân Linh Nhân vậy”.

* Sách “Đạo Tạng Tam Động Kinh” chép:- “Tây Vương Mẫu là nguyên khí thuần âm tạo thành. Họ là Tự Nhiên, tên là Quân Tư, dưới cai quản Côn Lôn, trên trị vì Bắc Đẩu”. Sách nầy xếp Tây Vương Mẫu vào hàng thần tiên thứ tư, bên cạnh có Đông Vương trợ giúp.

*Còn sách “Vân Thất Cấp” thì nói :- “Có một vị thánh gọi là Bạch Ngọc Quy Đài Thái Chân Tây Vương Mẫu ”.

*Trong những đạo thư xưa của Trung Quốc, có rất nhiều đoạn nói về sự hiển thánh của Tây Vương Mẫu . Như là:- Ngài đã từng phái đồ đệ là Cửu Thiên Huyền Nữ xuống giúp cho Huỳnh Đế đánh bại giặc Xi Vưu, giao địa đồ thiên hạ cho vua Thuấn để trị an đất nước, cùng với hai mươi ba vị Vân Hoa Phu Nhân xuống phàm giúp vua Đại Vũ trị thủy (cứu nạn lụt lội) . Thánh nhan của Ngài là do những người đã từng nhìn thấy Ngài như vua Thuấn , người nổi tiếng về hiếu thảo hay Hán Vũ Đế, vị vua cực kỳ ham thích đạo thần tiên kể lại.

*Theo “Mục Thiên Tử Truyện” có kể lại chuyện trước đây, Chu Mục Vương đã có lần nằm mộng thấy Tây Vương Mẫu, nhưng ở đây Kim Mẫu chưa là thần, chỉ là một vị nữ vương thôi ”.

* Còn theo “Hán Vũ Đế nội truyện” ghi :- “Đêm mùng bảy tháng bảy, Vương Mẫu giáng trần, tự tổ chức bếp ăn của trời, có bàn bằng ngọc đựng bảy trái đào tiên, to bằng quả trứng ngỗng, hình tròn sắc xanh. Vương Mẫu tặng cho vua bốn trái đào, còn Ngài ăn ba trái. Nhà vua ăn xong, có ý để dành cho quần thần nếm thử, nhưng Vương Mẫu bảo rằng, đào nầy ba ngàn năm mới có trái, đất

Trung Quốc phước mỏng, người thường không được ăn”. Khi ấy , hình tượng Vương Mẫu đã thành một vị vợ vua, nhan sắc tuyệt vời. Ngài ngồi trên điện mà tiếp kiến các thần tiên khác, đương nhiên trở thành lãnh tụ của nữ tiên.

*Cuối thời Đông Hán, Đạo Giáo thịnh hưng, suy tôn Ngài thành Vương Mẫu Nương Nương , cho rằng Vương Mẫu Nương Nương là vị thánh hạng nhất trong bảy vị thánh, là vị Nguyên Thủy Thiên Tôn Nữ Nhi của Đạo Giáo . Tất cả người tu hành trong mười phương ba cõi đắc quả tiên đều là thuộc hạ của Ngài.

Đó là nguyên nhân dẫn đến lòng tin Ngài là mẫu thân của Nguyên Thủy Thiên Tôn, nhân gian tôn xưng là Huỳnh Thái Hậu vậy, Ngài có quyền lực vô hạn, cai quản khắp vũ trụ. Rất nhiều nơi thờ phụng đức Tây Vương Mẫu với tả hữu có sáu vị phu nhân :- hai vị gọi là Tống Tử Phu Nhân, hai vị là Thôi Sinh Phu Nhân, hai vị Trị Ôn Chẩn (bệnh dịch và bệnh ban trái), tất cả đều có lòng nhân từ cứu giúp chúng sinh. Ngài chính là vị thần minh tối cao vậy.

*Trong truyền thuyết dân gian thì Vương Mẫu Nương Nương cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế kết làm vợ chồng như dưới trần gian có vua và hoàng hậu vậy.

Trong truyện “Thiên tiên phối” (truyện có tính cách giáo dục con cái trong gia đình) thì hai vị ấy sanh được bảy người con gái, trong đó người con gái út lén trốn xuống phàm trần , kết duyên cùng một đầu bếp nghèo tên Đổng Vĩnh.

Ngoài ra, còn có chuyện hai vị có người cháu ngoại tên Chức Nữ, làm vợ của Ngưu Lang, dệt thành chuyện tình ướt át “Bắt cầu ô thước đêm mùng bảy tháng bảy” mà mọi người đều biết.

Hàng năm , đến ngày mười tám tháng bảy là ngày thánh đản của Dao Trì Kim Mẫu , các thần ở Tiên giới đều đến Dao Trì Cung để chúc thọ Vương Mẫu. Từ đó, ai cũng biết được phẩm vị của Kim Mẫu là cực cao.

Hiện nay, Miếu Thờ Kim Mẫu ở khắp nơi ngày đêm hương khói chẳng dứt.

(Giới thiệu pháp tướng Diêu Trì Kim Mẫu.)

Diêu Trì Kim Mẫu đội vương miện phượng hoàng. Tay trái ngài cầm quả đào tiên (hoặc gậy như ý). Tay phải ngài cầm cây phất trần của trời. Về diện mạo, ngài xinh đẹp và trẻ trung như một thiên nữ. Ngài ngồi trên cỗ xe cửu phượng hoàng với pháp tướng trang nghiêm, khuôn mặt nở nụ cười mỉm nhẹ. Ngài nhìn chúng sinh với tất cả tấm lòng từ bi.

Chủng tự: chữ Hum - màu trắng.

Tâm chú: Om, jin-mu, siddhi, hum. (Đọc Việt âm: Ôm, chin-mủ, sít-đi, hùm)

Bài giảng của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn

Vô Cực Diêu Trì Đại Thánh Tây Vương Kim Mẫu Đại Thiên Tôn (Diêu Trì Kim Mẫu) là một trong ba vị bổn tôn chính của Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn - Căn Bản Truyền Thừa Thượng Sư của Chân Phật Tông. Ngài cũng là vị bổn tôn đầu tiên mà Liên Sinh Hoạt Phật tương ứng. Những ngày đầu tiên sau khi Diêu Trì Kim Mẫu khai mở thiên nhãn, ngài đã luôn đóng vai trò là một vị cao linh hộ trì phía sau Liên Sinh Hoạt Phật.

Trong dãy hang động Đôn Hoàng, Phật Thích Ca Mâu Ni, Diêu Trì Kim Mẫu và Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) đã xuất hiện bên cạnh nhau, tượng trưng cho tầm quan trọng ngang bằng nhau. Điều này chứng minh mối nhân duyên giữa Liên Sinh Hoạt Phật (Liên Hoa Đồng Tử) và Diêu Trì Kim Mẫu cực kì gắn kết, không thể tách rời.

Diêu Trì Kim Mẫu còn được gọi là Tây Vương Mẫu bởi vì ngài sống tại hồ Ngọc Thạch ở Thiên Cung phía trên đỉnh núi Côn Lôn. Nơi đây ở phía tây và phía tây thuộc về nguyên tố kim (vàng), nên ngài được gọi là Kim Mẫu. Tây Vương Mẫu và Kim Mẫu là một vị, chỉ là tên gọi khác nhau mà thôi. Một số người gọi ngài là Vương Mẫu, một số người gọi là Kim Mẫu.

Diêu Trì Kim Mẫu Tây Vương Mẫu, Đông Vương Công (Đông Hoa Đế Quân) và Hạng Quang Đồng Tử (Liên Hoa Đồng Tử) được tìm thấy qua những hình chạm khắc trên những thánh tích văn hóa của vương triều Đông Hán được khai quật ở Nghi Nam, Sơn Đông. Những di tích văn hóa của triều đại Đông Hán được xem như là những di tích cổ đại cổ xưa nhất được tìm thấy.

Lư Sư Tôn tôn kính nhất là Diêu Trì Kim Mẫu Đại Thiên Tôn, gọi Diêu Trì Kim Mẫu là nữ hoàng của chư tiên, là Tiên Vương.

Diêu Trì Kim Mẫu là Tiên Vương

Phật A Di Đà là Phật Vương

Địa Tạng Vương Bồ Tát là Địa Vương.

Đây là ba vị bổn tôn tu hành của Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn.

Diêu Trì Kim Mẫu là một trong Ngũ Lão của Đạo gia, trấn thủ ở phương tây, giống như người mẹ chăm sóc che chở tất cả mọi sinh linh.

Ngũ Lão của Đạo gia, ở giữa là thổ, được gọi là Hoàng Lão. Phía đông là mộc, gọi là Mộc Công Thượng Thánh. Phía tây là kim, vậy nên gọi là Diêu Trì Kim Mẫu. Phía nam là hỏa, gọi là Hỏa Đức. Phía bắc là thủy, gọi là Thủy Quân, Thủy Đức.

Địa vị của Ngũ Lão trong Đạo gia cũng tương đương như Ngũ Phương Phật, vì vậy vị trí của Diêu Trì Kim Mẫu rất tôn quý, ngài cũng giống như Phật.

Các tôn giáo ở Trung Quốc từ xưa tới nay, vị xa xưa nhất là Đại La Kim Tiên cũng chính là Diêu Trì Kim Mẫu, là vị duy nhất có thể vượt lên trên tất cả các vị thiên tôn, vượt qua ngoài mọi giới hạn ranh giới, là vị đại thiên tôn có pháp lực mạnh nhất, uy lực vô song.

Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu là Thượng Tiên, là vị thần tiên tối cao vô thượng, trong "Truyền thuyết các vị thần tiên" có ghi chép về Diêu Trì Kim Mẫu đứng vị trí số một, là vị thượng tiên số một.

Ứng hóa thân của ngài có tên là Câu Hồi.

Báo thân của ngài chính là Diêu Trì Kim Mẫu.

Pháp thân của ngài là Đại La Kim Tiên Tiên Thiên Nhất.

Các sách Đạo giáo đã ghi chép lại rằng Huyền Huyền Thượng Nhân đã truyền pháp cho Đông Phương Mộc Công Thượng Thánh Thiên Tôn, sau đó Mộc Công đã truyền pháp cho Diêu Trì Kim Mẫu, Mộc Công được gọi là Đông Vương Công, Diêu Trì Kim Mẫu được gọi là Tây Vương Mẫu.

Trong Đạo gia, Tây Vương Mẫu được gọi là mẹ của chúng sinh, tất cả mọi nguyên linh đều là Tây Vương Mẫu hóa thành.

Tu tiên theo Đạo gia có thể được so sánh với Phật giáo tam giới như sau:

Cõi trời dục giới --- Địa Tiên.

Cõi trời sắc giới --- Thiên Tiên.

Cõi trời vô sắc giới --- Kim Tiên.

Phật giáo truyền vào Trung Quốc, cùng với Đạo giáo vốn có ở Trung Quốc, đã có những sự tác động lẫn nhau, hình thành nên Phật giáo Trung Quốc. Ví dụ trong Mật giáo, Vô Thượng Mật Bộ của Tạng mật và "nội pháp" rất gần và giống với pháp khí công "đan đỉnh pháp" của Đạo gia, cách tiếp cận thì khác nhau nhưng kết quả đạt được giống nhau.

"Diêu Trì Kim Mẫu thu viên định huệ giải thoát chân kinh" có một số đoạn rất quan trọng, là đoạn kinh văn giảng về tu tinh, khí, thần: "Cái gốc cơ bản được làm mạnh bằng cách nào? Con người Nho giáo xem lòng hiếu thảo và tình cảm anh em là cái gốc cơ bản. Còn trong Đạo giáo, tinh và thần là cái gốc cơ bản."

Nho gia (Nho đạo) dạy rằng con người nên lấy lòng hiếu thảo làm gốc.

Đạo gia thì lấy tinh khí thần làm gốc..

Mật giáo thì lấy khí, mạch, minh điểm làm gốc, đây cũng là thứ giống như tinh khí thần trong Đạo gia.

Theo kinh văn, trước tiên cần loại bỏ lục tặc. Tai không để ảnh hưởng bởi âm thanh, mắt không bị phân tán bởi hình sắc, thân không để bị nhiễm bẩn, ý không bám chấp vào vật thể, chính là vô niệm. Mũi không say mùi, mũi không ngửi lung tung đủ thứ mùi. Miệng không tham đồ ăn, miệng không ăn lung tung, miệng cũng không tham ăn đồ ngon.

Trước tiên cần loại bỏ lục tặc này, bởi vì chỉ cần mê đắm vào thứ gì sẽ bị nghiện thứ đó, đây chính là những tên trộm, tên "tặc" trong cơ thể ta, làm cho ta không thể nào thiền định được.

"Thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn tự minh", đây chính là những yếu tố trong Phật giáo. Diệt trừ lục tặc cũng chính là sáu đối tượng của Phật giáo: sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp chính là lục tặc.

Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi hiểu rõ được ngũ uẩn thì tinh, thần, khí sẽ giống như ba nhà đoàn tụ, thì khi đó "nuôi dưỡng cuộc sống, trên dưới lưu thông, dễ dàng giải thoát" cũng chính là khí.

Chỉ cần khí, mạch của ta đều thông thì minh điểm sẽ phát quang, tự khắc có thể đắc đạo, có thể thành Phật thành đạo. Mật giáo là khí, mạch, minh điểm tương thông với tinh, thần, khí của Đạo gia.

Bởi vì Diêu Trì Kim Mẫu đã chỉ cho Lư Sư Tôn (tôi) từ một phàm phu bình thường đến với con đường độ hóa chúng sinh, bổn tôn đầu tiên mà tôi (Lư Sư Tôn) tương ứng cũng chính là Diêu Trì Kim Mẫu.

Tất cả mọi thứ cho đến bây giờ, từ lúc tôi 26 tuổi cho đến bây giờ, tất cả mọi thứ của tôi (Lư Sư Tôn) đều nhờ Diêu Trì Kim Mẫu ban cho, vì vậy Liên Sinh Hoạt Phật cảm tạ nhiều nhất đến Diêu Trì Kim Mẫu.

Không có Diêu Trì Kim Mẫu thì sẽ không có Chân Phật Tông. Nguồn gốc của tất cả chúng ta đều xuất phát từ Diêu Trì Kim Mẫu, đây cũng là cái gốc của pháp Chân Phật Tông chúng ta, nguồn gốc của mọi pháp. Ngày nay có nhiều đệ tử như thế này, có Chân Phật Tông True Buddha School, có Sư Tôn, Sư Mẫu, có thượng sư, giáo thụ sư, pháp sư, giảng sư, trợ giáo, đường chủ, còn có tất cả đồng môn, đều đến từ pháp nguyên là Diêu Trì Kim Mẫu.

Do vậy tôi mới nói không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không có Chân Phật Tông, không có Diêu Trì Kim Mẫu cũng không thể thay đổi số mệnh đời này của tôi. Định mệnh cuộc đời này của tôi đều do Diêu Trì Kim Mẫu thay đổi, nếu như không có Diêu Trì Kim Mẫu thì không tồn tại Chân Phật Tông ngày nay.

Các pháp Diêu Trì Kim Mẫu mà Pháp Vương Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn của Chân Phật Tông đích thân truyền thụ rất nhiều, ví dụ như:

Diêu Trì Kim Mẫu bổn tôn pháp,

Diêu Trì Kim Mẫu bát đại pháp.

Diêu Trì Kim Mẫu cửu chuyển huyền công.

Diêu Trì Kim Mẫu dịch sử thần binh đại pháp.

Diêu Trì Kim Mẫu thu tài chiêu tài pháp.

Diêu Trì Kim Mẫu lập tức có tiền.

Diêu Trì Kim Mẫu trạng nguyên khôi tinh pháp.

Diêu Trì Kim Mẫu thủy cúng pháp.

Diêu Trì Kim Mẫu phẫn nộ thân hổ đầu kim cang.

Hắc Diện Kim Mẫu bất cộng đại pháp


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 1 bài viết ] 

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh