Hôm nay, Thứ 2 10/12/18 8:12

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 42 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:37 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
Với tâm trí bàng hoàng; họ Vương đứng nguyên như thế tới một khắc đồng hồ, cho đến lúc bóng dáng người nông dân khuất hẳn sau lùm cây, hắn mới cất nhắc được chân tay, liền hốt hoảng chạy theo người lạ mặt, nhưng bốn bề vắng ngắt, trên con đường đất chạy từ miếu Cô hồn vào trong làng, chẳng có một ai hết.

Họ Vương lo sợ như kẻ mất hồn, bước thấp, bước cao trở về tiệm, lòng hoang mang trăm mối nghi ngờ thắc mắc...

Vì thế, họ Vương thường phải vắng nhà luôn. Việc trông nom săn sóc cửa nhà, hoàn toàn được trao phó cho người vợ họ Trần và Vũ Hồn đảm nhiệm.

Bà chủ tiệm thuốc Bắc là một thiếu phụ nhan sắc khá diểm kiều, bản chất lại thông minh lanh lợi, nàng sở dĩ phải kết hôn với họ Vương chỉ là vì nhà nàng quá nghèo túng, khổ sở, không trả nợ mấy món nợ quan trọng đã đến kỳ hạn phải bồi hoàn cả gốc lẫn lãi. Hơn nữa, thân mẫu nàng lại mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, gần đất xa trời mà trong nhà quá bê bối, không đủ sức tìm thầy, chạy thuốc.

Vì vậy, khi được họ Vương tình nguyện điều trị giúp, lại hứa trao tặng một số tiền lớn làm sính lể, cha mẹ nàng liền nhận lời gả cho họ Vương, vừa để đền ơn cứu mạng của họ Vương vừa để lấy chỗ nương nhờ về mai hậu.

Mối tình chồng vợ giữa cô gái họ Trần và thầy lang họ Vương, bởi thế, chỉ có bề ngoài chứ không nồng nàn, thắm thiết chan chứa yêu đương như những đôi uyên ương mới xây dựng tổ ấm gia đình khác.

Ví dù cho họ Vương có tử tế, rộng lượng đến đâu, trước mặt Trần thị, thầy lang cũng chỉ là người ngoại chủng, ngôn ngữ bất đồng, mà theo quan niệm hôn nhân của thời đại phong kiến thì con gái những gia đình nền nếp không bao giờ chịu lấy chồng Tàu, chồng Chệt !

Đấy là chưa nói đến số tuổi quá chênh lệch, giữa đôi bên : họ Vương đã ngoại tứ tuần, trong lúc cô gái họ Trần mới có 19 cái xuân xanh, khiến cho sau hôn lễ, mỗi khi có dịp phải đi sóng đôi với chồng ra ngoài đường những trẻ con quanh vùng, thường vỗ tay reo hò, chế diễu, hát nheo nhéo câu ca dao :

" Tiếc thay con ngựa bạch lại thắng giây cương bằng thừng,
Tiếc cho con người thế ấy lại nâng lưng ông cụ già !
Lạy chú, chú bỏ con ra,
Ra đường ai biết rằng cha hay chồng,
Nói ra đau đớn trong lòng,
Ấy cái nợ truyền kiếp, há phải là chồng em đâu ? "

Lúc đầu tiên, cô gái họ Trần, từ địa vị một thiếu nữ bần hàn, quần nâu, áo vải, chân lấm tay bùn, quanh năm vật lộn với luống cày, đổi bát mồ hôi mới kiếm nổi miếng cơm, nên khi được họ Vương cưới về làm vợ, nàng rất thỏa mản, vì ngoài sự sung sướng về vật chất, nàng còn báo hiếu được cho cha mẹ, nhờ số tiền dẫn cưới khá quan trọng của ông chủ tiệm thuốc Bắc để cha mẹ nàng có thể thanh tóan hết các món nợ nần, bê bối từ mấy năm nay.

Nhưng sau lể vu quy chỉ chừng một tháng, mỗi khi ra ngồi ngoài quầy tủ thuốc, nhất là những dịp có việc phải đi với chồng ra đường, thiên hạ hiếu kỳ, tệ hơn hết là những trẻ con trong làng, đã vỗ tay reo hò, chạy theo chế riễu nàng thậm tệ, khiến cho nàng tủi thẹn vô cùng.

Lòng tủi thẹn mỗi ngày một nặng nề đưa dần đến sự chán ghét người bạn gối chăn khác dòng giống.

Do đấy, cô gái họ Trần thường chỉ thích chuyện trò với anh quản gia Vũ Hồn mà nàng tin rằng dù sao, cũng vẫn là người đồng hương, cùng chung một tiếng nói với nàng, thì hẳn là phải biết kính trọng nàng hơn hẳn là chú Chệt, lúc nào cũng ngô nghê như Chú Tàu nghe kèn, chẳng xứng đáng một chút nào với áng nhan sắc diểm kiều, duyên dáng của nàng, từ xưa tới nay, vẫn nổi tiếng là một thôn nữ xinh đẹp nhất phủ Bình Giang !

Trước Vũ Hồn còn sợ hải, dè dặt, không dám suồng sả, đùa cợt với cô chủ trẻ tuổi, mặc dầu cô chủ cứ luôn luôn tỏ ra vô cùng dể dãi.

Nhưng chỉ ít lâu sau đấy, nhằm một buổi tối, nhân cơ hội họ Vương phải đi coi mạch cho một bệnh nhân ở trên Sặt, đường xá xa xôi, bắt buộc thầy lang phải ngủ lại nhà con bệnh đến sáng hôm sau mới có thể về được, nên cô chủ trẻ tuổi đã sai Vũ Hồn đóng kín cổng ngỏ, ngay từ lúc sẩm tối, viện cớ là nhà vắng người, bà chủ cần phải đề phòng những sự bất trắc bất ngờ.
Bề ngoài thì thế, nhưng sự thực bên trong lại khác hẳn !

Đó là một điều tính toán rất kỷ, chín chắn của một thiếu phụ, trời cho nhan sắc mặn mà, khôn ngoan tháo vát, nhưng trớ trêu, lại sinh trưởng nhằm cảnh gia đình nghèo khổ, túng thiếu, đến nổi một đoá hoa mơn mởn sắc hương, phải lọt vào tay một chú Chệt đáng tuổi cha, ông, khiến cho cô gái hẩm hiu duyên số ấy, dù được sống trong nhung gấm, vàng son, tha hồ ăn ngon, mặc đẹp, kẻ hạ người hầu, cũng cảm thấy tủi buồn, đau khổ, suốt ngày đêm rầu rỉ, thở vắn, than dài.

Không những thế, họ Vương thường viện cớ bận rộn, săn sóc bệnh nhân, để có khi vắng mặt đến ba, bốn ngày đêm liên tiếp, làm cho tình gối chăn lạnh nhạt, so với vẻ quyến luyến keo sơn của những cặp vợ chồng mới cưới khác, thì quả thực là cách biệt nhau một vực, một trời.

Tính tình chú Chệt chủ tiệm thuốc lại mỗi lúc một thêm khó khăn, khắc khổ. Đối với cô gái họ Trần chú không mấy khi cười nói, tỏ vẽ yêu thương, đi vắng thì không sao, êm thắm cửa nhà, mà cứ về đến tiệm là thế nào chú Chệt cũng la lối om sòm, phiền trách vợ, rày mắng người giúp việc, chẳng lúc nào ngớt tiếng.

Sức chịu đựng của thiếu phụ họ Trần chỉ có chừng !

Nàng không thể chôn vùi mãi tuổi xuân tràn trề nhựa sống của những ngày mới vu quy vào chốn sầu thành vô tận, bên cạnh một người chồng ngoại chủng, khắc khổ như một nhà truyền đạo, lạnh nhạt như một kẻ tu hành.

Đã đến lúc nàng phải đi tìm một nguồn an ủi khác, kẻo nay lần mai lữa, năm tháng cứ vùn vụt trôi qua, chôn vùi một kiếp hồng nhan đang tha thiết yêu đời, dưới hố sâu hờn tủi của kẻ vị vong, có chồng mang tiếng phòng không trọn đời. !


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:37 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
Trước khi viết về ngôi mả táng treo, chúng tôi đã cố gắng đi dò hỏi những vị bô lão nguyên quán ở vùng Hải Dương Bắc Việt để mong tìm hiểu rõ ràng hơn, chính xác hơn những chi tiết bao quanh ngôi mả, có thể gọi được là kỳ lạ, độc nhất vô nhị ở Việt Nam, mà sự kết phát chẳng những đã lâu dài, lại còn hiển hách, bất cứ dưới thời đại nào !


Nhưng qua những lời truyền tụng hay chiếu theo một vài tài liệu đã sưu tầm được, thì chúng tôi chỉ thấy hoang mang không biết đâu là sư thực, vì có người nói thế này, lại có người bảo thế khác, tam sao thất bản, khiến cho chúng tôi, càng cảm thấy thất vọng, đành chỉ còn biết : lựa chọn những giả thuyết gần sự thực hơn hết, có lý hơn hết, để nêu ra, với hy vọng ấy, mong chờ sự chỉ giáo của qúy vị cao minh, nhất là những bậc lão thành ở tỉnh Đông.
Thì sự mong chờ của chúng tôi quả đã không đến nổi thất vọng ! Mới đây chúng tôi có tiếp được bức thơ của một vị lão thành, tự nhận là dòng họ Vũ ( rất tiếc là Vũ Lão tiên sinh lại không muốn cho chúng tôi nêu rõ quý tính cao danh và địa chỉ, nên ở đây chúng tôi phải chiều ý Vũ lão tiên sinh, mong bạn đọc thân mến, lượng tình thông cảm) đã cho chúng tôi biết thêm nhiều chi tiết quý giá, mạc dù chúng tôi vẫn còn một vài nghi vấn, muốn được hầu truyên cùng Vũ Lão tiên sinh trong một kỳ sau.

Trước khi thuật lại đầy đủ những chi tiết bổ ích ấy để cống hiến quý vị độc giả thân mến, chúng tôi xin chân thành cảm tạ thịnh tình chiếu cố của Vũ Lão tiên sinh, đã không quản công phu, sốt sắng giúp đở cho chúng tôi, có những tài liệu dồi dào để hoàn thành công cuộc biên khảo này.

Một lần nữa xin Vũ Lão tiên sinh nhận cho ở đây lời cảm tạ thành thực của chúng tôi.

Trong một bài trước, chúng tôi có nói đến làng Lương Đường, sau được đổi thành Lương Ngọc.

Nay được biết đó chỉ là tên hợp nhất của hai làng Lương Đường và Ngọc Cục, cũng thuộc địa phận phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương Bắc Việt.

Còn ngôi mả táng treo thì thuộc phạm vi làng Vạn Nhuế, huyện Nam Sách, cũng trong địa giới tỉnh Hải Dương.

Theo gia phả của họ Vũ, được đặt ở ngôi thờ tại đình làng Vạn Nhuế, thì lai lịch của ông tổ được ghi chép như sau : " Vũ Hồn , An Nam Đô Hộ Sứ ", và cũng chính Vũ Hồn đã tự tìm lấy được kiểu đất : " Cửu Thập Bát tú triều dương" lúc đang đảm nhiệm trọng trách An nam Đô Hộ Sứ (chúng tôi sẽ có dịp thảo luận về nghi vấn này trong một số báo sau ).

Kiểu đất có ngôi mả treo gồm tới 98 (cửu thập bát tú) cái gò nhỏ nằm rải rác bao quanh một cái gò lớn, ở chính giữa (gò thứ 99) mà trên đỉnh gò là mả Vũ Hồn.

Điểm đặc biệt là phong cảnh quang đảng của khu vực " Cửu thập bát tú triều dương", vì ngoài 99 cái gò, tuyệt nhiên không còn có cây cối chi khác.

Vẫn theo gia phả của họ Vũ đã ghi chép, thì sau khi khám phá được kiểu đất tuyệt đẹp, cực kỳ quý báu đó, Vũ Hồn liền trở về Trung Quốc, xin triều đình cho phép mình được đem họ hàng con cháu, di cư sang An Nam lập nghiệp.Chính do đấy, mà hài cốt của Vũ Hồn, sau lúc ông từ trần, mới được an táng tại làng Vạn Nhuế.

Trước khi tìm được kiểu đất để dành cho việc mai hậu, Vũ Hồn còn tìm được một khu đất khác, dùng làm nơi sinh cư lập nghiệp cho bà con trong họ, theo mình từ Trung Quốc qua. Nơi đó là làng Khả Mộ, sau được cải lại là Mộ Trạch, thuộc tổng Tuyền Cử, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Địa hình địa thế làng Mộ Trạch cũng đặc biệt vô cùng, thu gọn trong một khu vực vuông vắn như được cắt sén, gọn gàng, không hề có chỗ nào lồi lõm hay khúc khuỷu.

Dân làng hết thảy đều là họ Vũ, con cháu của Vũ Hồn.

Ngoài ra không có một dòng họ nào khác tới cư ngụ hay tá túc cả. Ngay tại hai bên cổng ngôi đình thờ ông tổ Vũ Hồn vẫn còn có đôi câu đối :

" Vi tử tôn lập vạn thế cơ, Khanh, Tướng, Công vô trị loạn."

" Dữ Thiên Địa dồng nhất, nguyên khí, Hoàng, Vương, Đế, Bá hữu Long ô "

dịch nôm là : Vì con cháu, lập nên cơ sở vạn năm Khanh, Tướng, Công Hầu vì thời bình hay thời loạn cũng đều có; Cùng với nguyên khí của Trời Đất, Hoàng, Vương, Đế, Bá ở thời thịnh hay suy cũng vẫn có.

Đồng thời, gia phả cũng còn ghi lại : lúc Cao Biền đuổi quân Nam Chiêu, khi đi ngang qua làng Mộ Trạch, họ Cao vốn là tay thông kim bác cổ, có chân tài, thực học về môn phong thủy, lúc ấy cũng phải ngẩn ngơ trước kiểu đất quý báu, hiếm có kia, rồi gò cương ngựa, rơ roi mà khen ngợi rằng : " Tiến Sĩ sào ! " (Cái tổ của các vị Tiến Sĩ).

Vì vậy tại cổng Đông làng Mộ Trạch, người ta mới thấy có tấm bia, khắc ba chữ " Tiến Sĩ sào" để kỷ niệm lời ca ngợi một kiểu đất văn học tuyệt vời do chính một người thông hiểu địa lý như Cao Biền đã phải thốt ra.

Có lẽ cũng vì địa hình địa thế đẹp đẻ tuyệt vời của làng Mộ Trạch, và căn cứ vào lời khen ngợi "Tiến Sĩ sào" do tự miệng một nhà phong thủy kỳ tài như Cao Biền thốt ra mà số người thành đạt ở làng Mộ Trạch lại có rất nhiều, chứ không phải " Thập Bát Tiến Sĩ, tam Tể Tướng" như chúng tôi từng đề cập đến trong một kỳ trước.

Ngoài một số đông sĩ tử thi đậu cao khoa, làng Mộ Trạch còn có nhiều người làm đến Công Hầu, Khanh Tướng.

Vì thế trong gia phả, mới thấy ghi chú " Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng". Nhưng danh tính các vị quận công hiển đạt trong dòng họ Vũ cho đến bây giờ, vẫn chưa ai tra cứu được, mặc dầu tại Văn Miếu Hà Nội còn có những danh bia Tiến Sĩ ghi danh tính những Ông Nghè ở dưới triều Lê, Nguyễn.

Muốn minh chứng sự khác biệt giữa hai làng Luơng Đường và Mộ Trạch chỉ cách nhau co trên dưới ba cây số ngàn, Vũ Lão Tiên Sinh đã cho chúng tôi biết thêm : trong gia phả của dòng họ Vũ còn thấy ghi rằng :

" Mộ Trạch quan, thiên hạ an,

" Lương Đường quan, thiên hạ loạn ..."

Như thế đủ rõ hai làng không liên hệ chi với nhau hết.

Về ngôi mả táng treo, Vũ Lão Tiên Sinh cũng không cho là lạ lùng chi hết, mà đó chỉ là một cái huyệt, được đào rộng ra, bốn góc trồng bốn cây cột, đầu cột có giây xích liên lạc với nhau, hài cốt đặt trong tiểu và để trên các giây xích ấy, xong rồi cho đổ đất lấp kín như các ngôi mộ khác.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:37 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
Vẫn còn nhiều nghi vấn

Với mục đích tôn trọng dư luận, chúng tôi đã trích đăng tất cả những tài liệu liên quan đến ngôi mả táng treo, do chính một bậc lão thành trong dòng họ Vũ, hiện diện ở miền Nam, nay đích thân viết cho chúng tôi, để đính chính những chi tiết chúng tôi từng đưa ra từ mấy số trước, mà Vũ Lão Tiên Sinh cho là quá hoang đường !

Sự thực, tài liệu sưu tầm của chúng tôi nếu có bị sai lạc, lầm lẩn, thì đó cũng không phải là lổi sơ sót của chúng tôi, vì chúng tôi cũng chỉ làm công việc của một người tường thuật lại những lời truyền tụng trong dân gian về ngôi mả táng treo, mà qua sự kết phát hiển hách lâu dài đã thành một giai thoại rất phô thông của quảng đại quần chúng.

Sự suy luận của chúng tôi không phải là vô căn cứ, vỉ đồng bào Bắc Việt nào, trước đây, không đã có hơn một lần, được nghe "thiên hạ đồn" về ngôi mả táng treo, cùng sự lựa chọn đứa con bé sinh đôi, nặng đồng cân hơn đứa con lớn, để đem về Trung Quốc của thầy địa lý Tàu, sau khi nhường kiểu đất quý cho Vũ Hồn - vì tự biết nhà mình bạc phước vân vân và vân vân.

Sau khi đăng tải đầy đủ những chi tiết về ngôi mả táng treo, do chính một vị lão thành, trong dòng họ Vũ đưa ra, chúng tôi xin nêu ra đây những nghi vấn đã khiến cho chúng tôi phải thắc mắc khá nhiều qua những tài liệu nói trên.

Căn cứ vào tài liệu ghi trong gia phả của họ Vũ thì Vũ Hồn là một vị đại thần Trung Quốc, không biết rõ đời nào, được bổ nhiệm làm An nam Đô Hộ Sứ, qua đây tìm được kiểu đất "Cửu Thập Bát Tú Triều Dương", có thể phát được tới "Thập Bát Quận Công, tam Tể Tướng, nên đã về Tàu, xin Triều đình cho phép mình được đem họ hàng qua lập nghiệp tại Mộ Trạch, một địa điểm cũng vô cùng đặc biệt về phong thủy, đến nổi nhà phong thủy chính tông cừ khôi là Cao Biền từ đời nhà Đường, được cử qua An nam làm Đô Hộ Sứ khi đuổi giặc Nam Chiếu, về qua làng Mộ trạch, thấy phong cảnh kỳ tú, địa thế vuông vắn, đã phải nghi ngờ trước kiểu đất Văn Học, tuyệt vời, mà gò cương chỉ roi ngựa, khen là "Tiến Sĩ sào" !

Theo những lời ghi chú trên, thì ta có thể tin tưởng được rằng : Vũ Hồn sanh vào đời nhà Đường bên Tàu, vì sau khi chinh phục được nước ta, năm Kỷ mảo, vua Cao Tôn nhà Đường, mới chia xứ Giao Châu thành 12 Châu, 59 huyện và thiết lập An Nam Đô Hộ Phủ.

Nước ta được gọi là An Nam, bắt đầu từ đây.

Trong gia phả của họ Vũ, có ghi " Vũ Hồn An Nam Đô Hộ Sứ." thì lời phỏng đoán của chúng tôi trên đây, hẳn không quá xa sự thực ?

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn thắc mắc, vì qua những tài liệu lịch sử còn sót lại, chúng tôi đã cố sức dò kiếm, mà trong số quan lại nhà Đường được phái sang An Nam, tuyệt nhiên không có vị nào là họ Vũ hết !

Kể từ đời Lý Uyên, vị vua dựng lên nghiệp nhà Đường xưng hiệu là Cao Tổ Hoàng Đế, trong sử cũng chỉ thấy chép : vị quan được nhà vua cử sang cai trị Giao Châu là Đại Tổng Quản Khâu Hoa.

Sau đấy là Quang Sở Khách, Dương Tư Húc, Trương Bá Nghi, Cao Chánh Biện, Triệu Vương, Cao Biền v...v...

Không có một viên quan tàu nào họ Vũ, nhất là chức Đô Hộ Sứ cả !

Ngoài nghi vấn trên, chúng tôi còn không khỏi ngạc nhiên, về đoạn nói về Cao Biền.

Như ai nấy đều biết, không những qua lời nhân dân truyền tụng từ cửa miệng người này qua cửa miệng người khác, mà còn được ghi chép trên nhiều tài liệu giấy trắng, mực đen khác về Cao Biền thì nhà chính trị kiêm quân sự Trung Hoa này, còn có biệt tài về môn phong thủy, học được dị thuật hú gió, gọi mưa, mới nghe cứ như chuyện phong thần vậy !

Về tài năng và sự nghiệp của Cao Biền thì chính sử gia, kiêm học giả Trần Trọng Kim, đã viết trong cuốn V.N. sử Lược như dưới đây :

Mùa thu năm Giáp Thân (864) Vua nhà Đường sai tướng Cao Biền sang đánh quân Nam Chiếu ở Giao Châu.

Cao Biền vốn là danh tướng của nhà Đường văn vỏ toàn tài, rất được quân sĩ mến phục. Năm Ất Dậu (865) Cao Biền cùng quan Giám quân Lý Duy Chu đem quân sang đóng ở Hải Môn. Nhưng họ Lý không ưa Cao Biền, thường tìm mưu hãm hại.

Hai người bàn định tiến binh, Cao Biền dẫn 500 quân đi trước hẹn họ Lý đi sau tiếp ứng. Nhưng họ Lý không chịu xuất binh, Cao Biền vẫn thắng được quân giặc trong lúc chúng đang gặt lúa không kịp đề phòng.

Sau đấy nhờ có tướng Vi Trọng Tề vâng mệnh vua Đường, đem 7000 quân sang tiếp viện cho Cao Biền, nên Cao Biền lại thắng luôn mấy trận nữa, khiến cho quân Nam Chiếu hoảng sợ, chỉ lo giữ gìn thế thủ, chư không dám tấn công như trước nữa.

Cao Biền thấy thế liền viết biểu gửi vể Tàu báo tin. Nhưng sứ giả về đến Hải Môn, lại bị Lý Duy Chu bắt giữ, không cho họ Cao Biền liên lạc với Triều Đình.

Vua Đường trông đợi mải, không thấy tin tức gì của Cao Biền, phải sai sứ giả sang hỏi, thì Lý Duy Chu lại tâu dối rằng : Cao Biền án binh ở Phong Châu không chịu giao binh cùng quân giặc.

Vua Đường nghe tin ấy, nổi giận lập tức, hạ chiếu sai Vương An Quyền sang làm tướng đánh Cao Biền và triệu họ Cao về triều hỏi tội.

Ngay tháng ấy, Cao Biền phá tan được quân Nam Chiếu rồi lại tiến binh vây hãm La Thành, đã được hơn mười ngày, sắp hạ thành, bỗng nhận được tin Vương An Quyền và Lý Duy Chu sẽ sang thay mình thì biết ngay mưu kế hiểm độc của bọn gian thần, liền trao phó binh quyền cho Vi Trọng Tề rồi cùng mấy tên gia nhân thân hành đi suốt đêm về triều.

Nhưng trước đó, Cao Biền cũng đã sai người bí mật lén về kinh đô dâng biểu, trần tấu về tình trạng ở phương Nam, và nhân mạnh luôn cả sự đố kỵ của họ Lý để xin nhà vua minh xét...

Vua Đường xem biểu, biết rõ sự tình cả mừng, vội xuống chiếu thăng chức cho Cao Biền và sai họ Cao trở lại phương Nam, tiếp tục cầm binh chinh phạt Nam Chiếu.

Chẳng bao lâu binh Đường đã dẹp yên quân giặc.

Đất Giao Châu lại bị nội thuộc nhà Đường, sau 10 năm bị quân Nam Chiếu phá lại.

Vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết Độ sứ và đổi đất An Nam làm Tỉnh Hải...

Cao Biền trị dân có phép tắc nên ai cũng kính trọng mến phục.

Vì vậy, nhiều người tôn là Cao Vương, Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch...

Sử chép rằng Cao Biền thường dùng phép phù thủy, khiến thiên lôi phá hủy những thác gềnh ở các sông ngòi trong xứ, để cho thuyền bè đi lại dể dàng.

Tục truyền rằng : Cao Biền thấy ở bên Giao Châu ta lắm đất đế vương thường cứ cưỡi diều giấy đi yểm đất, phá hủy những chỗ sơn thủy đẹp và triệt hạ mất nhiều long mạch...

Ngoài tài liệu của Trần tiên sinh, trong dân gian còn đồn đải rằng : họ Cao thường đi khắp núi cao rừng rậm, ngõ hẽm, hang cùng, thấy nơi nào địa thế kỳ khu, phong cảnh xinh đẹp, khả dỉ nghi được là chỗ quy tụ những long mạch kết phát, là tìm cách trấn yểm, phá hủy cho kỳ được.

Đó không phải là ý riêng của Cao Biền, mà chính là y đã vâng mật chiếu của triều đình : dùng mọi phương pháp yểm trừ những huyệt đế vương, cũng như những kiểu đất kết phát khác, để mong cũng cố nền móng đô hộ lâu dài trên đất nước này.

Với trọng trách ấy, một người có căn bản vững chắc về môn phong thủy như Cao Biền, một danh tướng kiêm chính trị gia lổi lạc, đã từng xây được thành Đại La lại đào cả sông Tô Lịch để cắt đứt long mạch của chốn cố đô, thì bao giờ y lại chịu bỏ qua kiểu đất " Cửu Thập Bát Tú triều dương" và luôn cả khu quý địa làng Mộ Trạch ?


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:44 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
[size=150]Long Mạch Ba Vì

Long mạch Ba Vì, khởi nguồn từ phần cuối của dãy núi Ai Lao Sơn, đoạn tận cùng phía đông nam của dãy núi Himalaya.

Để tìm long mạch, chúng ta cần biết qua nguyên tắc tìm long mạch:
(1) Long mạch xuất ra từ Thiên môn. Nơi khởi nguồn của dòng nước, là nơi long mạch rời khỏi núi tổ tông.
(2) Long mạch phải có nước, không có nước là không có chân khí.
(3) Khởi đầu long mạch: nơi đầu nguồn dòng chảy, có hai đường nước chảy hai bên.
(4) Long mạch mạnh: có núi hộ vệ (hộ long, giáp long) kéo dài.
(5) Kết thúc long mạch: nơi đường nước tụ lại.
(6) Long mạch đi ra từ thiên trì là đại cát.
Long mạch Ba Vì là long mạch quý, bao gồm đầy đủ cả 6 yếu tố trên: Khởi đầu long mạch có ao trời Nhĩ Hải ở độ cao trên 2000m, là nơi tụ khí. Từ đây dòng nước chảy khỏi Thiên môn, qua nhánh Tây Nhĩ Hà. Từ Tây Nhĩ Hà, bắt đầu tỏa ra hai nhánh là Lễ Xã giang (đầu nguồn sông Hồng), và Xuyên Hà (đầu nguồn sông Đà). Đây cũng là khởi đầu của long mạch Ba Vì. Có một sự trùng hợp rất thú vị, ao trời là vùng hồ lớn mênh mông nằm trên đỉnh núi cao, lại hình như cái tai nên được gọi là Nhĩ Hải. Đoạn chảy về đến Hà Nội, cũng uốn khúc như hình cái tai, nên xưa được gọi tên là Nhĩ Hà.
Hình ảnh
Long mạch Ba Vì là long mạch mạnh, có long mạch hai bên (còn gọi là Giáp long) chạy theo bảo vệ trong suốt quá trình di chuyển. Những yêu cầu cơ bản của giáp long, đều thấy trên các long mạch bảo vệ hai bên long mạch Ba Vì:
- Hộ tống long mạch chính trên suốt chặng đường, cũng sinh nhiều đỉnh núi cao, nên dễ lầm tưởng là chính long khác.
- Quan sát từ khởi nguồn long mạch Ba Vì, ta sẽ dễ dàng nhận ra điều này, có hai long mạch hai bên chạy theo cho đến gần Hà Nội hiện nay. Đó cũng là lý do một số nhà phân tích lầm tưởng là các long mạch khác.
Hình ảnh
Đoạn long mạch vào Việt Nam, đi qua Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ,…
- Có chân mạch, có núi ôm vòng & đường nước bao bọc, nhưng chỉ kết huyệt nhỏ.
- Các đỉnh núi sinh ra của giáp long, đều chầu về long mạch chính.
- Tận cùng giáp long, là ngọn núi trấn giữ thủy khẩu, hoặc là triều sơn cho chính long. Như đã nói ở trên, dãy núi Tam Đảo thuộc giáp long, một phần núi trong dãy Tam Đảo là triều sơn của chính long – núi Ba Vì, chứ đây không phải là cặp Thanh Long – Bạch Hổ.
Hình ảnh
Sau khi vào lãnh thổ Việt Nam, có thể quan sát thấy giáp long bên trái là dãy núi Tam Đảo, dãy núi Con Voi; Giáp long bên phải là cao nguyên Mộc Châu. Còn long mạch Ba Vì chính là dãy núi Hoàng Liên Sơn.
Là long mạch mạnh, với chiều đi dài và hùng vĩ như vậy, trước khi kết huyệt, bắt buộc phải trải qua quá trình “bác hoán” long mạch, còn gọi là quá trình “lột xác”, bỏ đi phần thô cứng, để thay bằng hình dáng đẹp đẽ hơn. “Bác” (bỏ đi) “hoán” (thay thế) là điều kiện cần thiết của chân long – long mạch chân chính. Nếu long mạch không “bác hoán”, sẽ không thể vinh hiển phú quý.
Long mạch thật là do những ngọn núi lớn trải qua quá trình bác hoán mà thành. Khi tìm long mạch, nếu gặp đỉnh núi cao, sẽ phải bỏ đi phần thô nặng của nó mà thay thế vào đó là phần nhẵn nhụi. Sự bào mòn và thay thế đó có thể khiến ngọn núi từ thô kệch, chắc chắn trở nên nhẵn nhụi, đẹp đẽ. Quá trình này vô cùng kỳ kiệu. Cứ tiếp tục bào mòn, thay thế như vậy cho đến tận cùng để có thể nhìn thấy chân long xuất hiện. Hình dạng của chân long là một ngọn núi nhỏ đứng thẳng, là một thể thống nhất với hình dạng thực của núi – cũng chính là tổ sơn của nó.
Cũng như vậy, để kết huyệt tốt, long mạch Ba Vì trải qua quá trình “bác hoán” rõ ràng nổi trội, long mạch từ núi cao chạy đến đất bằng, bắt đầu đứt rời khỏi mạch tổ tông, thay thế bằng hình dáng đẹp đẽ hơn. Long mạch hùng vĩ, đến phần “giới thủy” là dòng sông Đà đang chạy theo bảo vệ, bỗng quay mình chảy ngược, long mạch Ba Vì cũng vì thế mà đi chìm dưới dòng sông, và đột khởi nổi lên, chia thành hai nhánh, một nhánh vươn mình đi tiếp, một nhánh nổi lên xoay mình là núi Ba Vì, chuẩn bị kết huyệt.
Hình ảnh
Một phần long mạch Ba Vì xoay mình, chuẩn bị kết huyệt khi một phần long mạch tụ khí, không đi tiếp. Do không đi tiếp được, phải quay đầu lại, gọi là hồi long.
Đặc điểm của nơi kết huyệt, là nơi hai dòng nước giao nhau, ôm vòng bao bọc, khí sinh ra sẽ được giữ lại. Đồng thời, thủy khẩu nhiều hộ sa: nhiều núi hộ vệ ngăn chặn, bao bọc trước và sau thủy khẩu, không cho sinh khí thất thoát.
Hình ảnh
Vùng tâm huyệt trường:
Hình ảnh[/size]


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:49 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
MỘT SỐ HÌNH ẢNH
Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/04/12 10:57 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
Tướng Dương Văn Minh và long mạch huyền bí ở Đồng Tháp Mười

Ngay từ cái thời vùng Đồng Tháp Mười còn là “cánh đồng hoang”, chưa được khai phá, ở nơi đây đã có một cánh đồng nhỏ rộng vài trăm hecta đất đai màu mỡ, về sau trở thành cánh đồng màu mỡ nhất tỉnh Long An, một trong những cánh đồng có năng suất lúa cao nhất miền Tây Nam Bộ. Chính nơi đây đã sản sinh ra hàng trăm giống lúa mới cung cấp khắp các tỉnh đồng bằng.

Trên cánh đồng này, phần nhiều cư dân đều mang họ Dương, xuất phát từ cụ tổ họ Dương từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang cánh đây vài trăm năm. Đến khoảng đời thứ 6 – thứ 7, nhiều người trong tộc họ Dương bỗng trở nên nổi trội, thành danh trong cuộc sống, mà rõ nhất là Đại tướng, sau trở thành Tổng thống chính quyền Sài Gòn – ông Dương Văn Minh. Cách đây vài năm, cánh đồng “long mạch” này được một doanh nghiệp nước ngoài săn lùng để làm dự án “công viên nghĩa trang”.

Nhờ bàn tay, khối óc của con người, mà từ một cánh đồng hoang, ngày nay Đồng Tháp Mười đã trở thành vựa lúa lớn của cả nước, đất đai đã được thuần hóa, trồng lúa 2 – 3 vụ/năm, cho năng suất cao. Trong đó, có một cánh đồng được khai phá vào loại sớm nhất, cũng là cánh đồng màu mỡ nhất, cho năng suất lúa có lúc hơn 10 tấn/ha/vụ. Đây cũng là cánh đồng sản xuất lúa giống của tỉnh Long An, hàng trăm giống lúa mới từ đây đã đi khắp Long An và các tỉnh đồng bằng. Cũng trên cánh đồng này, một nông dân tay lấm chân bùn trở thành Anh hùng lao động. Và chính trên cánh đồng này cậu bé Dương Văn Minh đã từng tung tăng vui đùa, trước khi đi học “trường Tây” và trở thành một trong những nhân vật được nhắc tới nhiều nhất ở miền Nam trong nửa cuối thế thể 20.

Cửa ngõ vào Đồng Tháp Mười

Ngày nay giao thông đường bộ ở ĐBSCL đã phát triển, chúng ta có nhiều cách để vào Đồng Tháp Mười. Từ Củ Chi (TP. HCM) cũng có thể theo tuyến đường Hồ Chí Minh mới mở đi xuyên ngang Đồng Tháp Mười. Từ thành phố Mỹ Tho hoặc thị trấn Cai Lậy (Tiền Giang), hay từ Cao Lãnh (Đồng Tháp) đều có lối đi thuận tiện để vào trung tâm Đồng Tháp Mười.

Thế nhưng, có một tuyến đường gắn với công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười, tuyến đường đầu tiên vượt lên trên đỉnh lũ vào năm cao nhất, có vai trò như là “phao cứu sinh” cho vùng đất này vào mùa lũ, ngày nay tiếp tục là tuyến đường chiến lược của vùng Đồng Tháp Mười, đó là quốc lộ 62. Tuyến đường dài 75 cây số này bắt đầu từ quốc lộ 1A tại thành phố Tân An, chạy xuyên qua những cánh rừng tràm, những đồng lúa bát ngát, băng qua hết Đồng Tháp Mười, rồi kết thúc tại cửa khẩu Bình Hiệp giáp ranh với tỉnh SvâyRiêng – Vương quốc Campuchia.

Đồng Tháp Mười là một vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long có diện tích gần 700 ngàn hecta, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp trong đó tỉnh Long An chiếm non phân nửa. Suốt hàng ngàn năm, vùng đất này chịu cảnh hoang hóa, đất đai bị ngập nước mỗi năm 3 – 4 tháng. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đồng Tháp Mười là một trong những chiến khu quan trọng nhất, từng được ví như “Việt Bắc miền Nam”.

Thời Pháp, rồi thời Mỹ, đã có nhiều nỗ lực khai phá Đồng Tháp Mười nhưng đều thất bại. Các nhà khoa học trên thế giới từng tính rằng, phải đầu tư vào mỗi hecta ruộng ở Đồng Tháp Mười 1 triệu USD mới có thể cải tạo nó trồng lúa được. Bắt đầu từ thập niên 1980, chỉ với lao động thủ công là chính cùng với kinh nghiệm thực tiễn, hàng triệu người dân ba tỉnh nói trên đã đẩy mạnh khai hoang vùng Đồng Tháp Mười.

Hàng trăm ngàn cây số kênh mương đã được đào để thoát nước, xả phèn. Vất vả, kể cả thất bại suốt 20 – 30 năm, người dân nơi đây đã biến Đồng Tháp Mười thành vựa lúa cả nước, góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực thành cường quốc xuất khẩu.

Rời thành phố Tân An, xuôi theo quốc lộ 62 khoảng 10 cây số, chúng ta đến ngã tư Mỹ Phú (thuộc xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An). Đây có thể coi là cửa ngõ của Đồng Tháp Mười. Một cánh đồng bao la hiện ra trước mặt, đồng lúa bất tận xen lẫn với những vạt rừng tràm xanh ngát. Phía bên tay phải ngã tư Mỹ Phú là cánh đồng rộng mấy trăm hecta nằm cặp sông Vàm Cỏ Tây, đất đai ít màu mỡ, đã được cấp phép cho một dự án sân golf mấy năm qua, nhưng đến nay vẫn chưa triển khai. Phía bên trái ngã tư là cánh đồng thuộc ấp xã Mỹ Phú, nơi có thể xem là “cánh đồng huyền diệu” của vùng Đồng Tháp Mười.

Cho đến thập niên 1970, tuyến quốc lộ 62 ngày nay chỉ đi qua khỏi ngã tư Mỹ Phú một đoạn rồi kết thúc. Đây cũng là cánh đồng hiếm hoi thuộc vùng Đồng Tháp Mười được khai phá rất sớm, chỉ qua khỏi cánh đồng này một chút là tới “cánh đồng hoang”, không có người sinh sống. Dù cách thành phố Tân An chỉ khoảng 10 cây số, nhưng ngày trước, mỗi năm xã Mỹ Phú phải chịu ngập sâu 2 – 3 tháng. Đó là giai đoạn nông dân nơi đây khai thác nguồn lợi thủy sản phong phú vào mùa lũ để bán cho người dân thành phố Tân An.

Cũng chính nhờ hàng năm có mấy tháng đồng ruộng bị ngập, nước lũ mang phù sa về bồi đắp, khi lũ rút, bàn tay con người tiếp tục cải tạo, bồi bổ cho đất. Cứ thế, sau hàng trăm năm, cánh đồng xã Mỹ Phú trở thành vùng đất màu mỡ nhất tỉnh Long An và cả vùng Đồng Tháp Mười. Ngày nay quốc lộ 62 sau khi qua Mỹ Phú tiếp tục chạy thẳng vào trung tâm Đồng Tháp Mười bạt ngàn đồng lúa, rừng tràm. Nhưng những người phương xa khi về thăm Đồng Tháp Mười, họ thường ghé cánh đồng Mỹ Phú để hình dung công cuộc khai phá vùng đất huyền thoại này.

Cánh đồng màu mỡ nhất

Cánh đồng xã Mỹ Phú từ lâu đã trở nên thân quen với các trường Đại học, Cao đẳng Nông nghiệp. Đây cũng là địa chỉ hay lui tới của các Viện nghiên cứu về nghề trồng lúa. Đó cũng là điểm dừng chân của các đoàn du lịch sinh thái về vùng Đồng Tháp Mười. Mỗi khi cần thử nghiệm một giống lúa mới, các nhà khoa học thường tìm về cánh đồng xã Mỹ Phú. Cần nhân giống đại trà một giống lúa vừa lai tạo thành công, những kỹ sư nông nghiệp cũng khăn gói về ăn ngủ, cấy lúa trên mảnh đất màu mỡ này.

Hầu hết các kỹ sư nông nghiệp chuyên về trồng lúa ở các trường đại học phía Nam, chân cẳng đều ít nhiều lấm đất ruộng ở Mỹ Phú. Giáo sư – Tiến sĩ Võ Tòng Xuân đã không biết bao nhiêu lần đặt chân đến cánh đồng xã Mỹ Phú. Nhiều vị lãnh đạo ở Bộ NN&PTNT, các trường đại học, các viện nghiên cứu trên cả nước đã từng đến học tập, nghiên cứu trên cánh đồng này khi còn là sinh viên.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh Long An, đã có khoảng 500 giống lúa mới được nhân giống thành công ở cánh đồng Mỹ Phú, cho ra hàng chục ngàn tấn lúa giống chất lượng cao cung cấp cho cả Đồng Tháp Mười và các tỉnh ĐBSCL.

Mọi chuyện bắt đầu vào đầu thập niên 1980, trước tình hình sâu rầy thường xuyên phá hoại mùa màng các tỉnh ĐBSCL, các nhà khoa học ở Viện lúa ĐBSCL đã nghiên cứu lai tạo được giống lúa kháng rầy. Các nông dân ở Mỹ Phú đã xin được ít hạt giống “quý như vàng”. Chỉ sau 3 – 4 vụ lúa, người nông dân nơi đây đã nhân lên thành 50 – 60 tấn lúa giống cung cấp cho cả tỉnh Long An, giúp hàng ngàn nông dân khác tránh được nạn sâu rầy phá lúa, góp phần làm nên những vụ mùa bội thu sau đó.

Vụ đông xuân 2000 – 2001, nông dân Dương Văn Hữu (Hai Hữu) ở xã Mỹ Phú đã làm kinh ngạc mọi người khi thu hoạch lúa đạt năng suất hơn 10 tấn/hecta. Thời ấy, các kiện tướng trồng lúa ở Đồng Tháp Mười thi nhau nâng dần năng suất lúa, từ 5 – 6 tấn/hecta/vụ lên 7, rồi 8 tấn. Vì vậy mà khi ông Dương Văn Hữu thu hoạch đúng 10 tấn lúa trên thửa ruộng chưa tới 1 hecta của mình, các “kiện tướng trồng lúa” ở miền Tây Nam Bộ phải chào thua.

Thực ra ông Hai Hữu cũng có có “bửu bối” hay giống lúa đặc biệt nào, ông làm nên kỳ tích là nhờ vào “cánh đồng huyền diệu’ Mỹ Phú. Ông Hữu kể, nhờ mùa lũ năm 2000 nước dâng cao kỷ lục, cao nhất trong mấy chục năm qua, nước ngập đồng ruộng kéo dài gần 3 tháng, vì vậy mà lượng phù sa bồi đắp lên đồng ruộng rất nhiều. Sau khi lũ rút, ông thấy phù sa bám trên mặt ruộng một lớp dày cả nửa lóng tay.

Hình ảnh
Cũng nhờ nước lũ ngập cao và ngập lâu, các loại thiên địch hại lúa như sâu rầy, chuột, ốc cũng bị cuốn trôi đi hết. Lượng phèn tiềm ẩn dưới mặt ruộng cũng được nước lũ cuốn trôi đi phần lớn... Với tất cả những lợi ích do mùa lớn mang lại, cộng với đất đã sẵn màu mỡ, cùng tay nghề chăm sóc của kiện tướng trồng lúa Hai Hữu, đám ruộng của ông cứ xanh mượt, rồi trỗ bông nặng oằn, ông Hai Hữu phải căng dây cho lúa đừng ngã.

Kết quả, ông được ghi nhận là người nông dân miền Tây Nam Bộ đầu tiên trồng lúa đại trà đạt năng suất trến 10 tấn/hecta/vụ. Những năm sau này Đồng Tháp Mười không có lũ lớn, thậm chí gần như không có lũ trong vài năm trở lại đây, nhưng nhiều nông dân ở đây vẫn duy trì được những vụ lúa có năng suất trên dưới 10 tấn/hecta/vụ.

Nông dân Dương Văn Năm cho biết, do phù sa tích tụ hàng ngàn năm, cộng với lớp thực bì khá dày bên dưới mặt đất, nên chỉ cần chịu khó cày sâu, cuốc bẫm, chăm sóc đúng qui trình kỹ thuật, năng suất lúa vẫn luôn đạt rất cao, mặc dù ông không cần phải bón nhiều phân hóa học. Không chỉ trồng lúa đạt năng suất rất cao, vào mùa khô nhiều hộ nông dân trồng xen canh dưa hấu, rau màu và luôn cho những vụ mùa bội thu. Dưa hấu trồng ở đây có thể đạt năng suất gần 30 tấn/hecta, cao hơn mức bình thường ở những nơi khác là 20 – 25 tấn/hecta. Đất đai màu mỡ, người nông dân có truyền thống lao động cần cù từ hàng trăm năm qua, là các yếu tố quan trọng giúp cho cộng đồng dân cư nơi đây có cuộc sống khá giả, nhiều người thành đạt trong cuộc sống và thành danh. Trong số đó phải kể đến là Anh hùng lao động Dương Văn Hữu.

Đất lành sinh ra anh hùng

Nếu sinh ra ở một nơi nào đó khác torng vùng Đồng Tháp Mười, có lẽ người nông dân nòi Dương Văn Hữu (SN 1923) cũng cả đời chật vật cuộc mưu sinh trên đồng ruộng. Nhờ sinh ra trên cánh đồng Mỹ Phú màu mỡ, cộng với gia đình không biết bao nhiêu đời làm nghề nông, tích lũy nhiều kinh nghiệm trồng lúa nước, đã giúp cho người nông dân lam lũ trở thành Anh hùng.

Ông Hai Hữu kể, những năm sau ngày giải phóng sâu rầy phá hoại lúa rất dữ, trong khi nguồn thuốc xịt rầy lại rất khan hiếm. Để bảo vệ mùa màng, bà con nông dân phải “chế” ra nhiều cách để chống sâu rầy, như dùng nhớt “chết” đổ xuống nước rồi rung cây lúa cho sâu rầy rơi xuống dính vào nhớt; dùng hột trái bình bát đâm nhuyễn hòa nước phun lên thân lúa... Sau trận lụt lịch sử năm 1978, cây lúa miền Tây quằn quại bởi dịch rầy nâu, đẩy nông dân lâm vào cảnh đói khổ.

Trước tình hình đó, khi nghe Trường Đại học Cần Thơ triển khai việc nhân giống lúa kháng rầy, ông đã đăng ký thử nghiệm nhân giống trên phần đất của mình. Một mình ông chưa đủ diện tích cần thiết, ông Hai Hữu vận động người thân, bà con lối xóm đưa ruộng làm nhân giống thử nghiệm. Vụ đông xuân năm 1978 đã chính thức xác nhận sự ra đời của tổ nhân giống lúa "Hai Hữu" với 8 hecta ruộng. Đến cuối vụ, họ thu hoạch được 40 tấn lúa giống kháng rầy "quý như vàng".

Thành công bước đầu càng kích thích người nông dân ham học hỏi này tìm đến với những điều hay, mới lạ trong nghề trồng lúa nước. Hễ nghe ở đâu có giống lúa mới, kháng rầy tốt, chịu được phèn, là ông tìm tới hỏi thăm, xin ít hạt giống. Năm 1982, ông đến Trung tâm Kỹ thuật nông nghiệp Ô Môn xem thí nghiệm 76 giống lúa chịu phèn, kháng rầy. Ngay từ khi đến đây, ông đặc biệt chú ý đến bụi lúa lá đứng thẳng trong đám lúa trồng thí điểm.

Có lần ông đã nghe GS. Võ Tòng Xuân giảng rằng lúa lá thẳng thường là giống tốt, chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên. Ông Hai Hữu xin kỹ sư canh nông Bùi Bá Bổng (nay là Thứ trưởng Bộ NN&PTNT) bứng bụi lúa này về nuôi dưỡng trên đất Láng Cò – Mỹ Phú quê ông. Sau mấy tháng chăm sóc, bụi lúa ấy đã cho ông 230 hạt. Ông lựa những hạt tốt nhất, đem nhân giống tăng dần rồi phổ biến cho bà con xung quanh làm thử. Ai cũng mừng khi đây là loại giống có sức sống mãnh liệt, chịu hạn, chịu phèn, kháng rầy bền bỉ.

Vụ đông xuân 1983-1984, ông Hai Hữu cùng với bà con nông dân xứ Láng Cò bắt tay trồng đại trà và thu hoạch đến 6 tấn/hecta – vô địch về năng suất ở thời điểm đó. Loại giống này trở thành giống lúa chủ lực trên địa bàn huyện Thủ Thừa và Châu Thành (Long An), được đặt tên là IR4625 – nông dân quen gọi là nếp Láng Cò… Từ đó cho tới ngày ông mất (năm 2010), tổ nhân giống lúa Hai Hữu với tổng diện tích khoảng 100 hecta đã nhân thành công khoảng 500 giống lúa. Trong đó, có những giống đã đi vào lịch sử lúa giống Long An và miền Tây Nam Bộ, như giống IR13240-108-2-2-3 và IR6425-469-4-2. Các giống lúa với nhiều tính năng nổi trội ấy còn được nông dân cả tỉnh Long An sử dụng cho đến tận ngày nay. Năm 2002, Chủ tịch nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho ông Hai Hữu.

Hiện con cháu ông Hai Hữu còn lưu giữ quyển nhật ký ông ghi lại chi tiết quá trình nhân giống lúa của mình và những lời tâm tình của khách trong và ngoài nước khi đến thăm, học tập kinh nghiệm nhân giống lúa của ông. Ông đã kể rất chân thật quá trình mình đến với nghề nhân giống lúa thế nào. Ông luôn nhận mình là người học trò của “thầy Võ Tòng Xuân”.

Trong nhà ông Hai Hữu, tấm ảnh chụp chung ông với GS.TS Võ Tòng Xuân được treo ở nơi trang trọng. Trong quyển nhật ký của ông Hai Hữu còn lưu hàng trăm chữ ký và những dòng ngợi khen đức tính chịu khó học tập của một lão nông Đồng Tháp Mười chân đất đã mày mò, nghiên cứu để tạo nên những hạt giống lúa quý để lại cho đời.

Chúng tôi đọc thấy các đơn vị như các Viện, Trường Đại học Nông nghiệp, Sở, Trạm Khuyến nông các tỉnh khu vực ĐBSCL, Công ty Giống Cây trồng các tỉnh... Nhiều nông dân sản xuất giỏi ở tận Bình Phước, Cà Mau, Sóc Trăng khi đến đây học tập và xin giống của ông Hai Hữu về trồng, cũng ghi lại những dòng cảm phục.

Nhiều nhà khoa học, nhà báo, nghệ sĩ nổi tiếng… cũng không tiếc lời ca ngợi ông. Một nhà báo viết: "Bác là niềm tự hào cho nông dân Việt Nam chúng ta và con sẽ cố gắng làm việc để đạt được một phần như Bác".

Hình ảnh

Nhiều nhà khoa học, nông dân đến đây và ghi lại cảm nhận của mình bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như Campuchia, Pháp, Phi-lip-pin, Châu Phi… Ông Hai Hữu mất năm 2010, thọ 88 tuổi, ngôi mộ ông được chôn trên chính cánh đồng màu mỡ nơi ông đã cùng bà con Láng Cò – Mỹ Phú nhân ra hàng trăm tấn lúa giống và nơi ông trở thành Anh hùng. Ông Hai Hữu là người đã viết tiếp những kỳ tích của tộc họ Dương trong thời đại mới.

Nơi phát tích tộc họ Dương

Nằm giữa cánh đồng Láng Cò – Mỹ Phú có một khu mộ cổ, tuy không thật đồ sộ, nhưng được chôn trên nền đất cao ráo nhằm chống bị ngập nước vào mùa lũ ở Đồng Tháp Mười. Tất cả những ngôi mộ có lưu danh tánh người nằm dưới mộ đều mang họ Dương. Ngôi mộ có ghi danh tánh có niên đại xưa nhất là mộ cụ ông Dương Văn Hiển, sinh năm 1865, mất năm 1917. Nằm hai bên là mộ bà Dương Văn Hiển – nhũ danh Trần Thị Trong (không ghi năm sinh, năm mất) và bà Dương Văn Hiển – nhũ danh Nguyễn Thị Vốn (1881 – 1941).

Theo cách chôn và cách ghi tên trên mộ chúng ta hiểu rằng ông Dương Văn Hiển có 2 vợ, cùng sống hạnh phúc và khi mất cùng nằm bên nhau. Điều đó phần nào nói lên tộc họ Dương từ cuối thế kỷ 19 đã khấm khá. Nằm kề bên chùm mộ của vợ chồng ông Dương Văn Hiển là 2 ngôi mộ khác nằm cạnh bên nhau.

Trên mộ bia ghi Dương Văn Huề (tức Dương Văn Mau 1891 – 1944) và Nguyễn Thị Kỷ (1895 – 1992). Họ chính là đôi vợ chồng đã sinh ra một nhân vật lịch sử từng làm sôi động chính trường Sài Gòn thập niên 1960 và cũng chính là người làm chiếc cầu nối quan trọng trong cuộc chuyển giao lịch sử giữa chính quyền tay sai Sài Gòn và chính quyền cách mạng vào năm 1975.

Ông cũng là người được lịch sử nhắc đến nhiều khi đã có quyết định “lịch sử” giúp cho việc giải phóng Sài Gòn diễn ra thuận lợi, không đổ nhiều máu, giữ cho Sài Gòn được vẹn nguyên. Người đó chính là Đại tướng Dương Văn Minh, cũng là người trở thành “nguyên thủ quốc gia” ngắn nhất trong lịch sử Việt Nam và thế giới, khi chỉ làm Tổng thống của chính quyền Sài Gòn được chưa tới 48 tiếng đồng hồ.

Tính cho tới đời Dương Văn Minh, tộc họ Dương đã định cư trên đất Đồng Tháp Mười được hơn 100 năm, trải qua 6 thế hệ. Chuyện kể rằng, trong đoàn lưu dân từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang ở miền Tây Nam Bộ vào cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19, có một nhóm người dừng chân bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, nơi bắt đầu vùng đất hoang huyền thoại Đồng Tháp Mười. Ngày ấy nơi đây còn là rừng rậm, nhiều thú dữ, “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềng như bánh canh”.

Trong đoàn lưu dân có đôi vợ chồng trẻ Dương Văn Bảo – Lê Thị Quý. Họ chọn một giồng đất cao ráo so với chung quanh để dựng chòi định cư, khai khẩn đất hoang, làm ruộng. Vùng đất ngoài rìa Đồng Tháp Mười này vào cuối mùa mưa nước từ thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây đổ về ngập trắng đồng, càng lúc càng dâng cao, dìm hết ruộng vườn, cây trái, nhà cửa.

Nhưng nước lũ cũng mang về nguồn lợi thủy sản phong phú, gồm các loại cá, rắn, rùa, bông điên điển, người vùng lũ chỉ cần ngồi trên sàn nhà thòng chân xuống nước lũ cũng có thể tìm được cái ăn qua mùa lũ. Mùa lũ đi qua, cùng lúc với việc chuẩn bị xuống giống cho vụ lúa duy nhất trong năm, người dân Đồng Tháp Mười còn đi ‘thu hoạch” lúa “trời” – một loại lúa tự nhiên trên những cánh đồng hoang, không ai gieo trồng, tự mọc và lớn lên theo con nước lũ, thân dài đến 4 – 5 mét, đến khi lũ rút lúa cũng vừa chín tới, người nông dân chèo xuồng đi cắt từng bông lúa.

Cứ thế, vợ chồng ông Dương Văn Bảo vừa khai khẩn đất hoang vừa khai thác các sản vật vùng Đồng Tháp Mười, cùng cộng đồng lưu dân xây dựng xóm ấp, hình thành nên làng Mỹ Phú cho tới ngày nay. Phải mất tới 4 đời, gia tộc họ Dương và những lưu dân từ miền Trung mới thuần hóa cánh đồng hoang xã Mỹ Phú thành cánh đồng màu mỡ, giúp con người trở nên khá giả. Từ đời ông Dương Văn Bảo, qua các đời Dương Văn Long, Dương Văn Lâm, Dương Văn Cường, gia tộc họ Dương đã đổ nhiều mồ hôi, công sức xuống vùng đất Mỹ Phú, cùng lúc cuộc sống của họ cũng khấm khá dần lên. Đến đời ông Dương Văn Hiển, tức đời thứ năm từ khi ông Dương Văn Bảo vào khai khẩn vùng đất Mỹ Phú, gia tộc họ Dương đã bắt đầu giàu có, ruộng vườn “cò bay thẳng cánh”.

Nhờ đó mà các con của ông Hiển được học hành đàng hoàng, dù lúc đó ở vùng Tân An còn chưa có trường học. Một người con của ông Hiển rất chí thú học tập, đỗ đạt cao, được bổ nhiệm làm quan triều đình, được cử đi trấn nhậm ở Sài Gòn – Gia Định và vùng Mỹ Tho – Vĩnh Long, có tên là Dương Văn Huề. Sau này khi ra làm quan ông còn có thêm tên là Dương Văn Mau. Trong thời gian ông Mau đi làm quan ở vùng Sài Gòn – Gia Định, vợ ông đã từ Mỹ Phú – Tân An đến thăm và hạ sinh ra người con trai đặt tên là Dương Văn Minh. Vì vậy mà sau này có người tưởng nhầm rằng Dương Văn Minh quê gốc Sài Gòn – Gia Định. Thực ra đó chỉ là nơi ông tình cờ sinh ra, còn quê hương ông là vùng Mỹ Phú ở Đồng Tháp Mười.

Ngày bà Nguyễn Thị Kỷ vợ ông Dương Văn Mau hạ sinh đứa con trai đặt tên Dương Văn Minh có hình vóc to lớn hơn người, dù có kỳ vọng con mình sẽ “nên danh nên phận” sau này, nhưng chắc hẳn vợ chồng ông Mau không thể ngờ rằng cậu bé ấy sau này trở thành Tổng thống, là người có vị trí khá đặc biệt trong một giai đoạn bi tráng của dân tộc, đất nước.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 04/04/12 14:51 
Ngoại tuyến
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia:
Chủ nhật 21/08/11 8:38
Bài viết: 473

Đã cảm ơn     : 438 lần
Được cảm ơn : 460 lần
Cảm ơn LIENHOADIEUPHAP ! Chuyên mục này quá hay, những giai thoại kỳ bí về phong thủy quả là đến hôm nay mới biết. Cảm ơn em nhiều

_________________
Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm
Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm
Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong...


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 05/04/12 16:25 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
Giai thọai về ngôi mộ nhà họ “Ngô Đình” tại huyện Lệ Thủy, tình Quảng Bình

Khỏang cuối thế kỷ 19 đời vua Tự Đức tại làng Đại Phong (tục danh Đợi), huyện Phong Lộc (sau đổi thành huyện Lệ Thủy), tỉnh Quảng Bình, có một nông dân đến ngụ cư trong làng,...vợ chết sớm, chỉ có một cậu con trai nhỏ độ 6 tuổi, hằng ngày làm mướn sinh sống. Ban hội tề ở đình làng này cắt cử ông đến phục dịch ở đình làng mỗi khi có hội họp hoặc tế lể.
Sau đó, trong một cơn bệnh nặng, ông qua đời, được ban hội tề làng cử 4 dân đinh đưa thi hài ống đến an táng lại “Bến Đẻ” một vùng rừng núi ngược dòng sông Kiến Giang cách làng Đại Phong độ 3 cây số ngàn.
Vì mới đến ngụ cư, không có địa vị trong làng, không thân thuộc, lại quá nghèo, nên công việc tổ chức mai táng cũng chỉ đơn sơ và vội vàng.
[size=150]Ngôi mộ

Khi 4 dân đinh chèo thuyền đưa thi hài ông đến “Bến Đẻ” thì trời đã về chiều, mà nơi này có tiếng nhiều cọp, nên khi dân đinh đang khiêng thi hài ông từ bến đậu thuyền tiến vào núi, bỗng có nhiều tiếng cọp gầm gừ quanh vùng. Dân đinh sợ quá vội hạ xuống cùng nhau hối hả đào một huyệt cạnh đường mòn, nhưng đào chưa xong thì tiếng gầm thét của chúa sơn lâm càng rền vang đâu đó, 4 dân đinh khiếp đảm liền đặt thi hài ông xuống huyệt còn quá cạn rồi lấp đất qua loa, đọan vội vã cùng nhau co giò chạy về bến xuống thuyền chèo về nhà, định bụng sáng hôm sau sẽ trở lại sửa sang lại chu đáo hơn kẻo tội nghiệp người quá cố.
Qua hôm sau, số dân đinh này chèo thuyền trở lại, thì lạ thay, ngôi mộ chiều hôm trước mới lấp qua loa chưa thành nấm, nay đã hóa thành một gò đất tròn trịa do mối tạo lên lớn bằng một căn nhà. Các bậc lão thành trong làng và lân cận nghe tin, lũ lượt đến xem và đều cho là ngôi mộ thiên táng.
Nhưng rồi câu chuyện cũng theo thời gian đi và quên lãng, không ai lưu tâm bàn tán gì đến nữa. Mỗi lần ai đi ngang qua ngôi mộ này cũng không còn để ý đến một gò đất cây cỏ um tùm vì không người viếng thăm săn sóc từ năm này qua năm khác.
Cụ Ngô Đình Khả
Ông cụ qua đời, để lại cậu con trai côi cút mới lên 8, mặt mũi rất khôi ngô dĩnh ngộ, nên được vị cố đạo Thiên Chúa ở xứ đạo Mỹ Phước cạnh làng Đại Phong nhận đem về nuôi cho ăn học. Cậu bé đó là cụ Ngô Đình Khả sau này đó.
Sau này, cậu bé được cho ra Hanoi học, thi đậu tốt nghiệp trường thông ngôn Đông Pháp, được bổ làm thông phán tại tòa Thống sứ Bắc Kỳ tại Hanoi (trường này giống học viện hành chánh bây giờ).
Theo thông lệ xưa, hễ ai được nhà nước bảo hộ hay Nam triều bộ nhậm chức tước gì thì đều được nhà nước, thông tư về nguyên quán và ban hội tề làng phải tổ chức lên tỉnh rước sắc bằng về làng, nhằm làm tăng vinh dự cho người được bổ nhậm, thường gọi là “tư án quán”. Tại làng, người nào có phẩm hàm cao thì được làng cấp phần ruộng tốt giao cho thanh nhân canh tác.
Nhưng khi được nhà nước bảo hộ ở Ha nội tư án quán, tòa công sứ và dinh tuần vũ tỉnh Quảng Bình báo cho làng Đại Phong lên tỉnh rước sắc bằng cụ Khả, thì ban hội tề làng này từ khước viện lý do làng Đại Phong không có ai tên là Ngô Đình Khả cả, bởi vì nếu nhận có, tất cụ Ngô Đình Khả sẽ là vị tiên chỉ của làng này, trong khi làng này chỉ có những quan nhỏ cửu, bát phẩm mà thôi.
Do sự khước từ trên, cu Ngô Đình Khả giận làng Đại Phong, sau đó cụ kết hôn với một thiếu nữ trâm anh ở làng Phú Cam gần kinh đô Huế và nhận làm công dân của làng này.
Sau này cụ Ngô Đình Khả chuyển cái ngạch Nam triều rồi lần lượt thăng tiến trên đường họan lộ, đến triều vua Thành Thái ngài thăng chức Thượng thơ bộ Học, Hiệp ta Đại học sĩ.
Dân làng Đại Phong lúc bấy giờ hối tiếc việc không thừa tiếp một công dân anh tài vẻ vang cho làng xóm, nên đã cùng nhau vào Huế xin tạ lỗi và thỉnh cầu được tiếp nhận cụ về làng, được cụ chấp thuận. từ đó, cụ là công dân làng Đại Phong. Cụ đã góp công xây dựng ngôi đình làng Đợi to lớn và ngôi nhà thờ nguy nga hiện nay vẫn còn.
Gái và trai
Cụ Ngô Đình Khả sinh được 2 gái và 6 trai: hai gái là bà cụ Cả Lễ và bà cụ Ấm, 6 trai là cụ nguyên tổng đốc tỉnh Quảng Nam Ngô Đình Khôi, Đức tổng Giám mục Ngô đình Thục, nguyên tổng thống đệ nhứt VNCH Ngô Đình Diệm, nguyên cố vấn Ngô Đình Nhu, nguyên đại sứ VNCH tại Anh quốc Ngô Đình Luyện và nguyên cố vấn cao nguyên trung nguyên Trung phần Ngô Đình Cẩn.
Năm 1936, cụ bà Ngô Đình Khả cùng các con gồm các ông Ngô Đình Khôi, Đức cha Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn (vắng mặt ông Ngô Đình Luyện có lẽ du học ngọai quốc) về làng Đại Phong thăm làng. Trước khi về làng, cụ bà và các con đến Bến Đẻ viếng mộ cọ cố Tam Đại Tổ.
Chạm long mạch
Năm 1938, ông Paul Ngọc, một nhà kinh doanh khai khẩn đất hoang nguyên quán Đồng Hới được phép khai khẩn đồn điền Ba Canh (tả ngạn sông Kiến Giang song song với vùng núi Bến Đẻ, Bến Trấm), ông này vô tình cho đào một con mương dẫn nước vào đồn điền để canh tác đã chạm phải long mạch của ngôi mộ thiên táng của nhà họ Ngô Đình kể trên và tai nạn đã đưa đến nho nhà họ Ngô là:
- Thượng thơ bộ Lại của triều đình Huế Ngô Đình Diệm bị hòang đế Bảo Đại cất chức thượng thơ thu hồi tất cả phẩm trật và huy chương vì đã chống đối lệnh hòang đế.
- Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi phải bị rắc rối một thời gian vì đã chống đối gây sự bất hòa với viên phó tòan quyền Đông Pháp Nouailletas.
Năm 1944, ông Paul Ngọc được chuyên viên canh nông Nhật bổn yểm trợ khuếch trương đào các con kinh dẩn thủy trong đồn điền Ba Canh của ông, vô tình đã chạm vào long mạch của ngôi mộ kể trên, nên lại một lần nữa gây đại nạn cho nhà họ Ngô là:
- Ông Ngô Đình Khôi và con trai đầu lòng là Ngô Đình Huân bị chính quyền VM bắt và thủ tiêu sau cuộc cách mạng mùa thu 1945.
- Ông Ngô Đình Diệm cũng bị chính quyền VM bắt giam nhưng đã trốn thóat bôn đào ra ngọai quốc.
Hàn lại long mạch
Nhưng nhờ thời gian Đồng minh đánh Nhật và VN chống Pháp, mọi công tác tại đồn điền này đều phải đình chỉ, các kinh đào dẫn thủy nhờ thời gian qua đã lấp lại hết. Long mạch đã được hàn gắn lại nên vận số nhà họ Ngô lại phục hưng bột phát hơn trước:
- Tháng 7-1954, ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh rồi trở thành vị tổng thống sáng lập nền đệ nhất cộng hòa VN.
- Cùng lúc, bào đệ là ông Ngô Đình Nhu nắm giữ chức cố vấn nòng cốt của chế độ, ông Ngô Đình Luyện giữ chức đại sứ VNCH tại Anh Quốc, ông Ngô Đình Cẩn trở nên vị lãnh chúa của miền Trung. Còn Đức Cha Ngô Đình Thục lên chức Tổng Giám Mục và có thể sẽ là vị Hồng Y đầu tiên của Công Giáo tại VNCH.
Lại chạm Long Mạch
Nhưng vào khỏang năm 1960-1962, miền Bắc bắt đầu đặt công cuộc yểm trợ tận lực cho Mặt trận Giải Phóng miền Nam được Trung Quốc viện trợ xây đắp xa lộ từ Bắc vào Đồng Hới qua Hậu Hùng, Mỹ Đức đến vùng đồn diền Ba Canh tiến sát vĩ tuyến 17 và vùng Ba Canh trở thành căn cứ sản xuất và bổ túc vủ khí để chuyển vào Nam. Họ đào những đường hầm sâu để đặt cơ xưởng dưới lòng đất hầu tránh oanh kích đã làm đứt hẳn long mạch của ngôi mộ thiên táng nhà họ Ngô tại Bến Đẻ. Sự kiện này đưa đến đại nạn cho tòan thể gia đình họ Ngô Đình vào mùa đông năm 1963 như chúng ta đã rõ.Âu cũng là do thiên định cho sự kết phát của ngôi mộ kể trên phải chịu trong giai đọan đại biến này thôi. Rồi nếu hồng phúc của nhà họ Ngô Đình trời còn dành cho phần trường cửu hơn, thì biết đâu sau này lại có những sự kiện đưa đến hàn gắn lại long mạch để lớp hậu duệ nhà họ Ngô Đình tái phục hưng vĩ đại hơn nữa.
Về phương diện phong thủy, phải chăng ngôi mộ kể trên đã chung tú bới non sông hùng vĩ của huyện Lệ Thủy từ phía Nam có 3 hòn núi An Mã dẫn về Bến Trấm, Bến Đẻ và phía Tây có núi Đầu Mâu chung khí về biển Hạc Hải ờ phía Đông Bắc trải long mạch dựa theo sông Kiến Giang ngược lên Tróc Vực quy tụ vào ngôi mộ này kết phát đến tột đỉnh, Đế, Bá, Công, Hầu chăng ?
Kẻ viết giai thọai này chỉ là kẻ hậu sinh, nhờ được sinh sống ở quê hương từ thuở thiếu thời, được các bậc tiền bối truyền thọai lại mà thôi. Nay xin viết lại để mong chư hải nội tiền bối nhất là liệt quý vị cao niên đồng hương hiện ờ Miền Nam phủ chính lại cho, hầu xây dựng đích thực một sử liệu không những chỉ ở lãnh vực địa lý mà cả cho danh nhân chí của Việt Nam nữa ./.

Tây Đô tháng 10-1973.
(Tạp chí Khoa Học Huyền Bí số 1B(75) ngày 20 tháng 1-1975)[/size]


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 05/04/12 16:41 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
HUYỆT ĐAO HÀM RỒNG (THANH HÓA)

Hình ảnh

Hình ảnh

Huyệt đạo này đã được bảo vệ bởi chùa phái trúc lâm thiền tự yên tử

Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành ?

Bảo là bảo mã, giang là sông
àm Rồng mất tíchSự biến mất của kỳ quan này – theo cách lý giải của Hoàng Tuấn Phổ - là do sự chuyển dòng của sông Mã.
Theo nhận định của Đào Duy Anh trong cuốn Nước Việt Nam Qua Các Triều Đại (Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin - 2005) dòng chính của sông Mã trước đây vốn chảy thẳng ra lửa Lạch Trường, theo lối sông Lèn ngày nay.
Khi ấy ngã ba sông Mã, sông Ngu (sông Lèn) có tên là Tuần Ngu – nay là ngã ba Bông – nơi thu thuế đường thủy của nhà Lê.
Một cơn lũ lớn vào đầu triều Nguyễn đánh chìm một bè gỗ lim lớn, dần dần phù sa bồi đắp làm hẹp cửa vào dòng sông Ngu Lại, khiến sông Mã phải trổ một nhánh phụ ra lối qua cầu Hàm Rồng và đổ ra cửa biển Hội Trào như hiện nay.
Sự chuyển dòng một cách bất đắc dĩ của sông Mã khiến lạch sông nhỏ ngay qua Hàm Rồng trở thành một con sông lớn, nhấn Hàm Rồng vào sâu trong dòng nước.
Một Hàm Rồng phong thủy
Tôi trở lại Hàm Rồng, ngắm nhìn phong cảnh. Vẫn núi Rồng, núi Ngọc, sông Mã, động Tiên Sơn, động Long Quang. Vẫn người Bắc kẻ Nam tập nập lại qua trên hai chiếc cầu bắc ngang dòng sông Mã. Vẫn non xanh nước biếc hùng vĩ. Vẫn mây trắng ngàn năm bay.
Những ai từng đi ngang qua xứ Thanh, tỉnh Thanh Hóa ngày nay, nơi dòng sông Mã cắt ngang đường Quốc lộ 1A, hẳn đều biết đến địa danh Hàm Rồng (phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa).
Từ ngàn năm trước, nơi đây vẫn được ngợi ca là một danh sơn thắng địa, nguồn thi hứng bất tận cho các tao nhân mặc khách danh tiếng như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Sĩ Phan Huy Ích, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Tản Đà, v.v… Núi non vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Gọi điện trách, anh bạn tôi không có vẻ giận, chỉ hỏi: “Đang đứng ở đâu?”. “Trên núi Đầu Rồng, trong động Long Quang”.
“Đó là hai mắt của Rồng. Anh đi theo cửa hang nào cũng được, bám vách đá hướng về phía núi Ngọc, thấy phiến đá cao, là đến mỏm đá mũi rồng.
Phía dưới mũi Rồng có một hang động hình cáo hàm còn rồng gọi là Hàm Rồng. Nhưng tôi cũng khuyên anh đừng cố tìm. Hàm Rồng đã mất tích lâu rồi” – Dứt câu anh cúp máy.
Ngọn núi đá vôi mà tôi đang đứng khá nổi danh trong sử sách. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Hàm Rồng ngày nay vốn là núi Long Hạm, tên cũ là Đông Sơn, mạch núi từ Ngũ Hoa (xã Dương Xá, huyện Thiệu Hóa ngày nay) theo bên sông dẫn đến, uyển chuyển liên tiếp như hình con rồng chín khúc, cuối dãy nổi lên ngọn núi cao, đá chất chồng.
Trên núi có động Long Quang. Dưới núi có tảng đá lởm chởm trông như hàm rồng đang hút nước sông Mã.
Trong cuốn Lý Thường Kiệt (Nhà Xuất bản Sông Nhị, Hà Nội - 1949), học giả Hoàng Xuân Hãn cũng có cùng nhận định: “Núi Long Hàm hay Hàm Rồng là nhỏn cuối của một dãy núi, chạy dài trên hữu ngạn sông Mã từ làng Dương Xá đến cầu Hàm Rồng, dài trên khoảng năm cây số. Núi là núi đất lẫn đá nhưng nhỏn Hàm Rồng thì toàn đá.
Trên cao có động tên là Long Quang. Động có hai cửa hai bên, hình như hai mắt rồng, thường gọi là Long Nhãn. Núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long Tị. Gần mặt nước có hai lớp đá chồng nhau như hàm rồng. Đó là Long Hàm.
Toàn hình – trông từ phương phương Bắc – giống như đầu rồng đang uống nước. Bên kia sông có nhỏn đá tròn, người ta gọi là núi Hỏa Châu. Cảnh chung gọi là Long Hí Châu (Rồng vờn hạt ngọc)”.
Một nhà nghiên cứu người xứ Thanh là Hoàng Tuấn Phổ gần đây có đưa ra một cứ liệu khi viết về cuốn Núi Rồng –Sông Mã (Nhà Xuất bản Văn hóa - 1993).
Tác giả dựa vào lời dẫn bài Long Hạm Nham Tức Hứng của Phan Huy Ích viết năm 1782: “Sau khi đến nơi nhậm trị, tôi qua thăm lại cảnh cũ núi Da Sơn (tên cũ là núi Rồng) ở bên cạnh bến sông.
Chỗ vách đá trống có một phiến đá cao hơn năm thước ta (hơn hai mét), bề rộng có thể trải được chiếu. Hình thù đá như cổ cái môi, trơn tru giống như đầu rồng mở miệng vậy. Vì thế mới gọi là động Hàm Rồng.
Trước động có một hòn đá rất lớn nhòm xuống dòng sông đột khởi lên như hình hàm rồng ngậm ngọc, cho nên đặt tên là hòn Đá Ngọc. Trong khoảng giữa chân núi và hòn Đá Ngọc của Hàm Rồng đã được san lấp thành nền đất bằng phẳng, rộng hai trải chiếu, trên đó dựng một am nhỏ, đặt tên Song Lạc Quán.
Khoảng trống vách bên phải tạm chứa được bốn, năm người ngồi, tôi thường bao con hát vào đó đàn hát gọi là Nhạc Phòng.
Vách đá trái - tùy theo hình thể của đá – sắp đặt bàn trà, chỗ bếp rượu, tôi lại khắc chữ vào ria núi đá và xây dựng công đường, nhà cao cửa rộng, có hành lang, trồng cây, trồng hoa thành hàng lối, phong cảnh rất đẹp…”.
Nếu những cứ liệu trên đủ sức thuyết phục, có thể khẳng định, sở dĩ ngọn núi này nổi tiếng vì nó có một điểm sất đặc biệt. Núi có dáng hình một con rồng đang há miệng.
Nhưng tôi xuống sát mép nước, đi ra xa theo phía bờ bắc, rồi đứng cao trên đỉnh núi Ngọc đối diện, thấy rất rõ dáng núi như đầu rồng nhưng hàm rồng thì thú thực không thấy đâu.
Có lẽ nào hình tượng Hàm Rồng đẹp như cảnh tiên ấy – như cách anh bạn mọt sách của tôi nói – từng hiện diện nhưng nay mất tích.
Khi tôi đem sự băn khoăn đến hỏi một người từng nghiên cứu khá kỹ về Hàm Rồng, lại nhận thêm một ý kiến khác.
Phải chăng hàm rồng chỉ là một thuật ngữ của khoa học phong thủy. Đó là ý kiến của ông T – một trong số ít người của xứ Thanh còn xác định được 28 huyệt mà Thánh địa lý Tả Ao phát hiện ở Thanh Hóa.
Ông T cho rằng, các nhà phong thủy có câu: “Tiên tích đức, hậu tầm long” (tức là chứa tức trước, tìm đất sau).
Trong phép tầm long của các nhà phong thủy, trước hết phải tìm tổ núi, rồi dò theo long mạch mà tìm đến huyệt.
Huyệt là thế đất có án che phía trước, chẩm làm chỗ dựa phía sau, bên trái là tay long, bên phải là tay hổ.
Long mạch có thể lớn hoặc nhỏ, có nhiều điểm kết mà điểm kết tốt nhất gọi là hàm rồng. Người ta thường nói những gia tộc được đại phú đại quý là nhờ có “mả táng hàm rồng” là vì vậy.
Hàm Rồng nay ở đâu
Trước anh bạn tôi có nhiều người quan tâm đến một vách đá hình miệng rộng đang há ngay mép nước, bên trong có chứa long mạch hàm rồng. Người coi lời dẫn tựa của bài Long Hạm Nham Tức Hứng như lời chú của vị quan châu đi tìm bí mật hang Thần trong truyện Vàng Và Máu của Thế Lữ.
Người đi tìm long mạch, người đến chỉ vì tò mò nhưng nhìn chung, ai cũng cố vén bức màn huyền bí để mục sở thị cái hình tượng khởi khát cho cái tên Hàm Rồng hiện nay.
Trong cuốn sách đã dẫn, tác giả Hoàng Tuấn Phổ còn dựa vào bài thơ Long Đại Nham của Nguyễn Trãi để khẳng định có một hang đá tự nhiên mang hình tượng con rồng há miệng.
Có vẻ hơi khiên cưỡng khi cho rằng Long Đại Nham là động lớn núi Rồng (Đại nham: động lớn) và câu: “Lê Phạm phong lưu ta tiệm viễn/Thanh đài bán thực bích gian thi” .
(Lê, Phạm văn phong dần vắng thấy/Rêu tường xóa lấp nửa vần thi – Lê Cao Phan dịch) chứng tỏ bản khắc thơ trong động của hai danh sĩ đời Trần là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh bị rêu phong vì hang động thấp, gần nước sông.
Năm 1949, nhà sử học Hoàng Nguyên Hãn chứng minh cuốn An Nam Chí Lược (Lê Tắc soạn - 1335), bộ sách được coi là Hàm Rồng ngày nay còn họi là Long Đại Nham, Bảo Đài Sơn hay Hang Dơi là sai.
Một số sách đời sau như An Nam Chí (Cao Hùng Trưng) hay Việt Kiều Thư, Minh Chí đều chịu ảnh hưởng của sách này, nên có chung lỗi đó.
Theo ông, đó là ngọn núi Linh Trường, Lê Thánh Tông viết: “Núi xanh cao vót, dáng dị kỳ, đứng sững ở cửa biển. Chân núi có động, sâu thẳm khôn cùng, tương truyền đấy là miệng rồng. Ngoài cửa động có viên đá hình cái mũi, tương truyền đấy là mũi rồng.
Dưới mũi lại mọc ra một viên đá tròn nhẵn nhụi đáng yêu, tương truyền đấy là hạt ngọc. Đá lớn đá nhỏ lô nhô rất nhiều hình thái, chỗ thưa chỗ dày, không thể đếm được, tương truyền là râu rồng…”.
Núi đó từng có thơ của Lê, Phạm đề, nên nếu tìm theo hướng đó, chúng ta sẽ phải xa nơi cần tìm hàng chục km.
Vị trí Hàm Rồng lâu nay vẫn được phỏng đoán là nơi cuối cùng của núi Đầu Rồng, dưới đôi mắt và mũi rồng, hướng về phía núi Ngọc (Hỏa Châu Phong).
Nhưng nó là những phần đất còn lại, hay chìm sâu giữa dòng sông Mã như bây giờ thì chưa ai khẳng định được. Nếu là phần trên bờ, chỉ cần khai quật đi lớp cát bồi chừng dăm ba mét, hy vọng sẽ thấy.
Nhưng nếu chân núi Rồng vốn vươn xa ra giữa sông , hy vọng tìm thấy là rất mong manh, vì nước nơi này cực xiết. Trước đây người ta không dễ hạ được một móng cầu thì ai có thể xuống đó mà thám hiểm.
Hơn nữa, trải qua mấy trăm năm dưới dòng sông Mã với lượng nước trung bình năm 52,6 m3/s, modul dòng chảy năm 221/s.km2, tổng lượng cát bùn khoảng 3,027.106 tấn, liệu Hàm Rồng có còn dấu tích.
Chúng tôi đem những băn khoăn ấy định trao đổi với ông Ngô Hoàng Chung, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa. Ông Chùng từ chối vì Hàm Rồng không thuộc quản lý của Sở và chỉ sang Phòng Văn hóa Thành phố.

Theo ông Hà Huy Tâm, Trưởng phòng Văn hóa Thành phố, thắng cảnh Hàm Rồng là quần thể di tích với 16 hạng mục cấp tỉnh. Về hang động thì có hai hạng mục chính là động Tiên Sơn và động Long Quang.
Từ trước tới nay, địa phương chưa từng tổ chức một đợt khảo sát nào để tìm lại thắng tích. Xét thấy việc tìm lại thắng tích Hàm Rồng, ngoài yếu tố tâm linh còn là sự giáo dục truyền thống.
Ông Tâm khẳng định, nếu hội tụ đủ một số điều kiện cần, sẽ có tờ trình UBND TP Thanh Hóa để làm.
Liên quan đến núi Hàm Rồng và huyệt hàm rồng trong phong thủy, có một truyền thuyết kể rằng vào khoảng năm 866 – 875, tiết độ sứ đất Giao Châu (tên nước ta thời thuộc Đường) là Cao Biền, rất giỏi về phong thủy, am hiểu việc làm bùa chú, lại biết nuôi âm binh, có thể ném hạt đậu hóa thành binh lính.
Biền thấy đấy Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó lòng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và tìm cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam.
Bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này tuy không phải là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân) nhưng cũng là hình con rồng què chân, không phải đất cực quý, nên bỏ đi.
Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát.
Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý. Thì lại càng ham thích. Rắp tâm làm đến cùng, Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vô cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tan.
Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh là nơi phát khởi của nhiều vua chúa.
Nhiều người cho rằng, những chim nhỏ phá phép trấn yểm của Cao Biền là thần linh của sông núi nước Nam. Có người lại cho rằng đó là do Thánh Tả Ao hóa phép.
Theo truyền thuyết, cụ Tả Ao là vua phong thủy của nước ta, chuyên phá những long mạch bị Cao Biền trấn yểm.
Không ai rõ tên và năm sinh, năm mất của Tả Ao nên chỉ gọi theo tên làng. Nhiều tài liệu phỏng đoán cụ tên thật là Vũ Đức Huyền hay Hoàng Chiêm hoặc Hoàng Chỉ, Nguyễn Đức Huyên, v.v…, sống ở làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh vào thời Lê.
Cũng có người nói ông sống trước thời Tùy Đường. Nhờ chữa cho một thầy phong thủy người Tàu khỏi mù mắt, cụ được thầy này truyền nghề lại. Tả Ao học một biết mười, chẳng bao lâu biết hết các tuyệt kỹ của thuật phong thủy, bèn xin về nước.
Thầy Tàu sau khi thử tài cụ, than rằng: “Tất cả tinh hoa môn phong thủy đã truyền về phương Nam rồi!”. Sợ Tả Ao biết hết các huyệt đế vương ở nước Nam mà khởi phát, thầy dặn khi đi trên đường về quê, qua nơi nào có sông núi phải nhắm mắt lại kẻo bị mù mắt.
Nhưng khi đi qua Hàm Rồng, do tính tò mò, Tả Ao hé một mắt nhìn, một mắt nhắm và phát hiện đây có một huyệt là hàm rồng sắp mở miệng. Cụ bèn đem hài cốt cha đến đợi.
Nhưng người nhà thấy Ao đào hài cốt cha đem đi thì hoảng hốt, chạy theo khóc lóc không cho làm thế
Giằng co mãi đến lúc hàm rồng khép miệng lại mà không táng được. Lại có khảo dị rằng, Tả Ao muốn cho con cháu phát khởi nên, trước khi chết, dặn con cháu đem chôn mình vào đấy lúc rồng há miệng.
Các con người nghe, người cản nên đành hỏng việc. Vì vậy có người nói, tài giỏi như Tả Ao nhưng không đủ phúc phận cũng đành chịu.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 05/04/12 16:48 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia:
Thứ 7 10/09/11 22:57
Bài viết: 247

Đã cảm ơn     : 1 lần
Được cảm ơn : 181 lần
MỘ DANH TƯỚNG PHẠM NHỮ TĂNG

Nếu ai có dịp đi về Quảng Nam đến ngã ba Hương An (huyện Quế Sơn), theo Quốc Lộ 1A từ Nam đi ra Bắc qua khỏi ngã ba Hương An chừng 700 m có con đường làng rẽ về phía tay trái, di băng qua 1 cái làng, rồi qua 1 cánh đồng sẽ đến khu vực có lăng mộ của Danh Tướng Phạm Nhữ Tăng.

Ngôi mộ tọa lạc trên một cái gò nhỏ, cao khoảng 2 m so với mặt ruộng, phía sau là một gò cao khoảng 20 m, phía sau nữa là căn cứ quân sự núi Quế. Phía trước ngôi mộ thuở xưa là 1 bàu nước nằm cách mộ chừng 10m gọi là Bàu Xanh.

Tương truyền rằng Phạm Nhữ Tăng là cháu 4-5 đời của Phạm Ngũ Lão vốn là danh tướng của Triều nhà Lê trên đường vào Nam chinh phạt Chiêm Thành thắng lợi đã qua đời trên đường trở về, được vua Lê cho mai táng ở Núi Quế, Hương An.

Không biết vô tình hay hữu ý mà ngôi mộ đã vào vị trí đắc địa. Có một thầy địa lý sau khi đến xem mộ đã phán rằng:

"Bao giờ núi Quế hết cây,
Bàu Xanh hết nước mộ này hết quan"

Trong gia phả họ Phạm tại Hương An ghi rằng:
"Mộ tổ Phạm Nhữ Tăng, huyệt Đơn Phụng Hàm Thư"

Vài nét về phong thủy của huyệt Mộ: Long mạch núi Quế phát nguyên từ dãy núi Hòn Tàu cao 1200m, chạy qua địa phận xã Quế Hiệp, xuống xã Quế Mỹ đến khu vực Hương An xã Quế Phú thì gặp một con sông lớn là sông Rù Rì (dân địa phương còn gọi là sông Hương An) long đình khí chỉ kết nên huyệt Đơn Phụng Hàm Thư. Thế long mạch đi rất dài, qua nhiều ngọn đồi nhỏ, đến khi kết huyệt thì quay đầu nhìn về sông Hương An (sông Hương An ngày xưa khác với sông Hương An bây giờ đã đổi dòng), phía trước huyệt là một bàu nước (bàu Xanh)có nước đầy quanh năm trong vắt.

Huyệt táng trên một gò đất nhỏ hình vuông, mỗi cạnh chừng 5-6m. Gò núi phía sau như con chim phượng chìa mỏ ra ngậm lấy gò đất hình vuông này nên gọi là huyệt Đơn Phụng Hàm Thư

Mộ huyệt tọa Khôn hướng Cấn (kiêm Dần 3 phân), bàu Xanh cũng nằm phía hướng Cấn, nước sông Hương An chảy ôm vòng cách huyệt chừng hơn 100 m từ phải sang trái.

Sự kết phát của huyệt mộ:

từ lúc mộ táng đến nay cũng đã hơn 400 năm, dòng họ Phạm liên tục phát quan, tính ra được khoảng 20 đời có cả võ quan lẫn văn quan đều là quan lớn qua nhiều triều đại (người viết lúc được đọc qua gia phả họ Phạm thì còn nhỏ nên không thể nhớ hết để kể chi tiết được).

Đến đầu thế kỷ 20, có Tiến sĩ Phạm Nhữ Thuật(*) làm quan trong triều đình nhà Nguyễn sinh được 2 trai 1 gái. Cô con gái về làm Dâu ở vùng Bình Đào, huyện Thăng Bình. Do vùng Bình Đào đất cát khô cằn, cô con gái về xin cha cho khơi một dòng nước từ sông Hương An dẫn về hướng Thăng Bình để làm thủy lợi. Ông Phạm Nhữ Thuật đồng ý. Sau khi khơi kênh nước mới, đến mùa nước lũ, nước khoét sâu lòng kênh tạo thành dòng nước chính làm nước sông Hương An đổi dòng, dòng sông không còn chảy ôm vòng qua trước mộ nước mà thay vào đó là nước bắt đầu chảy ngược từ trái sang phải cùng với dòng chính chảy về huyện Thăng Bình. Về phương diện thủy pháp đã không còn phù hợp với hướng huyệt nữa.

Sau sự cố này, nước Bàu Xanh trở nên cạn khô sau đó bị bồi lấp dần.

Tiến sĩ Phạm nhữ Thuật trở thành vị quan cuối cùng của dòng họ Phạm ở Hương An.

Hai con trai của Phạm Nhữ Thuật, 1 người tham gia quân đội Khố xanh của Pháp lên đến cấp Đại úy thì bị chết trận, người còn lại chơi bời bán dần gia sản, cuối cùng về quê làm nghề cày cấy.
Từ cầu Hương An đi ngược sông Rù rì lên chừng 2 KM đến địa phận xã Quế Cường có 1 ngọn núi nhỏ gọi là núi Chùa . Long mạch của núi Chùa xuất phát từ hướng Tây (1 chi long của Trường Sơn), chạy qua nhiều vùng của Quế Sơn, đến Núi Nhím, (phía Tây của núi Chùa độ chừng 1 KM) Sơn mạch chạy đến núi Chùa thì long ngoi lên ngoảnh đầu ra uống nước sông Rù rì (hay sông Ly Ly). Sông rù rì chảy đến đoạn núi Chùa thì dòng chảy uốn lượn rất hữu tình . Ngay miệng long nơi núi Chùa ngoảnh ra, dòng sông có 1 vực sâu gọi là vực Cơm . Vực cơm nước tụ , sâu thăm thẳm, trong xanh rất đẹp, ngày trước khi bị tàn phá những loại cá quí của sông Rù rì hay tụ về sống ở vực cơm (có lẽ cũng vì vây mà bị tàn phá). Vực Cơm nước tụ nhưng không dơ dáy, vì dòng nước sông nơi đây chảy ôm lấy vực Cơm bên bờ nam .
Ngày trước trên núi Chùa có 1 ngôi chùa (vì vậy mà gọi núi chùa), cây cối xanh tươi, phong cảnh đẹp lắm . Sau chiến tranh, người ta làm đường kinh thủy lợi (kinh số 1) từ đập Cao Ngạn (Thăng Bình) chạy cắt ngang giữa núi Chùa và núi Nhím - Cắt ngang cổ rồng . Nơi núi Chùa ngỏanh ra sông cũng bị 1 đường kinh nhỏ hơn (kinh số 3) cắt ngang giữa núi Chùa và vực Cơm ( cắt ngang miệng rồng) .
Long mạch bị băm nát, vùng này trở nên cằn cỗi, trên núi Chùa chỉ có những cây nhỏ khô cằn sống .ngôi chùa bị phá , không ai trông coi . Phía tay trái của miệng long , sông Rù rì sụt lỡ, chính quyền cho trồng cây để ngăn đất lỡ nhưng vẫn bị . Bờ sông đất lỡ ăn sâu vào đất liền . Người địa phương bây giờ gọi nơi này là Hố Lỡ . Những tảng đá lớn bằng phẳng bên vực Cơm bây giờ hầu như biến mất , những mỏm đá nhọn hoắt tua tủa mọc lên làm khúc sông này giống như 1 bãi chông . Sông rù rì bây giờ cạn nước , không còn như xưa nữa .

Xã Quế Cường nằm giữa hai hộ long ,núi Chùa và núi Quế (anh ThiênViệt đã nói ở trên về núi quế) , hướng ra sông Rù rì . Tuy không phải là nơi phát lớn nhưng cũng đã từng là xóm làng trù phú (nên xưa gọi là Phú Cường) .

Xã Bình Đào thuộc huyện Thăng Bình nằm ở sát biển có con sông Trường Giang chảy ngang, con sông này là sông tự nhiên. Phía trên Bình Đào về hướng Tây Bắc giáp với Quế Sơn có lẽ là Bình Sa hoặc Bình Minh, đây là vùng mà Thiên Việt muốn nói ở trên.

Con sông Rù Rì rộng lớn ngay cầu Hương An xưa chính là con kênh thủy lợi nhỏ được cô con gái họ Phạm cho khơi, sau vì nước lũ mà chảy phá thành sông Hương An bây giờ.
Còn sông Hương An (sông tự nhiên)thuở xưa: nếu đi từ huyện lỵ Quế Sơn đi xuống Hương An, gần đến Hương An (cách Hương An chừng chưa đến 1 km) thì có một cái cầu bắt qua 1 con rạch nước chảy từ bên trái chảy qua, đây chính là sông Rù rì ngày xưa nước chảy từ phải sang trái vòng xuống Mộc Bài rồi mới ôm vòng về Thăng Bình, nay nước đã đổi dòng nên chảy tuột xuống cầu Hương An, còn dòng sông sông cũ lâu ngày cạn và thu hẹp dần thành một con rạch nhỏ.

Ngôi mộ của Danh tướng Phạm Nhữ Tăng thì có từ thời vua Lê Thánh Tông đi vào Nam chinh phục Chiêm Thành (Thiên Việt sẽ đi tìm các tài liệu lịch sữ như Việt Nam Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để tra cứu lại niên hiệu. Trên mộ cũng có ghi thời gian táng tuy nhiên TV không ghi chép lại), kết phát được hơn 20 đời chỉ tàn cuộc vào thời nhà Nguyễn


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 42 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế tiếp

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh