Hôm nay, Thứ 2 01/06/20 3:09

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 259 kết quả

Người gửi Nội dung

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: TRUYỆN LƯỢM LẶT
Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 10:44 

Bắt đầu một câu chuyện

Trăm năm rốt cuộc đều như thế
Ngoảnh lại mịt mờ đám bụi bay…

Cũng là cái duyên, tôi tình cờ biết Trung tâm Ẩm thực dưỡng sinh từ một người bạn cùng học Diện chẩn. Lần đó, trên đường đi chữa bệnh cho cô bác ở khu Định Quán, Đồng Nai thì cô Nhã – đồng môn Diện chẩn và cũng là người sáng lập Trung tâm Ẩm thực dưỡng sinh – đã gọi phone cho tôi và nhờ ghé qua để chữa một ca bệnh thần kinh giả.

Trung tâm là nơi tiếp nhận những người bệnh để chữa bằng cách ăn gạo lứt – muối mè theo phương pháp Ẩm thực dưỡng sinh của Osawa. Trung tâm này nằm sâu bên trong khu cây cối rậm rạp tách biệt khu dân cư ở xã Sông Xoài – huyện Hắc Dịch, thuộc tỉnh Bà Rịa. Được xây dựng đơn giản, nhưng trung tâm có đầy đủ các phương tiện như một bệnh viện xã thu nhỏ - và được quản lý bởi 2 cô: cô Nhã và cô Phước.

Tôi ghé Trung tâm này được 2 lần, ở lần thứ 3 – tôi rủ Chú theo – và từ lần này, nhiều câu chuyện hấp dẫn đã xảy ra…

Lần đó, tôi – Trinh – Vy và Chú cùng đến để hỗ trợ chữa cho những người bệnh ở trung tâm này. Khi vừa đến, quẳng đống balo và ra ghế đá ngồi trò chuyện với cô Nhã – tôi cảm nhận cái trường lực vong linh được phát ra dồn dập rất nặng nề. Tôi rất ngạc nhiên vì những lần trước hoàn toàn không thấy trường lực này nặng như vậy. Trinh – Vy thì cảm thấy tức ngực, khó thở…

Tôi nói bâng quơ với Chú:
- Sao lạ nhỉ?

Chú cũng cảm nhận được điều đó, nhưng im lặng. Chú nhìn quanh rồi bảo tôi:
- Con chạy ra đường lớn mua cho Chú một bao thuốc lá.

Tôi xách xe chạy ra ngoài, tìm mua bao thuốc Basto mang về đưa Chú. Chú đốt 4 điếu thuốc (thay cho nhang) cắm thành hình chữ nhật xung quanh khu chỗ ngồi, và 1 điếu cắm ở giữa – sau đó vỗ xuống đất 3 cái. Đó là phương pháp triệu thỉnh và cầu xin thổ địa ở địa phương đó gia hộ cho việc làm của chúng tôi.

Có một điều mà bất kỳ ai cũng nên biết, đó là quy tắc: “Kính lão đắc thọ” – kể trong Đạo cũng vậy. Ở bất kỳ địa phương nào, khu vực nào – đều có những thành phần thiêng liêng, hồn thiêng sông núi cai quản. Và trước khi làm bất kỳ điều gì, chúng ta nên thưa, trình trước với “họ” để có được sự ủng hộ, gia trì. Đây là việc cần làm…

Sau khi làm xong thủ tục “xin phép”, trường lực vong linh giảm bớt và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Có nhiều loại trường lực mà sau một thời gian công phu, bạn có thể cảm nhận được. Trường lực phát tiết từ thành phần vong linh thường tạo cảm giác dập dền như bạn đang đứng trên một con tàu ở giữa biển động. Trường lực từ những người sử dụng, luyện / sên bùa ngãi thường tạo cảm giác châm chích, thốn, đau như có cái gì đó đâm thẳng vào người bạn. Một số trường lực trấn ếm, trược bệnh, hoặc khu vực từng xảy ra sự chết chóc chiến tranh thường tạo cảm giác như có một khối nóng – hoặc khối lạnh phủ chụp xuống người bạn…

Đa phần sau khi tu tập một thời gian, cơ thể chúng ta đều trải qua quá trình thanh lọc các ô trược và trở nên nhẹ nhàng nên dễ cảm nhận được cái trường lực được phát ra từ tất cả mọi thứ xung quanh. Nếu trường lực nào khiến bạn cảm thấy khó chịu, tức là nó rất nặng nề, nguy hiểm và không tốt cho bản thân bạn. Những người nhạy cảm khi gặp các trường lực này đều cảm thấy mệt mỏi, nặng nhức 2 vai, nặng đầu, choáng tối tăm mặt mũi…

Bạn có thể thử cảm nhận các trường lực này bằng cách đến đám tang, khu nghĩa trang, hoặc bệnh viện. Trong đó bệnh viện là nơi tập hợp rất nhiều những trường lực không tốt từ đủ loại trược bệnh, trường vong linh, bla bla bla… Ai yếu người khi đến các khu này đều cảm nhận được rất rõ ràng. Và dĩ nhiên, người đó cũng cảm thấy đủ thứ mệt mỏi ngay sau đó…

Sau này, khi ngồi nói chuyện lại – Chú mới kể: cái khu vực Ngãi Giao, Sông Xoài, Hắc Dịch ở tỉnh Bà Rịa trước đây là những trận địa lớn lúc chiến tranh – có rất nhiều binh lính, người dân đã tử nạn ở đây. Điều này cũng lý giải cho những căn bệnh quái đản mà chúng tôi gặp khi hỗ trợ chữa bệnh ở đây: gần như 90% mọi người ở đó đều bị thần kinh giả. Và điều lạ kỳ hơn, ở bất kỳ ca bệnh đau nhức, thần kinh tọa nào – thì đều xảy ra ở một nửa bên trái của người bệnh…

Nhiều câu chuyện, nhiều bài học hấp dẫn bắt đầu xảy ra khi chúng tôi bắt tay vào chữa bệnh…

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: TRUYỆN LƯỢM LẶT
Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 10:46 

Điềm báo

Ở Trung tâm Ẩm thực dưỡng sinh có một nữ bệnh nhân tên là Phụng. Cô Phụng được 61 tuổi, quê ở Trà Vinh. Cô bị căn bệnh Ung thư tử cung ở giai đoạn cuối và biến chứng thêm một khối u bướu ở bên vai trái. Khối u này to hơn nắm tay, nhìn như một khối thịt đỏ lờm lở loét, rỉ máu và bốc đầy mùi tanh tưởi. Hầu như tất cả mọi người ở Trung tâm đều không ai dám tiếp xúc, thậm chí nhìn vào khối u đó – nên cô Phụng phải dùng cái khăn đắp ngang vai để che lại.

Cô Nhã – người sáng lập Trung tâm kể: thực ra lần đầu tiếp xúc cô Nhã đã từ chối người bệnh này, vì bản thân các bệnh viện đều đã trả về vì gần như không còn khả năng cứu chữa sau khi thực hiện hầu hết các phương pháp hóa trị, xạ trị… Âu cũng là duyên nghiệp, vì sau khi cô Nhã từ chối tiếp nhận ca bệnh này thì tôi có gọi điện cho cô Nhã báo là tôi sẽ lên đó hỗ trợ chữa bệnh cho bà con ở Trung tâm vài ngày. Khi biết tôi sẽ đến Trung tâm, cô Nhã lại đồng ý cho cô Phụng đến với hy vọng tôi có phương pháp giúp cô ấy được.

Khi tôi lên đến Trung tâm, cô Nhã mới “ưu ái” giới thiệu có căn bệnh đặc biệt này. Thành thật mà nói, tôi hơi bị choáng khi nhìn thấy khối u đó. Sau khi thử bằng phương pháp Diện chẩn khi châm đầy đủ bộ tiêu viêm, tiêu độc, tiêu bướu – tôi bổ sung thêm chữa bằng Nhân Điện. Tôi đặt một tay vào luân xa 7 (huyệt Bách Hội) trên đầu cô Phụng (người bệnh), tay còn lại tôi đặt trực tiếp trên khối u. Sau đó tôi cảm thấy cả một khối lạnh châm chích báo trên cơ thể mình – đó là trường lực báo của những căn bệnh nguy hiểm, nặng nề mà những người mới tập Nhân Điện không nên làm, nếu họ không muốn rước trược bệnh vào người họ.

Lần thứ 4 khi tôi đến Trung tâm thì có cả Chú đi cùng – đó là ngày thứ Tư. Lúc này cô Phụng cũng có được người theo nuôi bệnh – tên là cô Hương, nghe đâu là bạn thân cùng quê của cô Phụng. Cô Hương này khá đặc biệt – cô hay đứng xa quan sát tôi làm bệnh, hoặc kiếm lý do đến gần để xem tôi làm những gì. Tôi cảm nhận ở cô Hương có điều gì đó không-bình-thường, mà nói thẳng ra – tôi cảm nhận trong cô ấy có thành phần tâm linh vô hình dựa vào, và thành phần này đang quan sát tôi đang làm gì.

Đến chiều ngày thứ Tư, cô Hương đến nhờ tôi “chữa bệnh”. Cô khai bị thận suy, hay đi tiểu đêm. Lúc làm bệnh, lại chính cô ấy chỉ rõ cho tôi biết những vị trí huyệt trên mặt cô ấy mà tôi nên tác động vào để chữa bệnh. Lúc này thì tôi mới xác nhận trực giác của mình cảm nhận về cô ấy là đúng.

Có một thực tế mà nói, đôi khi những người bệnh thần kinh giả - tức có thành phần vô hình dựa vào – lại là Thầy dạy cho chúng ta rất nhiều bài học hay. Đôi lúc những câu nói vu vơ, những hành động khó hiểu của họ lại là bài học để chúng ta suy ngẫm. Giống như cô Hương vậy, cô ấy chỉ chính xác vị trí huyệt đạo để chữa đúng căn bệnh thận suy của cô ấy.

Chiều ngày thứ Năm, cô Hương lại đến gặp tôi và hỏi vu vơ:
- Thầy Hải xem tôi có cần chữa bệnh không?

Tôi cười bảo:
- Dạ tùy cô. Nếu cô thấy cần thì cháu sẽ hỗ trợ cô.

Cô Hương ngồi xuống và nhờ tôi chữa bệnh. Sau khi châm đầy đủ các huyệt đạo để chữa cho bệnh thận suy, tôi bảo cô ấy ngồi thư giãn – thả lỏng cơ thể - ngửa 2 bàn tay lên đặt trên đùi. Khi cô ấy đã nhắm mắt, thư giãn – tôi bắt đầu dùng thao tác để kiểm tra và giao tiếp với thần kinh giả - tức thành phần vô hình bên trong cô ấy. Sau khi đặt tay chừng 1 phút, lúc vừa buông bộ khóa ra – cơ thể cô Hương bắt đầu chuyển động.

Tôi nói thầm trong bụng:
- Có chuyện vui rồi đây…

Lúc tôi nhấn mạnh bộ khóa, mắt cô Hương đang nhắm bỗng mở trừng ra và nhìn tôi. Tay cô ấy từ vị trí đang nằm dưới bàn tay của tôi bắt đầu xoay và tìm cách thoát khỏi tay tôi. Cơ thể cô ấy bắt đầu uốn éo chuyển động, 2 tay cô ấy bắt đủ thứ ấn và múa may. Lúc múa, tay cô ấy đổi ấn liên tục và kết thúc bằng thế chấp tay lễ Phật rồi nhìn tôi cười.

Tôi cũng nhìn cô ấy cười…

Bụng bảo dạ:
- Bố khỉ, múa cái gì vậy trời…

Múa xong một lần, thấy tôi im re, cô ấy lại múa thêm lần thứ 2, lần này còn quay cuồng hơn (sau này tôi mới biết đó là bộ ấn Ngũ Công Dương Phật thuộc phái luyện bùa Năm Ông, hoặc luyện Thần Quyền). Tôi vẫn ngồi cười. Đợi cô ấy kết thúc, tôi mới lên tiếng:
- Tôi không biết quý vị là ai, nhưng nếu cần tôi giúp điều gì thì quý vị cứ nói.

Cô ấy chăm chú nhìn tôi, rồi im lặng – mắt cô ấy rưng rưng. Và lạ thay, lúc đó chính bản thân tôi tự dưng trỗi lên cảm giác xúc động khó tả. Cái cảm giác vừa nao nao, vừa phập phồng lo lắng, vừa xúc động mà chẳng hiểu nó phát sinh từ đâu. Mà thực ra, đó chính là cảm giác của thành phần vong linh vô hình bên trong người cô Hương đang phát tiết ra – và tôi cảm nhận được trường lực đó.

Tôi hỏi lại:
- Quý vị có cần tôi giúp gì không?

Cô Hương im lặng và khẽ lắc đầu. Cả hai im lặng trong phút chốc.

Nhưng sau đó, cô ấy chủ động mở lời:
- Cái bệnh của thân không thể chữa được, tôi mong cậu giúp tâm linh của cô Phụng.

Tôi cười nói:
- Tôi có biết gì đâu mà giúp tâm linh.

Cô Hương thoáng cười rồi nói:
- Tôi quan sát cậu 2 ngày nay, khi nãy tôi thấy cậu có bắt ấn – tôi biết cậu không phải chỉ chữa bệnh thông thường mà còn làm những việc tâm linh…

Tôi giật mình, vì các động tác bắt ấn để kiểm tra thần kinh giả tôi thường thể hiện như một động tác chữa bệnh, nên người bình thường thường không thể nhận ra được.

Khi đó tôi hỏi:
- Quý vị có liên hệ gì với cô Phụng? Vì tôi nghe nói cô Hương đây là bạn của cô Phụng.

Cô Hương trả lời:
- Tôi chỉ là người bạn của Phụng, bạn từ lâu lắm rồi. Khi biết Phụng bệnh nặng tôi chỉ muốn giúp cho Phụng.

Ngay lúc đó, bé Liễu – cũng là người bệnh ở cùng phòng cô Phụng - chạy vào hớt hãi nói:
- Cô Hương ơi, cái bướu của cô Phụng bị chảy máu.

Cô Hương nhìn tôi rồi nói:
- Tôi phải đi giúp cô Phụng đây…

Nói xong rồi đứng lên tất tả đi về phòng bệnh của cô Phụng.

Việc cái bướu của cô Phụng bị chảy máu thường xuyên xảy ra nên thực tâm mà nói lúc đó tôi cũng không lưu tâm lắm, nghĩ đó cũng bình thường như bao lần khác.

Tối hôm đó, sau giờ cơm – mọi người quay quần ở bàn đá nghe Chú kể chuyện. Tôi cũng ngồi, nhưng nhận ra trường lực vong linh cực mạnh dồn về người mình, cảm giác như có “ai đó” đang đứng cạnh mình. Trong lòng cứ dâng lên cảm xúc bất an về một việc gì đó không hay sắp xảy ra. Vì cảm nhận điều này nên tôi im lặng không nói gì, cứ cố cảm nhận xem điều gì không hay sắp xảy ra…

Những lời của thành phần vô hình trong cô Hương nói cho tôi biết một điềm báo…

Vì ngay tối hôm đó, điều không hay đã thực sự xảy ra

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: CẦN CÓ MỘT NIỀM TIN
Đã gửi: Thứ 5 22/12/11 20:12 

Vậy đấy ! Niềm tin là một ngôn từ hết sức đơn giản mà ai cũng có thể nói được, đọc được. Nhưng để có được niềm tin là một điều kỳ diệu mà mỗi người cần nỗ lực giành lấy. Niềm tin sẽ giúp ta đứng vững trước vòng xoáy cuộc đời và khi bạn có niềm tin bạn sẽ làm được những điều tưởng chừng không thể.

Triết lý rất hay và dễ hiểu. Nhưng mà không phải ai cũng hiểu được.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: CẦN CÓ MỘT NIỀM TIN
Đã gửi: Thứ 5 22/12/11 12:48 

CẦN CÓ MỘT NIỀM TIN

Chẳng ai trong chúng ta sống mà không có niềm tin, chỉ là niềm tin tồn tại như thế nào thôi. Bởi đây không phải thứ đồ vật có thể nhìn, sờ mó, cầm nắm, và dĩ nhiên càng không thể thấy được nó khi ta bao phủ mình một sự hoài nghi về chính bản thân, cũng như sự hoài nghi về cuộc sống.

Cuộc sống mang đến cho ta tất cả những gì nó muốn, chứ không phải những gì ta muốn, và dù muốn hay không ta cũng phải đón nhận những thứ cuộc sống gửi đến cho mình. Tuy nhiên, ta có quyền lựa chọn một cách, một thái độ để đón nhận. Gượng ép hay cởi mở với niềm tin yêu cuộc sống ?

Cuộc sống có bao giờ trơn tru, hoàn hảo, bằng phẳng với ai đó trong chúng ta đâu. Mỗi người có một nỗi niềm, tâm tư, khó khăn, trở ngại riêng và những nỗi đau không ai giống ai, nhưng sống với niềm tin giúp ta cảm thấy mọi thứ trở nên tốt hơn.

Khi những thử thách của cuộc sống làm ta đau đớn, ta sẽ tìm thấy sự an ủi cần thiết nơi những người thân, những người bạn, nhưng họ chỉ là người khơi dậy niềm tin nơi ta mà thôi. Chính ta mới là người nuôi dưỡng niềm tin, và làm cho niềm tin sống và tồn tại. Hãy nuôi dưỡng nó bằng sự nhẫn nại, kiên trì, ý chí kiên định, bằng nghị lực đủ lớn để cảm thấy ta có thể tiếp tục bước về phía trước, mà không tìm cho mình một ngã rẽ nào khác tiêu cực hơn.

Vì sao ta có hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, hai tay, hai chân? Nhưng chỉ có một cái đầu, một cái miệng và một trái tim. Ta sinh ra và có một hình hài như thế đều có ý nghĩa cả! Ta có hai con mắt bởi cuộc sống muốn ta nhìn, quan sát nhiều hơn và biết trân trọng những gì ta đang có.

Ta có hai cái tai, bởi ta cần phải lắng nghe nhiều hơn những âm thanh cuộc sống muốn gửi đến. Ta có hai lỗ mũi, để hít thở nhiều hơn và cảm ơn những gì cuộc sống đã ban tặng. Ta có hai cái tay, để làm việc, cầm nắm và trao tặng yêu thương cho mọi người. Ta có hai cái chân, để bước đi nhiều hơn, đến những nơi mà ta muốn, và rồi những bước chân đó sẽ cho ta biết đâu là bến đỗ cuộc đời mình.

Vậy tại sao ta có một cái đầu ? Một cái miệng ? Và một con tim ? Ta có một cái đầu, vì ta cần gom lại tất cả những gì đã thấy, đã nghe, đã làm, đã đi, quy tụ về làm một trong suy nghĩ của mình, để soi xét và phân tích tất cả mọi việc dưới ánh sáng của niềm tin. Ta có một cái miệng, chẳng phải ta cần nói ít lại những lời than vãn, trách móc, than phiền hơn đó sao ? Vì than vãn, trách móc, than phiền chỉ làm cho niềm tin của ta bị bào mòn, hoen rỉ, rạn nứt đi mà thôi. Trái tim chính là cái "kho" chứa đựng của tâm hồn, không cần phải có đến hai cái đâu, bởi con tim có thể lưu trữ tất cả những gì nó muốn và giới hạn là vô tận, là nơi cho niềm tin cư ngự và được che chắn trước những sóng gió của cuộc đời.

Vậy đấy ! Niềm tin là một ngôn từ hết sức đơn giản mà ai cũng có thể nói được, đọc được. Nhưng để có được niềm tin là một điều kỳ diệu mà mỗi người cần nỗ lực giành lấy. Niềm tin sẽ giúp ta đứng vững trước vòng xoáy cuộc đời và khi bạn có niềm tin bạn sẽ làm được những điều tưởng chừng không thể.

Hãy trân trọng niềm tin đang có nơi mình, và làm giàu giá trị của niềm tin, cũng như phát huy sức mạnh của niềm tin bằng những hành động cụ thể bạn nhé !

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI
Đã gửi: Chủ nhật 18/12/11 23:47 

ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI

Con người vốn là một tế bào nhỏ của xã hội, nên con người phải sống tương quan với ai đó. Hơi ấm tình người. Một thái độ thân tình, một cử chỉ chia sẻ, một lời nói thân thương, đem lại cho chúng ta sự ấm áp thật sự, hơn mọi thứ lò sưởi, áo ấm hàng ngày.

Ấm áp không phải khi ngồi bên bếp lửa
mà là bên cạnh người mà bạn thương yêu !

Ấm áp không phải khi bạn mặc một lúc hai, ba áo ấm mà là khi bạn
đang đứng trước gió lạnh từ phía sau có ai đó khoác lên bạn một tấm áo.

Ấm áp không biểu lộ qua lời nói "ấm quá"
mà là khi có tiếng thì thầm bên tai : "Có lạnh lắm không ?".

Ấm áp không phải khi bạn dùng hai tay xuýt xoa
mà là khi tay ai kia khẽ nắm lấy bàn tay bạn.

Ấm áp không phải khi bạn đội chiếc mũ len,
mà là khi đầu bạn dựa vào một bờ vai tin cậy.

Chúc mọi người mỗi ngày đều tốt đẹp hơn ngày hôm qua và chúng ta hãy cùng nhau chung sức mang một chút ấm áp tình người lên vùng địa đầu cực bắc Hà Giang cho các em học sinh đang từng ngày chống chọi với cái lạnh của mảnh đất cao nguyên đá các bạn nhé..

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI
Đã gửi: Thứ 2 19/12/11 7:37 

Tặng bác Trí Minh chút ấm áp nè:
Hình ảnh

Kỹ thuật viên ơi, làm thế nào để cài thêm bản nhạc Noel vào đây được nhỉ?

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI
Đã gửi: Thứ 6 23/12/11 7:53 

Chúc mừng Giáng sinh :lol:

http://www.youtube.com/watch?v=lRbRCY3U6zA&feature=player_detailpage

"Người giàu có nhất là người cho đi nhiều nhất".
"Giúp đỡ người khác là giúp chính mình".

http://www.vietecard.com/images/christmas/images/29.jpg

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Thông tin từ chuyện gọi hồn
Đã gửi: Thứ 4 28/12/11 9:09 

Xin đăng ghi chép của tác giả Minh Chánh thông qua các buổi gọi hồn áp vong tại trung tâm UIA
Nếu ai đã từng biêt tới cõi vô hình thì xin cho ý kiến bổ sung nhé.

VỀ ĐẦT CÁT - NHÀ Ở
Đất cát của ai, ở đâu, kể cả cơ quan, xí nghiệp đều có người âm quản lý. Không hỏi phần âm, phạm sai lầm khó gỡ. Hỏi phần âm là hỏi những người trong gia đình mình đã chết. Họ liên hệ với người âm quản lý đất ở rồi trả lời cho con cháu gia đình biết. Những người chết từ 4 đời (tứ đại) đều được về với gia đình. Ai về nhà nấy. Con cái có tâm luôn luôn nhớ tới tổ tiên ông bà, cầu xin thì được các cụ tứ đại, ông bà về độ trì cho. Ai không nghĩ đến thì ông bà không về. Họ có công việc ở phần âm. Ai thích học nghề gì, việc gì thì học, rèn luyện ở cõi âm để vượt thiên (linh hồn thanh sạch được lên cõi cao là cõi thiên). Trong thời gian 4 đời sau thì đi đầu thai trở lại cõi trần.
Việc đất đai, nhà ở của chủ gia đình nào thì thuộc “thổ công nhà ấy” quản lý. Nếu phạm phần âm như có mồ mả hài cốt, đất của miếu mạo đền chùa thì phải nhờ phần âm của gia đình mình liên hệ hỏi thổ công mới biết rõ nguyên nhân và cách hoá giải. Khoa học như cảm giác học, bói toán, thầy pháp, thờ cúng không giải quyết được vì chuyện người âm thì chỉ có người âm hiểu nổi cõi âm mới giải quyết đúng. Người trần giải quyết theo sách vở của người trần đều sai lầm không đúng luật ở cõi âm. Luật của cõi âm cũng theo thời gian có thay đổi giống như cõi Trần, theo như cũ cũng là không đúng. Khi người chủ gia đình chết thì thổ công cũng thay đổi. Thổ công mới - thay thế, điều đó có quan hệ đến số mệnh, đến tâm đức của người chủ gia đình. Lâu nay người trần hiểu thổ công là quản lý đất đai tài sản khu vực đó l cách vĩnh viễn là không đúng. Thổ công khác thần linh. Như công an khu vực của người trần vậy.
Xây dựng nhà, mua đất đai chọn ngày giờ, xây đúng hướng, cửa chính quan trọng lắm đấy, phải đúng kích thước, phải hỏi người âm nhà mình hướng dẫn cho. Dùng thước Lỗ Ban không chính xác đâu. Tuyệt đối không nhờ người khác động thổ. Mượn họ thì họ là chủ nhà, người âm nhà họ là chủ. Mình và người âm nhà mình lại là người ở nhờ. Xảy ra trường hợp mượn người động thổ thì người âm dòng họ bực tức lắm mà con cháu ở cõi trần không biết. Vì người âm nhà người đó đến tranh giành quyền nhà ở.
Đất, nhà ở có âm tà vì có hài cốt ở dưới, hoặc khi đổ đất làm nền tuy không có xương cốt nhưng là đất có phần máu thịt tan rữa thì phần âm vẫn nhập vào quấy phá.

Đất nhà ở mà động là do nhiễm mấy điều sau đây:
+ Có xương cốt mồ mả, thịt máu của người âm.
+ Mồ mả của dòng họ đào bới có sai phạm
+ Đất ở (cơ quan) là nền đất chùa, miếu mạo.
+ Tâm đức của người nhà mình sai phạm với người âm
+ Tâm đức của ông cha sai trái, nay con cháu gánh chịu
+ Làm nhà không lệ kim lâu. Năm kim lâu vẫn có ngày trực tháng tốt, ngày tốt.
+ Hỏi người âm nhà mình, sẽ chỉ ngày giờ tốt mà xây nhà.
+ Tuyệt đối không mời thầy pháp thầy cúng yểm bùa chú ở nhà mình. Có gia đình mời thầy trừ ma, yểm bùa chú. Sau đó bị tai hoạ ngay.
Một vong là con nói với mẹ: “Mẹ mời thầy về yểm bùa bốn hướng nhà mà con vẫn về được đấy”.
Ma là các vong người trong gia đình 4 đời của nhà mình chứ không phải ma - là người khác, mà vào được đâu . Theo luật, cõi âm đã có thổ công quản lý, không ma nào được ra vào nhà người khác cả''.
Đất nhà ở của ba gia đình: Hưng yên (10 người bệnh kinh giật), Thái Bình (6 người chết trong thời gian ngắn). Quảng Trạch, Quảng Bình (có 6 người điên) là bị phạm âm, đất đền chùa và ông cụ của họ xưa nay là tên đao phủ độc ác, con cháu phải trả nghiệp quả. Họ đến trực tiếp gặp '' cõi thiên đình'' sẽ được cô giúp cách hóa giải. Nhà đất nào cũng có ma tà ở quấy phá thì nhà ngoại cảm thầy bùa, cảm xạ học không giải quyết được. Ở cõi âm cũng có từ xã đến trung ương phải có người âm có quyền chức cao mới gọi thổ công và người âm ở dưới đó hỏi nguyên nhân và cách giải quyết đúng thì mới hoá giải được.

Nếu nhà nào bị bùa yểm thì cô gọi người âm nhà bị yểm hỏi giải quyết là xong ngay.
Làm nhà có 3 lần rất quan trọng: 1 là động thổ, 2 là đổ mái, 3 là ngày giờ dọn về nhà ở.
* Nhà hoàn hảo loại l là: con cái hòa thuận làm ăn đúng hướng, đúng khả năng và phát triển - Không ai tranh giành kiện cáo (trong nhà và người ngoài) – Nội bộ đoàn kết, ngược lại là nhà có vấn đề.
* Một vong là con cái nói với bố: “Cơ quan bố làm trên đất xưa kia là đình cổ, là miếu, lại còn đập phá miếu làm nhà máy. Nên xảy tai nạn lao động luôn. Muốn giải hạn, Giám đốc nhà máy phải gặp xin ''cô thiên đình'' giải hạn thì mới yên ổn”.
* Một vong khác nói với mẹ về việc ông bác là anh ruột mẹ, hai anh em đang tranh giành nhau về nhà đất. Vong người con nói “ Bác tranh chấp với mẹ, Mẹ cứ cho Bác. Người trần không tranh chấp được đâu. Con sẽ độ cho mẹ mua một nhà nhỏ khác mà ờ. Con vẫn ở lại nhà cũ. Người âm với người âm sẽ giải quyết. Gia đình bác về ở không ở được đâu. Bác tâm không tốt xấu bụng hại âm. Hễ ngủ thì con dựng giường lên, đó là việc ma làm mà. Bác sợ không ở được, sẽ trả lại cho mẹ thôi''.
Đất nào cũng có người âm cả. Chỉ có là họ đã vượt thiên đi đầu thai hay chưa mà thôi. Phải hỏi người âm nhà mình mới biết.
* Nhà mình mà cho thuê, cho người ta ở nhà là phải chọn ngày. Nếu trúng ngày người thuê ở nhờ mà mệnh lớn, lấn át mình thì hậu quả rắc rối, gay go lắm.
Nhà ở tốt thì người âm trong gia đình cũng thích ở. Nếu bố bán đi thì khác nào đuổi người âm nhà mình đi chỗ khác. “Ấm tổ mới đẻ trứng, đẻ con”. Nếu bán nhà hiện đang ở thì anh con đang học nước ngoài không thành tài mà còn hư hỏng và bố sẽ gặp lụn bại đấy.
“Cô thiên đình” là thể ánh sáng, không phải đàn ông đàn bà gọi và xưng cô là để hợp tâm tâm lý người cõi trần (lời cô giải thích).

VỀ MỒ MẢ
Mồ mả trong 4 đời phải chôn kín cố định. Chọn đất, hướng huyệt xây gạch, đặt áo quan rồi cất kín sau đó không xây, không ốp gì cả. Nếu xây bới, động mộ sẽ gây tai họa đấy. Vì làm xáo trộn vong linh người âm đang yên tĩnh tu luyện ở cõi âm để mau chóng vượt thiên đi đầu thai kiếp khác.
Đến thăm mộ chỉ khấn xin phép thổ địa, thần linh. Không thắp hương ở mộ, không khấn gọi tên người chết ở tại mộ. Việc ấy chỉ làm tại nhà mình trước khi đi thăm mộ.
Nếu ra mộ khóc lóc, gọi họ, thì hồn họ cõi cao, đi xuống, nhập lại cốt thì tốc độ rung động của năng lượng linh hồn sẽ chập chạp, nặng nề phí công tu luyện những thời gian qua. Họ phải tu luyện lại. Nguy hiểm lắm. Mặt khác, như vậy là làm xáo trộn quy luật cõi âm nên có liên quan tác động đến cõi trần. Có gia đình không biết, cất mộ xong, thì con cháu gia đình đau ốm, gặp tai nạn. Chọn ngày, địa điểm, chôn chặt một lần là đảm bảo.
Nếu chính quyền bắt dời mội thì phải chấp hành theo phấp luật nhưng phải biết cách làm như sau. Khấn:
1. Khấn thổ địa, Thần linh khu mộ sắp dời.
2. Bà cô tổ dòng họ nhà mình cho dời mộ của … (tên họ)
3. Và chôn cất nơi nào …(địa điểm)
4. Nếu có gì con cháu không biết xin bỏ qua, tha thứ
5. Còn sai phạm đíều gì về phần âm thì người ra lệnh phải chịu trách nhiệm.
- Đến nơi mới cũng làm đủ thủ tục như khi chôn cất người chết.
- Không nên mua đất làm mộ giả trước. Làm xong thì con cháu có người chết.
- Nếu đào huyệt có thổ địa, Thần linh, con cháu người nhà đi đào huyệt phải khấn như sau: Con tên 1à . . . ở . . . Xin Thổ địa, Thần linh quản lý đất ở đây cho phép con gửi xác mẹ (ông, bà) tên là . . . ở nơi đây. Khi nhập áo quan cũng nhắc lại. Và nói thêm: Nếu người Trần trong gia đình có gì sai sót, xin Thổ địa, Thần linh, Thần hoàng ở đây tha thứ bỏ qua cho . . . '
- Một vong nói với mẹ: '' Các bác quy tập mộ ông bà là động, làm xáo trộn mồ mả là mang họa. Mẹ đứng ngoài không nhập tiền gia quy tập thì mẹ không liên đới mang hoạ. Tốt nhất là mẹ khuyên các bác không nên quy tập mộ các cụ nữa''.
* Người âm tu luyện 4 đời rồi mới vượt thiên đi đầu thai.
- Mồ mả, bia phải dùng tiếng việt, không dùng chữ hán chữ nôm.
- Tối kỵ là yểm bùa trong quan tài:
- Mất mộ là mất phần xác không ảnh hưởng đến linh hồn, không cần tìm mộ.
Không nên quy tập mộ về một chỗ. Ai có tâm nhớ tới ông bà tổ tiên thì thờ trong tâm.
* Vong người con nói với bố: ''Nhà mình đón thầy sửa mộ. Thầy yểm đầu chó, vì mệnh thầy nhỏ hơn người âm nhà mình sau 3 tháng yểm con chết. Đúng không ? (Ông bố gật đầu đúng). Gia đình mình xảy ra tai nạn: Vợ xa chồng, con xa bố mẹ, có người thay đổi công tác đi nơi xa phải nghiêm cấm việc động mộ. Mời thầy coi bốc mộ nguy hiểm lắm !
* Đào mộ, dời xương cốt đi, Nhưng còn máu, da thịt ở đó. Người không đồng ý. Nên làm khó khăn cho con cháu. Đó là phạm luật âm.
* Cảm xạ học tìm mộ là không tốt. Không phải là làm phúc đâu mà phạm âm đấy. Phần linh hồn thoát ra về với con cháu rồi. Ai không biết mời họ về thì họ ở cõi âm, tu luyện, học tập trẻ thì ở cô nhi viện. Từ khi bố dùng cảm xạ học, con lắc trứng đũa tìm mộ người khác thì buôn bán làm ăn lung tung, vắng khách đi, có đúng không? (ông bố : đúng).
* Cách đây 5 năm, nhà mình dời mộ ông, nhưng nhầm mộ người khác, vì trẻ con đã nghịch dời bia trên mộ ông sang mộ khác. Vậy là ma nhà người khác vào nhà mình đấy, gây trong nhà lục đục, nhiều khó khăn. Mặt khác, khi cúng nó hưởng, người âm nhà mình không về. Nó hưởng xong, nó về nhà nó độ cho con cháu nhà nó. Có láo không chứ ! (xung quanh nghe cười). Tại người trần hay đào mồ mả mà bốc nhầm là tai hại lắm!

còn tiếp

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: TU TẬP PHÁP NHẪN TRÊN DIỄN ĐÀN
Đã gửi: Thứ 5 15/12/11 11:12 

COLONY đọc thấy bài này của 1 đạo hữu trên diễn đàn rất hay & đúng với tâm nguyện, nay xin post qua bên này mượn lời chia sẽ cùng các đạo hữu.

Là Phật Tử sinh hoạt trên diễn đàn, chúng ta nên trò chuyện với tâm của mình hoàn toàn thanh tịnh. Trao đổi học thuật. Đừng nên tranh đấu hơn thua. Đức Phật có nói: "Chư sở vật tượng, danh vi nhứt thiết pháp". Đó là bao nhiêu vật tượng hết thảy, đều gọi là tất cả pháp

"Pháp" có 3 loại
1. Hữu vi pháp: các thứ (sắc pháp) mà bạn có thể thấy, biết
2. Vô vi pháp: các thứ không thấy, như hương vị âm thanh (thọ tưởng hành)
3. Không hữu vi hay vô vi pháp: các thứ không thấy và không thể thọ tưởng hành. "Thức" là những kỷ niệm trong quá khứ
Trong bài trước, tôi có viết về "Ưng vô sở trụ". Ưng vô sở trụ tức là không có nơi chỗ nào nhứt định cả. Nó là vô sanh vô diệt không có tướng dạng. Nó không phải là hữu vi pháp hay vô vi pháp.

Hôm nay tôi viết ra bài "Vô Sanh Pháp Nhẫn", để nhắc nhở, nhắn riêng cho bản thân, nhắn chung cho các huynh, tỷ

Vô Sanh là thứ không có sanh không có diệt
Nhẫn là nhẫn nhục.
Pháp Nhẫn là pháp nhẫn nhục còn gọi là sân pháp cho các buồn vui sướng khổ thương khét phải trái quấy thấp cao, vvv... Khi sinh hoạt trên diễn đàn, người Phật Tử hiểu đạo phải quán sát cái "SÂN PHÁP" như thế nào? Quý vị nên tuần tự quán sát nó như vậy

Khi quý vị viết một đề tài, quý vị thường bị các bạn khác trả lời và cảm ơn bài viết của quý vị. Đôi khi các bài trả lời không được tế nhị, làm cho quý vị nổi "SÂN" lên. Trước khi đọc bài trả lời, tâm của quý vị hoàn toàn thanh tịnh, trống trơn, không cảm nhận có một chúc tình cảm gì khác lạ. Lúc đó tâm của quý vị trống vắng như hư không. Đến khi đọc bài trả lời, cái "sân" (#1) ấy tự nhiên khởi lên liền. Cái sân đó ở đâu, nó nằm ngay chính tại tâm của quý vị
Lúc đó quý vị muốn đánh vài câu trả lời ngay lập tức. Lúc đó quý vị phải bình tỉnh và suy nghĩ lại cái sân của mình:

- Cái sân của quý vị hiện đang có không có tự thể, tức là cái sân không có ngã. Cái sân đó chỉ là do nhân duyên (bài viết trả lời của thành viên khác) đưa đến, rồi hoà với cái tâm mà sanh ra cái sân
- Cái sân đó không phải từ nơi phương trời nào mà đến
- Khi bình tĩnh lại, cái sân nó đã bị quý vị diệt đi. Vậy cái sân nó đi đâu. Nó cũng chẳng đi về phương trời nào cả.
- Như vậy thì cái sân của quý vị không từ nơi nào đến, và cũng không có chỗ về. Như vậy quý vị thấy rõ ràng, cái sân từ nơi tâm của quý vị mà sanh ra, rồi diệt cũng ở ngay chính trong tâm của quý vị

- Khi cái sân đã diệt rồi, cái sân đó mất hẳn. Cho đến vài tiếng sau, có một thành viên khác post thêm một lời trả lời không được mấy tế nhị. Trong tâm của quý vị lại có thêm một cái "Sân" (#2) khác hiện ra.

Lúc nầy quý vị thường nghĩ rằng, ta đã nhịn một bài viết chỉ trích rồi, nay lại thêm một bài post khác chỉ trích. Ta không còn chịu nhẫn nữa. Ta phải kiềm chế như thế nào? Quý vị nên quán cái sân đó như thế nào ?

Quý vị nên nhớ là cái nhân duyên đưa đến có phần liên hệ, nhưng cái "Sân #1" và cái "Sân #2" hoàn toàn không có liên hệ. Hai cái "Sân" không có biết gì nhau hết. Nó không có hẹn hò nhau. Cái "Sân #1" không có nói với cái "Sân #2" rằng: "Nè ta sanh ra trước rồi vài tiếng nữa ngươi sanh ra sau nhe". Hay nói rằng: "Nè ra diệt trước rồi, người sẽ diệt sau nhe". Và cuối cùng nói: "Nè, sau khi chúng mình bị diệt rồi, ta và ngươi sẽ gặp nhau tại một post khác hay trong 10 phương hư không nhe". Muốn tu "pháp nhẫn" thì quý vị nên biết rằng các sân trước không biết không thấy cái sân pháp sau. Chúng nó cũng không bao giờ hẹn hò nhau. Ta sanh trước và ta sẽ diệt trước. Ngươi sanh sau thì sẽ diệt sau. Những cái sân không có bao giờ hẹn hò gặp lại nhau cả.

Có nghĩa là vô sanh, vô diệt và vô tịch. Tất cả các sân từ nơi tâm sanh ra và khi diệt rồi thì cũng diệt ngay ở tại trong tâm. Sanh ra nơi nào thì quý vị diệt ngay ở nơi đó. Quý vị sẽ hiểu được. Ngoài tâm không có sân, ngoài sân không tâm. Tức là các pháp đều ở trong tâm mà sanh ra, và không có cái pháp nào vượt ra khỏi ngoài tâm mà có. Khi cái sân được sanh ra thì cái sân đó không có nơi đến và khi quý vị diệt cái sân đó rồi thì cái sân đó chẳng có đi về đâu cả. Vì nó không có phương sở cố định, nên nó là vô sở trụ. Mà đã là vô sở trụ thì tức là cái sân vô hình tướng, vô sanh diệt, chẳng đến chẳng đi. Vậy nó là thường trú, mà thường trú ấy tức là giải thoát. Và giải thoát tức "thị chư pháp bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

Nếu quý vị quán cái sân như thế thì đó là quý vị đang chánh quán. Khi quý vị sinh hoạt trên diễn đàn và quý vị quán biết được như thế, hiểu được như thế, ngộ được như thế, chứng được như thế, quý vị sẽ chứng được pháp "Vô Sanh Pháp Nhẫn"

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 9:44 

Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát
Viết bởi Thích Tâm Hiền
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính thưa Chư Vị,

Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên “Khai Thị Chúng Sanh, Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”, với ý nguyện cứu vớt chúng sanh đang bị vùi dập dưới những ngọn sóng Tham-Sân-Si, ngụp lặn trong biển sanh tử luân hồi, hay đang kêu la gào thét trong nhà lửa tam giới đầy bi kịch. Chính vì vậy mà sau khi chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội bồ đề, Ngài đã đem giáo pháp ấy làm phương tiện đả thông bao sự mê mờ của chúng sanh, mở tung bao cánh cửa u minh, đem ánh sáng hạnh phúc cho muôn loài. Ngài là bậc Y Vương vì Ngài tùy bệnh mà cho thuốc. Lòng từ bi của Ngài không phân biệt người giàu sang hay cùng cực. Từ Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cho đến Phệ Xá, Thủ Đà La thuộc giai cấp quyền quý, hay những bậc Quốc Vương thống nhiếp thiên hạ, cho đến những người bần cùng khốn khổ thuộc giai cấp thấp nhất của xã hội Ngài đều hóa độ tất cả những ai có duyên gặp Ngài. Để đối trị với tám vạn bốn ngàn trần lao nghiệp chướng của chúng sanh, Ngài đã có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu học. Trong đó Nhẫn Nhục là pháp môn giúp cho hành giả đoạn trừ lậu hoặc một cách hoàn hảo, diệt trừ ngả chấp một cách rốt ráo và cuối cùng là đưa đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Để có hệ thống và dễ theo dõi, chúng tôi xin trình bày ba phần chính sau:

1.Định nghĩa và phân tích các thành phần của nhẫn nhục
2.Phải nhẫn nhục như thế nào cho đúng pháp
3.Lợi ích của pháp tu nhẫn nhục

Thế nào là Nhẫn nhuc?
Trong kinh Hoa Nghiêm có câu "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chứng môn khai ", nghĩa là "Một niệm sân hận khởi lên là mở cửa cho muôn ngàn nghiệp chướng". Thật vậy, lắm người vì không dằn được cơn tức giận mà gia đình tan nát, chồng vợ chia lìa, thầy trò xa nhau, bạn thân thành thù oán. Trong Phật Học phổ thông (quyển 1, trang 102 của HT. Thích Thiện Hoa), nhẫn nhịn được định nghĩa như sau:
"Nhẫn nhịn là chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng.
Nhục là điều sỉ nhục, điều xấu hổ và làm tổn thương đến lòng tự ái"

Nhẫn gồm có ba bậc: Sanh nhẫn, Pháp nhẫn, và Vô sanh Pháp nhẫn

Sanh nhẫn: hay còn gọi là hữu tình nhẫn, tức là không đem lòng giận dỗi với chúng sanh hữu tình, từ con vật nhỏ cho đến con người chúng ta.
Pháp nhẫn: hay còn gọi là phi tình nhẫn, tức là không đem lòng giận dỗi chúng sanh vô tình như cỏ cây, hoa lá, mưa nắng, nóng lạnh….
Vô sanh Pháp nhẫn: là đức nhẫn tự nhiên của bậc Bồ tát. Các ngài đã nhận chân được (của các Pháp) thật tánh, thật tướng ấy là duyên sanh tính hay vô ngã tính. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tan cho nên các Ngài không còn chấp mình, chấp người. Không còn oán một sinh mạng nào hay chấp một pháp thể nào cả.

Trong quyển "Phật và Thánh chúng" của TT. Minh Tuệ có dẫn một câu chuyện đại ý như sau: Một hôm, Xá Lợi Phất cùng La Hầu La vào thành Vương Xá khất thực thì gặp bọn du côn. Chúng hốt cát bỏ vào bình bát của Xá Lợi Phất và đánh La Hầu La một trận. Vì chưa dứt được phiền não tập khí dồn nén, nên La Hầu La bụm mặt khóc thảm thiết. Sau khi về đến Tịnh xá, Đức Phật hay chuyện gọi La Hầu La đến dạy rằng : "Này La Hầu La, nhẫn nhục là đức hạnh vô cùng cao quý trong các hạnh. Muốn thành Phật, thuận gần Tăng ông phải cố tu hạnh nhẫn nhục. Người biết nhẫn nhục tâm hồn luôn thư thái, an ổn, diệt trừ được cái họa và trí huệ được phát sinh. Trí huệ là gươm báu để ta cắt đứt mọi gốc rể của vô minh, tham si và chấp ngã. Nhẫn nhục là điều kiện làm tuyên dương chánh pháp, là tư lương để sớm được giải thoát luân hồi sanh tử."

Nhẫn gồm có 3 phần: Thân nhẫn, Khẩu nhẫn, và Ý nhẫn.

Thân nhẫn: khi thân đối diện với nghịch cảnh như : nắng mưa, nóng lạnh, đói khát hay bị đánh đập tra khảo làm đau đớn mà chịu đựng không chống cự là thân nhẫn.
Khẩu nhẫn: miệng không thốt ra những lời độc ác khi bị nhục mạ, mắng nhiếc là khẩu nhẫn.
Ý nhẫn: trong tâm không mang ý căm hờn, oán giận hay mưu hại trả thù kẻ hại mình là ý nhẫn.

Nhẫn nhục như thế nào là đúng Pháp:

Hầu hết mọi hành động trong đời thường đều được xây dựng trên bản ngã. Khi thấy mình lép vế, thấp cơ trước đối thủ thì họ thường rút lui. Nhưng lại chờ đợi khi đến thời cơ thì phản công lại hay trả thù. Như Hàn Tín phải chịu nhục chui lòn qua háng Ác Thiển giữa chợ trước mặt mọi người. Câu Tiển phải ngậm đắng nuốt cay nếm phân Ngô Phù Sai để chứng minh lòng trung thành của mình và lấy lòng tin của Ngô Phù Sai. Những nhẫn nhục trên là để chờ ngày phục thù, là chịu đấm ăn xôi chứ không phải là cái Nhẫn trong đạo Phật.

Trong đạo Phật trước hết phải mở rộng lòng từ bi, không muốn cho chúng sanh đau khổ, sân hận mà tranh đấu lẫn nhau. Thứ hai là do ý muốn diệt trừ sân hận, ngã mạn, kêu căn của bản thân mình mà trau dồi từ bi hỷ xả, để thành tựu tứ vô lượng tâm.
Trong luật sa di, mục Hạ thiên oai nghi, nhập chúng đệ tứ (phần phụ a), Phật có dạy: "Bất đắc nhân hiếu sự tranh chấp, nhược đại sự nan nhẫn giả, diệc tu tâm bình khí hòa, dĩ lý luận biện, bất tất tử nhi khứ, động khí phát thô, tức phi hão tăng giả" nghĩa là "Không được nhân việc nhỏ mà tranh chấp, nếu việc lớn khó nhẫn phải giữ tâm ý bình tỉnh ôn hòa, dùng lý lẽ để thảo luận, bằng không từ từ mà đi. Động một chút mà thô tháo thì không phải là tăng sĩ tốt."
Quả thật là vậy, vì người xuất gia đã từ bỏ tất cả, xa lìa song thân, làng xóm họ hàng mà còn ôm lấy chuyện trái ngang thì làm sao làm tăng tốt để quyết tu mà hoằng dương chánh pháp.

Trong sử Phật có dẫn câu chuyện về Ngài Phú Lâu Na xin Phật đi thuyết pháp để độ dân chúng xứ Duna như sau :

Đức Phật hỏi: Này Phú Lâu Na, giả sử ông đến xứ Duna bị người chửi rủa thì ông nghĩ sao và xử lý bằng cách nào?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn tốt đối với con, vì họ chỉ chửi mắng chứ họ chưa dùng gậy để đánh đập con.
Đức Phật lại hỏi: Vậy nếu họ dùng gậy để đánh đập ông thì ông nghĩ sao?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn lòng nhân từ, vì họ chưa đánh chết con.
Đức Phật lại hỏi: Vậy nếu họ dùng gậy đánh đập ông đến chết thì ông nghĩ sao?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ là ân nhân của con vì nhờ họ mà con bỏ đi được bọc da hôi thúi nầy, từ biệt được đời sống đau khổ nầy!
Đức Phật khen: Hay lắm! Ông nhẫn được như thế thì ông có thể qua xứ Duna mà thuyết pháp.
Chẳng bao lâu thì người dân ở xứ Duna đều quay đầu về với Tam Bảo. Đó chính là nhờ cái Nhẫn trong đạo Phật. Cái Nhẫn xuất phát từ lòng từ bi muốn cứu vớt tất cả chúng sanh thoát khỏi cảnh trầm luân sanh tử, nên cho dù thân mình có bị hại, bị giết đi nữa cũng vẫn vui vẻ. Cái Nhẫn đó có sức chuyển hóa đối phương mà không cần bạo lực.
Trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật có dạy: "Bố thí mười phương tuy được phước lớn, nhưng phước đó chẳng bằng nhẫn nhục. Ôm nhẫn tu trí đời đời không oán hận, lòng dạ an nhiên trọn không độc hại. Nhẫn là áo giáp tránh được đao binh, Nhẫn là đại thuyền vượt qua bể khổ, Nhẫn là thuốc hay cứu sống muôn người."
Trong kinh Di Giáo, Đức Phật cũng dạy rằng: "Các ông phải chịu nhẫn đến nổi dù có ai đến cắt tay chân các ông đi nữa, các ông cũng chớ có giận dữ, cũng không được buông lời nói ác mà phải hoan hỷ như không."

Tám loại sức mạnh của bậc đại nhân được Đức Phật nói đến trong kinh Tăng Nhất A Hàm như sau:

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc
Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ
Sức mạnh của người ăn trộm là vủ khí
Sức mạnh của vua chúa là quyền huy
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo
Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa
Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát
Sức mạnh của Sa Môn là Nhẫn Nhục

Vì sự quan trọng của pháp Nhẫn Nhục và để tránh sự bất hòa trong đại chúng, Đức Phật đã dạy pháp Lục Hòa. Sau nầy có người đã phổ thành thơ cho dễ học như sau:

Thân hòa chung ở cùng nhau
Khẩu hòa ăn nói trước sau dịu dàng
Ý hòa thảo luận suy bàn
Kiến hòa đồng giải hoàn toàn hiểu chung
Lợi hòa phân chia khắp cùng
Giới hòa cố giữ, nguyện chung tu từ.

Ngoài thế gian chúng ta cũng từng nghe ông bà cha mẹ dạy rằng: "Một sự nhịn chín sự lành." Vì mấy ai có thể khẳng định mình chưa bao giờ có một lần giận dữ, chưa bao giờ có một lần sân hận. Nếu đã có thì Nhẫn Nhịn là phương pháp sám hối thiết thực nhất. Để có nhẫn nhục ta phải biết xem tất cả mọi người hay nói rộng ra là tất cả các loài chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi đều là bà con quyến thuộc. Coi những điều oan ức là quả mà nhân của nó là một hạt giống mà chính mình đả gieo trong đời quá khứ. Có như vậy người học Phật sẽ không sợ hãi trước hoạn noạn, không chùng bước trước khó khăn. Ngược lại người học Phật phải lấy đó làm bạn đồng hành, lấy đó làm lộ phí đường xa, lấy đó làm tư tưởng trên con đường tìm cầu chân lý.


Tất cả được đúc kết qua "Luận Bảo Vương Tam Muội"

Lấy bệnh khổ làm thuốc thần
Lấy hoạn nạn làm giải thoát
Lấy khúc mắt làm thú vui
Lấy ma quân làm đạo bạn
Lấy khó khăn làm thích thú
Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ
Lấy kẻ chống đối làm nơi ngao du
Lấy thi ân làm đôi dép bỏ
Lấy sự xả lợi làm vinh hoa
Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh

Đây kết tinh của Pháp Nhẫn Nhục. Cho nên để có thể đứng vững trong thế gian mà "Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh" thì điều tiên quyết phải sử dụng thế tấn Nhẫn nhục. Thế tấn ấy là "Bát Phong Suy Bất Động", sẽ rèn luyện một con người bản lãnh, không bị lay động bởi những lời đàm tiếu. Để được như vậy họ phải luôn tranh đấu với chính bản thân mình hơn là tranh đấu với người. Họ khắc khe với mình mà rộng rãi với người, như tinh thần trong Kinh Pháp Cú (số 103):

"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân giặc
Không bằng tự thắng mình
Ấy chiến công vô địch"

Và như để sách tấn khuyên tu cho chúng đệ tử của mình, HT. Giác Nhiên Đăng có viết đoạn thi kệ trong Ánh Nhiên Đăng:

"Con người tu thì chi chi nhịn hết
Nhịn nhịn hoài, nhịn nhịn mãi con ơi
Chẳng phải nhịn có ba lần thôi
Mà nhịn mãi đến khi thành Chánh Giác
Con nhịn được dù thân con có thác
Thác thân con mà tâm được nhẹ nhàng
Cỏi Tây Phương con chắc chắn bước sang
Bằng con đọa, Thầy nguyện ra chịu thế"

Lợi ích của pháp tu Nhẫn Nhục:

Nhờ đọc qua nhiều kinh sách chúng tôi có đúc kết lại nhưng lợi ích của pháp tu Nhẫn nhục như sau:

1.Lửa sân hận được dập tắt, kiêu căng hay ngã mạn chấp thủ được diệt trừ
2.Gia đình không ly tán, bạn hữu không chia ly. Thầy tớ không đoạn tuyệt, thế gian không chiến tranh.
3.Tâm từ được chan chứa, tâm bi được tràn đầy. Tâm hỷ được mênh mông, tâm xả được hết thẩy. Tứ vô lượng tâm luôn được hiện tiền.
Kính thưa Chư huynh đệ, vì thấy công đức lớn lao đó của pháp Nhẫn nhục nên cố nhân đã nhắc nhở với người đời một cách mạnh mẽ rằng:

Nhẫn, Nhẫn, Nhẫn, trái chủ oan gia từ đây dứt
Nhịn, Nhịn, Nhịn, ngàn tai muôn họa đồng thời tiêu
Nín, Nín, Nín, vô hạn thân tiến từ đây được
Thôi công danh cái thế hết tự do

Để kết thúc chúng con xin tóm lại ở hai câu đối của HT. Thích Thiện Siêu để kết thúc bài viết chủ đề Nhẫn nhục:

"Một chút giận, hai chút hờn, lận đận cả đời ri cũng khổ,
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tất dạ rứa mà vui."

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

TK. Thích Tâm Hiền

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 9:49 

Chú ý ! Nhẫn cũng chưa phải là thành PHẬT, vì có nhiều người dùng NHẪN để mưu cầu việc lớn, nhẫn chỉ là diễn đạt tâm thôi nghen, nó có nhiều biến hiện trong pháp nhẫn, nên DIỆU ĐỊNH chỉ đưa ra bài viết để diễn đạt mà thôi, đừng chấp vào đó, tưởng đó sẽ thành PHẬT, sẽ sanh tâm tà kiến thì nguy lắm.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 9:54 

PĐ cũng từng độc thị tp TK: TTH
Đúng là: Thuốc đắng dã tật.
Nhẫn quá cũng chỉ nhu nhược nặng sẽ mất cơi hội thành Phật ( nó là con đẻ của Bi và Si)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 10:08 

Y PHÁP BẤT Y NHÂN : Nghĩa là y theo giáo pháp, chẳng y theo người. Theo cách giải thích thông thường, Phật pháp là chân lý, quý giá và khó gặp, vì thế không nên đối chiếu, tỵ hiềm nơi tư cách người nói pháp để rồi bỏ lỡ cơ hội nghe pháp, tự thân mất sự lợi lạc. Cứ y theo giáo pháp của Phật mà tu hành, người nói ra giáo pháp ấy tốt hay xấu không quan trọng. Tuy nhiên, kinh Đại Bát Niết Bàn nói cụ thể hơn về vấn đề này, y pháp bất y nhân có nghĩa là y chỉ vào Pháp tánh tức Phật tánh, Như Lai vì pháp tánh thường trụ, không y chỉ vào người (nhân) vì là hữu vi tức vô thường, sanh diệt.

Y NGHĨA BẤT Y NGỮ : Nghĩa là y theo nghĩa lý, không y theo ngôn ngữ văn tự. Phật thuyết pháp với ý nghĩa sâu xa nhằm biểu đạt và thể nhập chân lý. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ diễn đạt Trung đạo đệ nhất nghĩa, giúp người tu nhận ra chân lý để hành trì và thân chứng, bởi thế không nên bám víu và quá cố chấp vào văn tự, vì “Ngôn dĩ tải đạo” mà thôi.

Y TRÍ BẤT Y THỨC : Nghĩa là y theo trí tuệ, không y theo vọng thức phân biệt. Chỉ có trí tuệ mới nhận chân được chân lý, thực tại còn vọng thức là thấy biết theo nghiệp, có tính tương đối và đa phần sai lầm. Chỉ có trí tuệ mới đầy đủ công năng quét sạch phiền não, thanh tịnh ba nghiệp. Còn thức dẫu thông minh, nhạy bén và lanh lợi đến đâu đi nữa cũng là sanh diệt, hư vọng và không đủ sức giác quán để chuyển hóa, diệt trừ phiền não. Vì vậy, “Duy tuệ thị nghiệp” chính là phương châm tu học của hàng đệ tử Phật.

Y LIỄU NGHĨA KINH BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA KINH : Nghĩa là y theo các kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo các kinh điển không liễu nghĩa. Theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, kinh điển được Phật tuyên thuyết tùy căn cơ chúng sanh nên có cao thấp, khác biệt. Dù mục tiêu cứu cánh vẫn là giải thoát sanh tử, song trên tinh thần phương tiện thì những kinh điển thuyết minh về con đường thể nhập Nhân thừa, Thiên thừa v.v… được gọi là kinh bất liễu nghĩa (chưa nói hết ý nghĩa thâm diệu, toàn triệt của giáo pháp). Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị giải thoát viên mãn (Phật quả) là kinh liễu nghĩa. Người tu hướng về Vô thượng Bồ đề, tất nhiên phải y cứ vào kinh liễu nghĩa để hành trì nhằm thành tựu giác ngộ rốt ráo, thành Phật.

Việc ứng dụng giáo lý Tứ y vào trong thực tiễn tu tập cực kỳ quan trọng. Chính giáo lý Tứ y đã vạch ra những yếu tố quan trọng cần phải nương tựa, y theo và những vấn đề không nên y cứ, nhằm vượt qua hết thảy chướng ngại để thành tựu Phật quả. Mặt khác, giáo lý Tứ y là một phương tiện thù thắng giúp cho người tu vận dụng giáo pháp một cách thông minh, linh động và nhuần nhuyễn đồng thời khai thác hết những tinh túy, đặc sắc của giáo lý để ứng dụng tu tập. Giáo lý Tứ y cũng chỉ là một phương tiện trong vô vàn phương tiện khác của giáo pháp, vì thế khi ứng dụng giáo lý Tứ y cũng cần sự linh hoạt, nhất là cần phải hiểu một cách chính xác vì :

Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN
LY KINH NHẤT TỰ TỨC ĐỒNG MA THUYẾT

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 13:12 

Y PHÁP BẤT Y NHÂN : Nghĩa là y theo giáo pháp, chẳng y theo người. Theo cách giải thích thông thường, Phật pháp là chân lý, quý giá và khó gặp, vì thế không nên đối chiếu, tỵ hiềm nơi tư cách người nói pháp để rồi bỏ lỡ cơ hội nghe pháp, tự thân mất sự lợi lạc. Cứ y theo giáo pháp của Phật mà tu hành, người nói ra giáo pháp ấy tốt hay xấu không quan trọng. Tuy nhiên, kinh Đại Bát Niết Bàn nói cụ thể hơn về vấn đề này, y pháp bất y nhân có nghĩa là y chỉ vào Pháp tánh tức Phật tánh, Như Lai vì pháp tánh thường trụ, không y chỉ vào người (nhân) vì là hữu vi tức vô thường, sanh diệt.

Y NGHĨA BẤT Y NGỮ : Nghĩa là y theo nghĩa lý, không y theo ngôn ngữ văn tự. Phật thuyết pháp với ý nghĩa sâu xa nhằm biểu đạt và thể nhập chân lý. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ diễn đạt Trung đạo đệ nhất nghĩa, giúp người tu nhận ra chân lý để hành trì và thân chứng, bởi thế không nên bám víu và quá cố chấp vào văn tự, vì “Ngôn dĩ tải đạo” mà thôi.

Y TRÍ BẤT Y THỨC : Nghĩa là y theo trí tuệ, không y theo vọng thức phân biệt. Chỉ có trí tuệ mới nhận chân được chân lý, thực tại còn vọng thức là thấy biết theo nghiệp, có tính tương đối và đa phần sai lầm. Chỉ có trí tuệ mới đầy đủ công năng quét sạch phiền não, thanh tịnh ba nghiệp. Còn thức dẫu thông minh, nhạy bén và lanh lợi đến đâu đi nữa cũng là sanh diệt, hư vọng và không đủ sức giác quán để chuyển hóa, diệt trừ phiền não. Vì vậy, “Duy tuệ thị nghiệp” chính là phương châm tu học của hàng đệ tử Phật.

Y LIỄU NGHĨA KINH BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA KINH : Nghĩa là y theo các kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo các kinh điển không liễu nghĩa. Theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, kinh điển được Phật tuyên thuyết tùy căn cơ chúng sanh nên có cao thấp, khác biệt. Dù mục tiêu cứu cánh vẫn là giải thoát sanh tử, song trên tinh thần phương tiện thì những kinh điển thuyết minh về con đường thể nhập Nhân thừa, Thiên thừa v.v… được gọi là kinh bất liễu nghĩa (chưa nói hết ý nghĩa thâm diệu, toàn triệt của giáo pháp). Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị giải thoát viên mãn (Phật quả) là kinh liễu nghĩa. Người tu hướng về Vô thượng Bồ đề, tất nhiên phải y cứ vào kinh liễu nghĩa để hành trì nhằm thành tựu giác ngộ rốt ráo, thành Phật.

Việc ứng dụng giáo lý Tứ y vào trong thực tiễn tu tập cực kỳ quan trọng. Chính giáo lý Tứ y đã vạch ra những yếu tố quan trọng cần phải nương tựa, y theo và những vấn đề không nên y cứ, nhằm vượt qua hết thảy chướng ngại để thành tựu Phật quả. Mặt khác, giáo lý Tứ y là một phương tiện thù thắng giúp cho người tu vận dụng giáo pháp một cách thông minh, linh động và nhuần nhuyễn đồng thời khai thác hết những tinh túy, đặc sắc của giáo lý để ứng dụng tu tập. Giáo lý Tứ y cũng chỉ là một phương tiện trong vô vàn phương tiện khác của giáo pháp, vì thế khi ứng dụng giáo lý Tứ y cũng cần sự linh hoạt, nhất là cần phải hiểu một cách chính xác vì :

Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN
LY KINH NHẤT TỰ TỨC ĐỒNG MA THUYẾT



Gửi các Đạo Hữu,

COLONY xin cảm ơn tất cả những lời chia sẽ của các đạo hữu : PĐ, DĐ, TM...bản thân COLONY cũng chỉ là một tu sinh đang trong quá trình nghiên cứu tu trì Mật Pháp nói về tuổi đời thì COLONY nhỏ hơn Sư Huynh TM, Sư Tỷ DĐ, còn Huynh PĐ chắc có lẽ là bằng tuổi, nói về kinh nghiệm tu tập Mật Pháp thì COLONY cũng chỉ mới nghiên cứu cũng chỉ hơn 03 năm thôi về cả đường đời & đạo COLONY là hậu bối nên rất cần được sự chia sẽ đóng góp ý kiến của các vị đi trước hầu ngày càng tốt hơn.

COLONY xin được mở rộng lòng từ hoan hỷ đón nhận tất cả những đóng góp & chia sẽ hết sức chân thành và chân tình của các chư đạo hữu dù cho sự chia sẽ đó có chưa đúng hay đúng thì nó không quan trọng bằng sự cảm ngộ của COLONY có được sau khi đọc các bài chia sẽ đó.

Mong muốn rằng diễn đàn luôn là nơi chia sẽ để mục đích cuối cùng là các chư vị đạo hữu đều làm sao chọn cho mình 1 con đường phù hợp với căn cơ của mình mà nhất tâm quyết chí bước đến cùng để quay về với bờ giác tri kiến Phật.

Thanks All

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 16:38 

COLONY

Dù sao bài viết cũng do COLONY đã post ,mà DIỆU ĐỊNH đã đưa ra những điểm sai trong bài viết ,người tu học phải nghiền ngẫm ,không phải tìm vết ,mà tìm những điểm tương đồng trong bài viết ,cái khó của người tu học là người chưa thực chứng thì không thấy điểm nào là đúng ,hay điểm nào là sai ,
Đây là cái nguy hiểm ,khi mình chưa thực nếm nó ,chỉ nghe người khác diễn đạt mùi vị thì cho là hay thì thật là nguy hiểm ,ngay cái bài của DIỆU ĐỊNH post cũng chỉ là cái thấy của tâm phàm chưa thực chứng ,nhưng họ diễn đạt đúng ở từng bực sơ thiền quán mà thôi.
Đó không cao siêu lắm đâu,thực chứng của thiền quán ,diễn đạt cái thấy trên d đ là còn rờ mó thấy biết ,còn cái thực chứng của vô vi là không nói được luôn ,thành VÔ NGÔN ,vì nó là tuệ giác.
Qua bài colony cám ơn thành viên ,DIỆU ĐỊNH cảm nhận trong lòng của colony chưa thực ,lòng không cam chịu đâu ,tâm chưa xã,nhưng DIỆU ĐỊNH cũng phải đành khuyên colony phải quán sát tâm ,phải thấy khía cạnh của cái thấy ,rồi dùng tâm xã ,dù chỉ là cái xã của người bình thường ,đừng để đọng trong lòng sự buồn nghen NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 17:13 

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ, an lạc.
Bạn đang xem trang 1 / 11 trang [ Đã tìm thấy 259 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh