Hôm nay, Thứ 3 02/06/20 10:42

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 31 kết quả

Người gửi Nội dung

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Thế Nào Là Mật Tông
Đã gửi: Thứ 6 10/05/13 16:19 

Thế Nào Là Mật Tông

Đây là một pháp tu bí mật của Phật giáo, dạy về cách “bắt ấn”, “trì chú” v.v... Pháp tu nầy có tính chất liễu nghĩa (trọn đủ), căn cứ vào nơi tâm pháp bí truyền.

Trong các pháp môn mà Phật đã chỉ dạy cho chúng sanh nương theo tu tập trong thời buổi “Mạt Pháp” sau nầy, hành môn nào cũng đều có một tôn chỉ thù thắng vi diệu.
Ví dụ như :
· Bên Tịnh Độ lấy tôn chỉ :
“Một đời vãng sanh, được bất thối chuyển” làm tông.
· Bên Thiền Tông lấy tôn chỉ :
“Chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật” làm tông.
· Bên Hoa Nghiêm lấy tôn chỉ :
“Lìa thế gian, nhập pháp giới” làm tông.
· Bên Pháp Hoa lấy tôn chỉ :
“Phế huyền, hiển thật” làm tông.
Và riêng :
· Bên Mật Tông lấy tôn chỉ:
“Tam mật tương ưng, tức thân thành Phật” làm tông v.v...
Tam mật là: Thân mật - Khẩu mật - Ý mật

Tóm lại, pháp môn tuy nhiều và tôn chỉ khác nhau, nhưng tựu trung rồi cũng quy về một mục đích duy nhất là giải thoát khỏi sanh tử luân hồi mà thôi.

Nay xin nói sơ qua về “Mật Tông”. Gọi là “Mật”, vì đây là một hành môn thuộc về “Bí-Mật Pháp-Môn”, chuyên dạy về cách trì Chú, bắt Ấn, nên phải có Sư thừa (tức người truyền dạy).

1. Sao gọi là Trì ?
TRÌ có nghĩa là giữ hoài (trì giữ) không cho mất, không cho quên.
2. Sao gọi là Chú ?
CHÚ nói cho đủ thì là Thần Chú, là lời bí mật. Nay để cho tiện, nên gọi tắt là “Chú”,
Có người không hiểu, nói rằng :
Thần Chú là của Thần đạo thuyết ra. Đó là trật, là sai lầm.
· Chữ THẦN nơi đây có nghĩa là “thần thông, linh thông, biến hoá”.
· Chữ CHÚ thì còn được gọi là CHÂN NGÔN.
Những câu Thần Chú của chư Phật và Bồ Tát thuyết ra có oai lực và công đức không thể nghĩ bàn. Ta phải nên phân biệt giữa TRÌ Chú và NIỆM Chú.
· TRÌ Chú :
Tức là 1 câu Chú phải được lập đi lập lại liên tục từ vài trăm biến (trăm lần) trở lên, thì mới được gọi là trì. Còn chỉ đọc 3 câu, 7 câu, thì là niệm, chứ không được gọi là trì.
· TỤNG Chú hoặc NIỆM Chú :
Tức là chỉ lướt qua có một lần mà thôi. Chẳng hạn như “Thập Chú Lăng Nghiêm” sáng được tụng lướt qua có 1 lần thôi, chứ không có tụng lần thứ 2, thứ 3.
Thần Chú tiếng Phạn gọi là Dhàrani (Đà ra ni), tiếng Hán dịch là Tổng Trì, tiếng Anh gọi là Mantra.Vì bao gồm vô lượng pháp, nên gọi là “Tổng”, vì giữ chứa vô lượng nghĩa, nên gọi là “Trì”. Thần Chú mang ý nghĩa bao trùm (tổng) tất cả Pháp, gìn giữ (trì) tư tưởng cao thượng từ vô lượng diệu nghĩa của nội tâm. Câu "Thần Chú" là cả một “Tâm Ý” của chư Phật, Bồ Tát đối với chúng sanh.

Ý nghĩa của Thần Chú thì cực kỳ bí mật, không ai hiểu được, ngoại trừ bổn tôn (vị chủ) của Thần Chú đó và chư Phật mới biết được mà thôi.

Có ba loại Ðà ra ni, đó là : Một chữ, nhiều chữ, và không chữ (vô tự).

Thần Chú của Phật khác với của Tà đạo. Chú của Phật có công năng phá tà lập chánh, tiêu diệt nghiệp ác, phá được vọng tưởng tà quấy, phát sanh trí huệ, tăng trưởng phước đức căn lành, ngăn trừ tội lỗi, cứu mình độ người thoát khỏi ma nạn, nhất là cứu độ cho vong linh được siêu thoát một cách tuyệt diệu và hy hữu, đưa người từ cõi Phàm đến cõi Thánh nhanh chóng, gần gũi cùng cảm ứng đạo giao với Phật, Bồ Tát, Thánh Thần và thành tựu được đạo quả.

Còn Thần Chú của Tà đạo chỉ làm hại người, hại vật, gieo tai họa cho người, chết phải đọa vào 3 ác đạo.
Thần Chú tuy không có thể giải nghĩa ra được, nhưng nếu chí tâm, thành kính thọ trì, thì sẽ được công hiệu kỳ diệu khó thể nghĩ bàn. Cũng giống như người uống nước, cảm giác ấm hay lạnh thì chỉ người đó tự biết – còn người khác thì không cách chi biết được, cũng không hiểu hoặc không tin được. Phần công hiệu của việc trì Chú cũng vậy, chỉ riêng người chuyên trì Chú mới biết rõ nó hiệu nghiệm như thế nào mà thôi !
Thường thì một câu Thần Chú hay thâu gồm hết một bộ Kinh. Vậy cũng đủ hiểu hiệu lực, công đức của câu Thần Chú mà Phật nói ra không thể nghĩ bàn.
Thí dụ như :

1. Bộ Kinh ĐẠI BÁT NHÃ gồm có 600 quyển, mà chỉ có một câu Thần Chú gom hết 600 cuốn Đại Bát Nhã. Đó là câu :
Yết đế, yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
2. Kinh ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI kết lại hết 85 câu Chú :
Án, tất điện đô mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.
3. Nguyên cuốn Kinh CHUẨN ĐỀ kết lại câu :
Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.
4. Kinh LĂNG NGHIÊM gồm có 9 cuốn, kết lại trong câu :
Án, a na lệ tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn hổ hồng đô lô ung phấn, ta bà ha.
5. Kinh PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ RA NI v.v… thì cũng y như vậy.
Lại nữa, phải nên biết :
Câu CHÂN NGÔN (Thần Chú) đây thuộc về “bất tư nghì thần lực”.
Còn :

Câu NIỆM PHẬT thì thuộc về “bất tư nghì công đức”.
Cả hai, một MẬT, một TỊNH đồng chung nguồn gốc mà sanh ra, đều có năng lực đưa hành giả về nơi Tịnh Độ (nói chung) và vãng sanh về cõi CỰC LẠC (nói riêng), chứ không phải :
Trì Chú thì không được vãng sanh. Chỉ chuyên Niệm Phật mới được vãng sanh !

Nay Tổ Sư Thích Thiền Tâm đã phối hợp cả hai phần (MẬT và TỊNH) lại thì sự kiến hiệu càng tăng thêm gấp bội. Cái tâm “lực” đưa tới Cực Lạc sẽ nhanh chóng, an lành không bị trắc trở.
Như VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI Ðà ra ni,
· Tụng một biến thì tất cả các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác thảy đều tiêu diệt.
· Tụng 3 biến, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.
· Tụng 7 biến thì dù cho hàng thiện nam, tín nữ tại gia phạm giới căn bản, hàng Tăng Ni phạm tội tứ khí, bát khí và các trọng giới khác, đều trở lại được giới phẩm thanh tịnh.
Hành giả khi kết Ấn tụng trì Thần Chú nầy liền được chư PHẬT phóng quang tụ nơi đỉnh đầu và được các Ngài nhiếp thọ.

Tụng đến 1 vạn biến (10.000 lần), tâm Bồ Đề (tâm Phật) hiển hiện trong thân không quên mất.
Người trì niệm dần dần thể nhập vào tịnh tâm tròn sáng, trong sạch, mát mẻ như trăng thu, tiêu tan hết tất cả phiền não. Khi lâm chung sẽ thấy đức A DI ĐÀ Như Lai, cùng với vô lượng trăm ngàn ức chúng BỒ TÁT đến vây quanh, an ủi, bao che và tiếp dẫn. Ðương nhân liền được sanh về một trong 9 phẩm sen ở cõi Cực Lạc. (Xin xem Kinh Niệm Phật Ba La Mật).

Nói về LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN:
Um, Mani Padmé Hùm

(Hán dịch theo Phạm-âm là : “Án ma ni bát di hồng ) tuy chỉ có sáu chữ ngắn ngủi thôi, nhưng oai lực lớn không thể nghĩ bàn (tương đương với oai lực của chú Đại Bi), vì cả 2 chú (Đại Bi và Lục Tự Đại Minh) nầy là một sự “tổng hợp” của đức Quán Thế Âm Bồ tát cùng của rất nhiều chư Phật, đã mang hết cả “tâm ý” của Bồ Tát và của chư Phật, giúp cho chúng sanh giải tất cả nạn, tiêu ác nghiệp, dứt trừ bệnh nghiệp, được sự vô úy (không còn sợ sệt trước mọi hoàn cảnh) và được tất cả sự mong cầu (tương đương với “phước, đức” của mình, nhưng phải chánh đáng).

Oai lực của chú ĐẠI BI và chú LỤC TỰ có thể dời non, lấp biển, chuyển nắng hạn thành mưa, chuyển gió bão thành nắng ấm, có khả năng đưa người ra khỏi địa ngục, và đưa người lên cõi Trời, cõi Phật, thoát khỏi 3 ác đạo.

Thì ngoài “Bổn Tôn” (tức là vị chủ) của câu Thần Chú, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và chư Phật ra, không ai hiểu được công năng và nghĩa lý ảo bí của nó (kể luôn tất cả các đại Bồ Tát khác ở 10 phương cũng không hiểu thấu được)...

Có số người không hiểu rõ điều trên, nên đã phí công dịch giải ra nghĩa ý, vô tình làm mất đi phần công lực của Chú. Nhất là lại dùng tâm “phân biệt” (chú nầy đúng, chú kia sai, chú nầy mạnh, chú kia yếu, chú nầy dài chú kia ít. v.v…) mà trì Chú, thành ra trì Chú hoài mà vẫn không có kết quả gì mấy.

Từ trước đến nay, các hàng Phật Tử Trung Hoa, Việt Nam, v.v... khi đọc tụng Thần Chú đều có chút phần hơi trại, so với Phạn Âm (tức âm của chữ Sanskrit, Bắc Ấn Độ), nhưng việc ấy không quan ngại gì, miễn là dùng “tâm chí thành, tin tưởng” khi trì niệm, thì cũng vẫn được hiệu nghiệm như thường.

Trong Kinh “Ðại Bi”, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát có dạy :
“Người nào đối với Ðà-Ra-Ni nầy sanh lòng nghi không tin, phải biết kẻ ấy sẽ vĩnh viễn mất sự lợi ích...”
Cho nên, muốn được hiệu nghiệm trên đường tu mật tông thì điều bí quyết là chớ nên khởi lòng nghi ngờ, phân biệt đúng sai, hoặc hiểu nghĩa hay không hiểu nghĩa, khinh báng chi cả. Dù cho lòng “nghi” ấy nhỏ như hạt bụi đi chăng nữa, quyết cũng “chẳng nên có”. Cứ một lòng chặt dạ y theo đó mà hành trì thì được gọi là trì Chú “đúng như pháp” vậy, vì chư Phật, Bồ Tát vốn không bao giờ vọng ngữ (nói lời dối gạt).

May mắn cho chúng ta trong kiếp này còn gặp được chánh pháp, còn học được chánh pháp, được minh sư thiện hữu chỉ dạy cho phương cách trì Chú để giải nghiệp tội. Nếu vẫn còn cố chấp không chịu tu, thì thử hỏi kiếp sau cái chấp sẽ còn nặng như thế nào ? Mà đã cố chấp thì khó mà có được trí huệ để làm được những điều tốt lành. Kiếp nầy đã có tâm bỏn xẻn, nghi kỵ rồi, kiếp sau hết phước, sẽ ra sao ?

Cho nên, rất mong quý bạn đồng tu phải cố gắng lên, tinh tấn trì Chú, niệm Phật, và phải “tận tâm, tận lực, tận cường”, tu hành để chắc thêm phần vãng sanh cho mình, thì mới mong thoát ly sanh tử luân hồi, thành tựu được đạo quả. Làm được như vậy mới không phụ lấy chính mình, và trả được ơn sinh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ nhiều đời nhiều kiếp, đúng với câu :

Nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng. Trước độ mình, sau độ người, và độ khắp thế nhân.”

Chúng ta ai cũng muốn lo lắng cho cha mẹ mình luôn được đầy đủ phần vật chất. Nhưng, dù làm được trọn vẹn mấy đi nữa, cũng chỉ là trả “Tiểu Hiếu” mà thôi, vì đó chỉ là giúp cho Cha Mẹ tạm thời bớt khổ, chứ không cách chi giúp cho Cha Mẹ thoát khỏi sự khổ của sanh tử luân hồi. Chi bằng, nếu ta nỗ lực tinh tấn tu hành theo pháp môn Mật Tịnh nầy, lại biết khuyên Cha Mẹ, gia đình, bạn bè v.v… tu hành như mình, thì sẽ được vãng sanh về Cực Lạc trở thành bậc Bồ Tát sau khi mạng chung. Chừng đó thì quay lại cõi này để độ hết Cha Mẹ nhiều đời nhiều kiếp v.v… trả “Đại Hiếu” !

Chúng ta đang trong thời kỳ Tháp Tự Kiên Cố bước qua thời kỳ Đấu Tranh Kiên Cố; Pháp diệt, Ma cường (thịnh). Tâm chúng sanh ngày càng thêm xấu ác. Phật đã huyền ký rằng :

Trong thời kỳ Mạt Pháp nầy, tà sư “phá pháp” nhiều như cát sông Hằng (Kinh Lăng Nghiêm), ngoài ra còn có 96 ngoại đạo, tà giáo tìm đủ mọi cách để tiêu diệt Phật Giáo nữa, không cho một ai tu thành đạo cả. Tương lai sẽ không còn in kinh, thuyết chánh Pháp nữa. Hiện nay chúng ta cũng đã nhận thấy biết rồi, Phật Pháp đang bị phá hoại (tiêu diệt) một cách tinh vi và khéo léo đến nổi ít có ai nhận diện ra được.
Nó khảo đủ mọi cách hết :

· Nội khảo, ngoại khảo, thuận khảo, nghịch khảo…
· Nó làm cho tâm tánh con người không còn NHÂN TÌNH nữa (càng ngày càng ác hiểm).

Chúng ta khó thể nào có được tâm lực, chánh tâm, chánh trí, và chánh kiến. Hiện nay, tâm của con người bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Nào là tham lam, cố chấp, tranh đua, sân hận, dâm dật, v.v… vì thế, cho nên dẫn đến cả thế giới đang lầm than trong đau khổ, tai nạn, binh đao khói lửa, chiến tranh sớm muộn sẽ bùng nổ trong nay mai.

Muốn biết trong tâm của chúng sanh như thế nào, thì cứ nhìn ra ngoài thế giới hiện nay ra sao sẽ biết liền. Bên trong tâm con người thì đầy phiền não, bên ngoài thì quá nhiều cám dỗ. Xã hội sao không động loạn cho được?

Ma quỷ dựa nhập đầy đường, không bỏ sót một ai, chúng vô từng nhà, từng quán chợ, đi vào tâm thức của từng người (trong khi thức, cũng như trong lúc ngủ, mà nó biết mặt, biết tên, biết nhà v.v…) quấy phá khắp nơi trên thế giới. Nhà nhà khói đen bao phủ. Người người khổ sầu, ai oán…nên chiêu cảm đến bão lụt, khói lửa cháy lớn, thất nghiệp, đói khổ lan tràn, nhà tan cửa nát, mất nhà mất việc làm, bệnh tật ngày càng nhiều khó chữa trị v.v…

Cũng vì do từ nơi TÂM xấu ác của con người mà phát sanh ra hết cả. Nếu như mọi người đều có cái tâm tốt, tâm an, tâm đầy lòng bác ái, thì gia đình sẽ được vui vẻ, thuận hòa, thế giới sẽ an bình, phồn thịnh. Dù cho Ma quỷ dữ cách mấy cũng chẳng làm gì được, đôi khi họ còn kính phục mà chịu quy mạng lễ !
ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH.

Mong sao chúng ta mau buông bỏ những thói hư tật xấu, cố chấp của mình đi, mà sám hối lo tu sửa (từ xấu ra tốt), buông bỏ những việc vừa ý hay không vừa ý, đúng với sai v.v… để chuyển hướng nạn tai sắp xảy ra, hầu được an lành sống đến ngày trăm tuổi.

Sư Tổ (Đại Ninh) THÍCH THIỀN TÂM đã thấy biết trước là sau nầy đa phần các Phật tử nói riêng và mọi người nói chung, đều bị tà ma dựa, nhập và bị khống chế, ít có ai tu mà được đầu thai lại làm người, thì đừng nói chi đến việc giải thoát về cõi Trời, cõi Phật.

Với lòng từ bi quảng đại, Ngài mới khai mở ra pháp tu MẬT TỊNH, soạn ra những Thần Chú từ trong MẬT TẠNG (của Đại Tạng Kinh), hầu cứu độ các Phật tử có thiện căn (và chân thật tu hành) thoát khỏi Ma nạn, để giữ vững được đường tu, mới bảo đảm được vãng sanh về nơi Cực Lạc Tịnh Độ.
Ai thật tâm tu hành bắt buộc phải kiêm thêm TRÌ CHÚ để hộ thân và tâm không bị khảo đảo mà lạc vào lưới của Ma, lấp đi con đường vãng sanh vậy.
Như đã nói ở trên,

· NIỆM PHẬT được bất tư nghì CÔNG ĐỨC
· TRÌ CHÚ được bất tư nghì THẦN LỰC (cái lực nầy sẽ giúp cho ta thoát nạn khổ)
Nếu chỉ chuyên NIỆM PHẬT mà không có TRÌ CHÚ đi kèm, thì cũng giống như người đang bị đủ thứ bệnh tật, kẻ ác bao vây tứ phương, ngày đêm chẳng được yên, mò mẫm, lê lết mà đi, không may gặp phải giặc cướp (Ma) ồ ạt xông đến bắt, chừng đó thì :

· Không có TÂM LỰC (không biết dụng tâm)
· Không có SỨC LỰC (để chống trả)
· Không cóTRÍ LỰC (để phân biệt chánh tà)
· Không có chút THẦN LỰC(nào để đề kháng) cả
Lúc đó sợ quá, không còn nhớ niệm Phật nữa, á khẩu đứng tim mà chết. Vậy thần thức có còn được yên để về Cực Lạc không ?

Từ bi phải có trí huệ đi kèm. Niệm Phật phải có Thần Chú đi kèm (hai cái nầy không thể thiếu một).
Những người không có chánh tâm, không chân thật tu hành cần cầu giải thoát, hoặc có cái TÂM NGHI NGỜ, PHÂN BIỆT, XẤU, ÁC v.v… thì khó thể trì Chú cho được, sẽ dễ bị “tẩu hỏa nhập ma” (bởi vì Thần Chú đó là tâm ý của Phật nên thuần “CHÁNH”, nếu như đem cái tâm “TÀ” mà trì Chú thì không thể nào cảm ứng hoặc thành tựu được là như vậy). Cho nên, trong thời kỳ pháp diệt tận này, rất ít có người “dám” trì Chú, hoặc biết về Ấn Chú của Phật gia một cách tỏ tường.

Thậm chí có nhiều người sợ không dám trì Chú, lại còn phỉ báng và ngăn cấm người trì Chú nữa. Nhưng họ không hiểu rằng :

Chính Đức PHẬT xưa kia cũng đã dùng Thần Chú để hàng phục Ma quân, và cứu đệ tử của Ngài ra khỏi Ma nạn!

Ta hãy thử hỏi :
Người TU (trụ trì ở trong chùa) đã dùng Thần Chú gì để sái tịnh Chùa, sái tịnh hằng ngày cho bản thân (mỗi khi ăn, uống, tắm gội), cúng vong linh, cầu siêu, phát tang, xả tang, triệu hồn, thí thực, phóng sanh, cho đến công phu mỗi sáng v.v... ? Hỡi ôi ! Có được mấy người chịu TIN, chịu trì Chú, và thi hành đúng theo như điều luật của nhà Phật?

Hiện nay, đa phần Phật tử chỉ thích tụng Kinh, niệm Phật cầu PHƯỚC qua ngày, hoặc thích ngồi Thiền hơn là Trì Chú (tức là tu theo MẬT TÔNG chân chánh của PHẬT) vậy.

Muốn biết thể giới Quy Y Tam Bảo của mình còn hay mất, hãy xem lại cái tâm của mình (có làm những điều xấu ác, có gần gũi, hoặc thân cận với kẻ ác không) thì sẽ biết ngay.
Như là :
· Tham tiền, tham danh, tham lợi.
· Việc xấu nào mà không làm.
· Thị phi nào mà không nói.
· Không nói “có”, có nói “không”.
· Nói xấu Phật, nói xấu người tốt.
· Thường hay sân giận, tâm tánh ích kỷ, bỏn xẻn.
· Thường ganh tỵ, đố kỵ
· Tranh chấp phải quấy, thấp cao.
· Cố chấp, hận thù không xả.
· Tranh đấu không biết mệt.
· Giành giựt cái tốt về mình.
· Không biết ơn nghĩa, liêm sỉ.
· Nhục mạ người chân tu.
· Khinh sư diệt tổ.
· Giết Thầy, hại bạn.
· Dẫn dắt Phật tử tu sai lầm (không giống đường lối của Phật, của Tổ sư muốn dạy).
Đó chỉ là lược ra sơ sơ ở trên cũng đủ thấy Tam Quy, Ngũ Giới đã là khó giữ nổi, thì nói chi đến Bồ Tát giới, Tỳ Kheo giới !!!Thần Thánh nào tiếp tục gia hộ cho mình đây ?!
Thân hôi thì người đời lánh xa.
Tâm hôi thì thần thánh lánh xa.
Nếu như đã mất hết thể giới Quy Y rồi, thì tự động 25 vị Thần theo hộ cho mình cũng sẽ bỏ đi luôn. Chừng đó, Ma quỷ sẽ dễ dàng nhào vô làm hại, bắt hồn, bắt xác mà thôi...

Có rất nhiều Phật tử chưa hiểu thấu, nên nghĩ rằng :
Tu Tịnh Độ (niệm Phật) rất dễ, người (chánh hoặc tà) nào cũng tu được. Còn tu theo Mật Tông thì rất khó (trì Chú hoài cũng không thấy có kết quả gì cả),và người mà trì Chú sẽ khó thành được đạo quả v.v… !
Hoặc là :
Muốn về Cực Lạc mau, thì phải “chuyên” niệm Phật, không nên trì Chú. Vì tu hai pháp môn (Mật Tịnh) một lượt sẽ bị chi phối, không được nhất tâm, không được vãng sanh!

Cho nên, hiện nay hầu hết Phật tử đã từng tu theo pháp môn MẬT TỊNH đều từ từ bỏ trì Chú (như Chú Hộ Thân, Lăng Nghiêm, Đại Bi, Bát Nhã, Vãng Sanh v.v…), cho đến bỏ đắp mền Tỳ Lô luôn nữa.
Phải biết rõ thêm rằng, ba môn vô lậu học: Giới, Định, Huệ tượng trưng cho Giác, Chánh, Tịnh, và lại cũng tượng trưng cho Tam Bảo : Phật, Pháp, Tăng.

· Phật nghĩa là “Giác Ngộ”.
· Pháp tức là “Chánh Pháp”.
· Tăng mang ý nghĩa “Thanh Tịnh”.
Tu học Phật Pháp không ngoài ba môn Giác, Chánh, Tịnh nầy. Đây cũng ví như ba cửa Tam Quan trước cổng chùa, vào được một cửa là vào được nhà của Như Lai.

Như Thiền Tông thì chủ trương thấy tánh thành Phật.
Đây là theo môn “Giác” mà tu hành.
Giáo Tông thì chủ trương nghiên cứu Kinh Giáo.
Đây là theo môn “Chánh” mà tu hành.
Mật Tông và Tịnh Độ đều giống nhau, vì đòi hỏi phải có tâm “Thanh Tịnh”.

Đây là theo môn “Tịnh”mà tu hành. Ngoài ra, Tịnh Độ và Mật Tông đều là pháp môn “Nhị Lực”. Nghĩa là ngoài sức mình tu ra (tự lực), còn được nhờ vào “Từ lực” (tha lực) bổn tôn của Thần Chú và “Tâm lực” của chư Phật gia trì.

Vì thế :
Hai môn “Mật” và “Tịnh” song tu thì rất là “hạp” căn.
Còn ngược lại :
Hai môn “Thiền” và “Tịnh” song tu, thì không hạp (căn) được, trừ khi là người Thượng Thượng căn, vì một bên theo Không môn (Thiền), còn một bên theo Hữu môn (Tịnh).
Cho nên, Mật Tông và Tịnh Độ đều khó như nhau và cũng đều dễ như nhau.

Tại sao dễ ?
Dễ vì câu "A Di Đà Phật" hay Chú "Um Brum Hùm", thì ai cũng trì được.
Nhưng tại sao khó ?
Khó bởi vì cả hai đòi hỏi người Trì (Chú), hoặc Niệm (Phật) đều phải có được cái tâm trong sáng, thì mới có thể phát sinh ra được “tâm lực”, rồi từ tâm lực đó dần dần mới có được “thần lực.”
Chính cái “tự lực” này mới phụ với “tha lực” của Đức Phật A Di Đà mà đưa mình về Cực Lạc được.

Nhờ có Tâm lực trong sáng mới bắt được làn sóng của chư Phật, Bồ Tát, mới cảm ứng đạo giao, mới giải nạn Thiên tai, và được tiếp dẫn vãng sanh.

Còn như, nếu dùng cái tâm phân biệt, tâm phan duyên, tâm cố chấp, tâm xấu ác mà niệm Phật thì sẽ bắt nhằm phải làn sóng của Ma, khiến cho Ma Quỷ kéo đến đầy nhà, bệnh tật kinh niên, khảo đảo không ngừng, gia đình bất an, sở cầu không được như ý v.v... Dù niệm Phật bể cổ cũng không được vãng sanh, trái lại còn làm “oan gia” trong cửa đạo (vì vô tình đã tiếp tay với kẻ ác tiêu diệt Phật Pháp mà ngay chính mình không hề hay biết, cứ tưởng rằng mình đang làm Phật sự!)

Phải biết :
Cả hai, một MẬT, một TỊNH đồng chung nguồn gốc mà sanh ra. Nay phối hợp cả hai phần (MẬT và TỊNH nầy) lại thì sự thành công càng tăng thêm gấp bội.

Trong bộ Luận Đại Trí Độ, Ngài Cưu Ma La Thập có giảng rõ :
· Trì Chú có nghĩa là gìn giữ và bảo vệ.
· Gìn giữ là gom góp các pháp lành không cho tan mất.
· Bảo vệ là ngăn ngừa tâm bất thiện không cho phát sanh.
· Trì Chú là giúp tăng trưởng Huệ lực, Thần lực.
· Duy trì tâm lực, bảo tồn chân khí
(như người bị mất hết chân khí sẽ bị bệnh hoài, thân tâm thường mệt mỏi, ngày càng kiệt sức, trí huệ mê mờ, không còn tự chủ, dễ bị Ma quỷ dựa nhập).
· Người trì Chú có được chánh tâm, chánh ý.
· Thống nhiếp và duy trì vô lượng Phật Pháp, khiến không bao giờ hoại diệt.
Khi trì Chú, tay nên kết Ấn, miệng trì Chú (trì cho ra tiếng), mắt nhìn tượng Phật, tâm quán (nhớ tưởng) chữ Rảm (chủng tử biểu tượng cho bản thể của chư Phật).

Pháp môn Trì Chú giúp cho người tu “phát sanh trí huệ” để kiểm soát được hành động, lời nói, ý nghĩ và phân biệt được rõ ràng đâu tà, đâu chánh. Như vậy thì hành động, lời nói và ý nghĩ sẽ trở nên trong sáng, vọng niệm tự nhiên không khởi. Không khởi niệm phân biệt, giữ tâm trong sáng thì mới phát sinh ra được “đạo lực” (cái lực nầy mới có khả năng độ mình, độ người giúp giải được nạn Thiên tai và được giải thoát).

Cách niệm Phật, trì Chú lớn tiếng nầy gọi là “Bố Ma” (làm cho ma khiếp sợ mà bỏ chạy), nhiếp được thân, khẩu, ý trong sáng và có được những lợi ích đặc biệt sau đây:
1. Diệt được sự buồn ngủ, hôn trầm
2. Tâm không tán loạn
3. Chuyện đời chẳng lọt vào tai
4. Có cặp mắt sáng
5. Tiếng nói rổn rảng, mạnh mẽ, cứng chắc, đầy thần lực
6. Có tướng đi mạnh mẽ, oai phong
7. Lời nói thẳng thắn, mạnh dạn
8. Tâm thần cương trực, không nhút nhát, không sợ sệt, xông pha vô trận hàng phục ma quân
9. Dõng mãnh, tinh tấn
10. Tâm lực, thần lực phát sanh ra cực mạnh
11. Bệnh nghiệp được tiêu trừ
12. Tứ Đại điều hoà
13. Tâm thể an nhiên
14. Khi trì Chú phát ra vòng hào quang bao phủ quanh thân người trì Chú
15. Bùa ngải, độc trùng, gió độc không xâm phạm đến thân mình được
16. Thiên Ma phải nể sợ
17. Vong linh vất vưởng chung quanh nghe được âm thanh của Thần Chú đều được siêu thoát
18. Côn trùng, chuột, kiến, gián, nhện, bọ, tự động đi mất, hoặc được thoát kiếp hết
19. Những vong linh hữu duyên, và cửu huyền cũng được siêu thoát
20. Thiên Long Hộ Pháp luôn ở bên cạnh hộ trì, an ủi, nhắc nhở, chỉ dạy v.v...
21. Tất cả sở cầu đều được như ý
22. Danh tiếng từ từ vang khắp mười phương
23. Tam Muội hiện ra trước mắt
24. Mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát đều vui mừng thọ ký
25. Lâm chung chánh niệm, biết trước ngày giờ, vãng sanh Cực Lạc quốc.
Tu tập theo pháp môn Mật Tịnh tức là “luyện” cho thân tâm được thuần thục, nó đòi hỏi người tu một sự tha thiết, quyết tâm xả bỏ những tâm xấu, luôn mong cầu được giải thoát, chứ không phải là "có căn" (Mật) mới tu được. Nếu căn cơ cao, tâm đã tịnh, thì cần chi phải tu (niệm Phật, hay Trì Chú) ?
Ở phần trước đã có nói:

Muốn đạt được kết quả tốt đẹp trên đường tu mật tông thì điều tiên quyết là chớ nên khởi lòng nghi ngờ, khinh báng chi cả. Dù cho lòng “nghi”, “chấp” ấy nhỏ như hạt bụi đi chăng nữa, quyết cũng chẳng nên có. Cứ một lòng chặc dạ y theo đó mà hành trì thì được gọi là “đúng như pháp” vậy! Vì chư Phật, Bồ Tát quyết không bao giờ vọng ngữ (nói lời dối gạt)!

Cho nên, muốn bảo đảm được vãng sanh trong kiếp nầy, song song với niệm Phật ta cần phải kiêm thêm phần Trì Chú, mới giải được sự khảo đảo (khi oan gia) kéo đến, và chắc thêm phần vãng sanh cho chính mình.
Hai chữ MẬT TỊNH nầy hàm ý là:

Người tu phải TRÌ CHÚ (Mật) trước, rồi mới NIỆM PHẬT (Tịnh) sau. Tại sao ? Vì khi trì Chú sẽ tạo ra cái LỰC (để giúp cho thân nhẹ nhàng, Khẩu thanh tịnh, Ý trong sáng), như vậy khi NIỆM PHẬT mới được trọn vẹn công đức. Nếu luôn hành trì như vậy, giữ tâm trong sáng như vậy suốt đời thì chắc chắn sẽ được vãng sanh, vĩnh viễn thoát ly sanh tử luân hồi.

(Nên xem Kinh “Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương” để biết rõ thêm về công năng của Thần Chú, sự lợi ích của Mền Tỳ Lô, mặc áo Chú, đeo Chú, vẽ Chú, và mật hạnh của người thọ Bồ Tát giới (để cứu độ chúng sanh) và công đức về việc “trích máu tả Kinh” v.v…)

Tóm lại :
Muốn HÓA GIẢI ĐƯỢC THIÊN TAI và THOÁT ĐƯỢC MA NẠN, bình yên tu hành cho đến ngày VÃNG SANH, bắt buộc phải hành trì Pháp môn Mật Tinh song tu.

NIỆM PHẬT nhưng trong Tâm không rời tiếng Chú, lúc nào cũng vang rền bên tai (trong nhà nên mở máy trì Chú suốt ngày, đêm)
Câu thần Chú “thay cho tiếng lệnh của chư Phật và Bồ Tát”, nên có công năng giải nghiệp nạn không thể nghĩ bàn, giúp HỘ THÂN KHÔNG BỊ NẠN TAI (nước, lửa, bão lụt, kẻ ác làm hại, bùa ếm, ma quỷ, không làm hại được đến thân của người đang trì Chú nầy).

Hễ “hóa giải” được cho mình bình an, thì sẽ giúp cho những người chung quanh cũng được bình an, thoát nạn. Tất cả Thiên Tai, chiến tranh, khói lửa đều do TÂM của chúng sanh chiêu cảm ra hết cả.
Vì chúng sanh thường hay có :
· TÂM SÂN dữ tợn, nên chiêu cảm ra LỬA dữ.
· TÂM MONG CẦU, THAM LAM, nên chiêu cảm ra MƯA, BÃO LỤT, SÓNG THẦN
· TÂM SÁT, ẾM HẠI NGƯỜI, nên chiêu cảm ra CHIẾN TRANH, KHÓI LỬA
· TÂM SI MÊ, nên chiêu cảm ra GIÓ SOÁY, GIÓ BÃO, và trùng trùng điệp điệp những cái khổ đến, sẽ không giản dị, không dễ dàng đối phó.
Bởi vì tất cả Thiên Tai gây ra đều do nơi TÂM ÁC của chúng sanh. Bởi Tâm chúng sanh càng ác, càng dữ, càng có nhiều sáng kiến, nhiều thủ đoạn, càng phát minh, thì hậu quả sẽ càng “đập lại” chúng sanh không thương dị.
"10 phương chư Phật và hằng hà sa số Bồ Tát đang hiện thân bao phủ cõi Ta bà (của chúng ta), nhưng không làm sao ngăn chận được làn sóng thần đen kịt đang ồ ạt kéo đến một cách dữ tợn…”
Muốn HÓA GIẢI được Thiên tai, thì cũng phải từ nơi TÂM “thiện” của chúng sanh mà TU SỬA, SÁM HỐI, TRÌ CHÚ, và ngưng làm ác.
Rồi :
· Dùng “LỰC THIỆN” trong tâm mình “quán” vang xa ra để hóa giải những điều hung ác.
· Dùng “LỰC THANH TỊNH” từ nơi tâm để hóa giải những sự biến động.
Ngồi tại nhà TRÌ CHÚ vẫn giải được nạn tai cho chúng sanh.
Nên hiểu rằng, Phật chỉ độ người hữu duyên. Chư Phật, Bồ Tát chỉ giúp cho những người có căn lành TU SỬA và HOÁN CHUYỂN TÂM TÁNH, thường xuyên kiểm tâm, hành trì điều thiện; như vậy các Ngài mới có thể giải nạn tai được.

Cho nên Phật, Bồ Tát không thể nào CỨU ĐƯỢC NHỮNG CHÚNG SANH CÓ TÂM ÁC.
Cũng như Ma Vương, không thể nào đứng giữa hư không để “tiêu diệt” được hết những chúng sanh có tâm chí thành, tu hành chân chánh !
· Ma Vương không hại được người có tâm lành, tu hành chân chánh.
· Phật, Bồ Tát không cứu được người có cái Ác Tâm.
· Phật và Ma Vương cũng đều nương theo tâm thiện, tâm ác của chúng sanh mà thôi.
BỒ TÁT cùng với chư PHẬT khắp 10 phương đều nghe, đều thấy hết những tiếng kêu cứu, những lời than khổ của chúng sanh, nhưng không cách nào cứu được họ, vì phải do TÂM CỦA CHÚNG SANH đó THA THIẾT, THẬT LÒNG MUỐN CỨU.

Những người thật lòng kêu cứu, đều đã được Bồ Tát ra tay cứu độ cho họ được tai qua nạn khổ rồi (số chúng sanh được cứu thì rất là ít oi). Còn số người đang và sẽ bị nạn tai, khói lửa trong tương lai nhiều không kể xiết. Xác người chết như bèo trôi sông vậy.
Chư Phật, Bồ Tát chỉ đành biết lấy mắt nhìn mà rơi lệ. Vì quý Ngài không thể cứu độ chúng sanh có những TÂM quá ác độc được.

Chiếu đúng theo luật thì gieo NHÂN nào, hái QUẢ đó.
Cho nên, mỗi khi Thiên Tai đến với mình, thì đừng nên trách Trời, Phật chi cả cho mang thêm tội, mà hãy dùng 2 tay đập vào đầu mặt mà chửi mắng mình “sao mầy ác quá vậy, để bây giờ phải trả quả ác, không ai cứu được cả !”

Lành, dữ, thiện, ác, siêu, đọa, họa, phước đều do nơi TÂM cả. Hễ giữ được cái Tâm vui vẻ, thì trong nhà ảnh hưởng sự mát mẻ, nhẹ nhàng, công ăn việc làm yên ổn. Còn như trong Tâm mang nhiều phiền não, chấp nhất, bực bội thì trong nhà bị khí đen bao phủ, nặng nề, bệnh hoạn, công ăn việc làm bị trắc trở, vợ chồng gây gổ v.v… TÂM của một người đã ảnh hưởng như vậy rồi, thì nói chi đến nhiều cái Tâm ÁC cộng lại, sẽ ảnh hưởng như thế nào?

Hễ TÂM chúng sanh an bình, vui vẻ thì cả thế giới cũng sẽ an lành, bình yên, mưa hòa, gió thuận. Điều này được chứng minh qua một câu chuyện tại Hoa Thịnh Đốn có “4 ngàn cái TÂM an bình” :

Cách đây 20 năm về trước, Tạp chí Khoa học của Mỹ đã tuyên bố một nghiên cứu thí nghiệm xã hội học lần đầu tiên được thực hiện tại Đại Học Maryland, thuộc vùng Washington DC. Mùa hè vào năm 1993, có 4 ngàn người từ khắp thế giới (81 quốc gia) ghi danh tham dự khóa TU “THIỀN MẬT” (Thiền định của sự TRÌ CHÚ) suốt 2 tháng. Họ dạy cho 4 ngàn người nầy phương cách TRÌ CHÚ để giúp cho ĐỊNH cái TÂM của họ, hầu có thể làm giảm “ẢNH HƯỞNG” và “NGUỘI” bớt đi những việc ác, hành hung, giết người, hãm hiếp, cướp giựt, bạo lực và kẻ tội phạm v.v… đã xảy ra cực mạnh tại Washington, DC trong thời điểm đó.
Kết quả trong 2 tháng là: Họ đã phát hiện ra và cho thấy rằng: tỷ lệ tội phạm, bạo lực trong đó bao gồm luôn việc giết người và hãm hiếp – đã được giảm xuống 23% trong thời gian thử nghiệm cái ĐỊNH TÂM của 4000 người.

Nhà Vật lý học Tiến Sĩ Hagelin đã từng nghiên cứu trước đây cho biết rằng :
“Những kỹ thuật Thiền Định và Trì Chú giúp tạo ra một trạng thái “thư giãn” sâu sắc. TÂM LỰC của 4000 người tham gia tạo ra một làn sóng AN BÌNH, NHẸ NHÀNG và DỊU MÁT đã ảnh hưởng đến môi trường TRẬT TỰ chung quanh và ảnh hưởng luôn đến những người khác (mà không hề biết và không tham dự trong cuộc thử nghiệm này).Tâm Lực của 4000 người này hợp lại đã tạo ra động tác “HIỀN HÒA” chiêu cảm và ảnh hưởng đến “khí hậu” cho đến số “phạm nhân” trong xã hội cũng được “yên lành”. Kết quả cho thấy sự cảm ứng của lãnh vực về “Tâm Thức” (Học) mạnh không thể nghĩ bàn.”

Những sự chết chóc, khổ nạn, bạo lực gây ra bởi sự “căng thẳng” cực mạnh từ trong “Cộng TÂM” của chúng sanh mà ra.

Người đã chết rồi, cũng còn mang nghiệp cũ, đầu thai lại tạo thêm nghiệp mới, và cộng thêm nghiệp chung của môi trường trong xã hội. 3 cái nghiệp cộng lại quá nặng, nên rất khó tìm cầu giải thoát cho được.
Các nhà khoa học gia như Edison và Marconi cũng đã chứng minh cho ta thấy những làn sóng (của điện, radio) có khả năng chuyên chở ánh sáng và âm thanh, thì Tâm lực của chúng sanh cũng vậy. Mỗi khi phát lên tiếng trì Chú (với tâm trong sáng), lập tức hào quang của tâm Chú này phát sáng ra chuyên chở cái Tâm lực của người đang trì Chú, và người trì Chú đó cũng đang chuyên chở hết Tâm ý của BỒ TÁT, và luôn cả Tâm lực của PHẬT, lập tức vang ra xa, HÓA GIẢI hết tất cả biến động chung quanh, tai qua, nạn khỏi, mọi việc bình an.

Tóm lại, Phật tử tu Mật tông cần phải nên biết rằng :
Đức QUÁN THẾ ÂM Bồ Tát cùng với chư Phật vì thương chúng sanh, nên đã ban cho chúng ta một kho tàng vô tận, mà chúng sanh không biết xử dụng đúng chỗ, đúng như pháp, nên không được lợi ích và cảm ứng chi cả.

Người đời không hiểu rõ công năng biến hóa thù thắng và thần lực cao siêu vô cùng tận của Chú, nên đã khởi tâm tà, lạm dụng “Ấn, Chú” của Phật, của Bồ Tát (để khống chế người, hãm hại người lành, làm trái ngược với “Tâm từ bi” và khắc với “Tâm ý” của Phật, của Bồ Tát), thì nó sẽ phá tác rất nhiều, hậu quả (đọa đày) cũng sẽ vô cùng tận !
Phải cẩn thận điều nầy.

Người đời có quá nhiều thứác tâm, tham, sân lẫy lừng và thường mong cầu (toàn những sự việc mà không thể nào ban cho được), lại lười biếng không chịu tự bản thân tìm cầu học hỏi chi cả, không chịu tu tập, không chịu hành trì đúng theo chánh pháp (của Phật dạy), không chịu bố thí, không chịu làm những điều thiện, chỉ muốn tất cả tiền tài, danh lợi và mọi sự ham ưa phải rơi vào hết trong tay của họ mà thôi. Họ đã không sợ chết, không sợ tội, không sợ đọa đày, không sợ hậu quả nên thẳng tay giết hại người nhiều không kể xiết chỉ vì một chút hư danh!

Nhiều người không biết rằng:
Tất cả thần Chú của Phật của Bồ Tát rất là diệu dụng, xem như là một câu thần chú “như ý”, có công năng cứu người ra khỏi tất cả sự khổ nạn, đưa người thoát khỏi cảnh đọa đày, giải thoát ra khỏi 3 cõi, 6 đường, chứ không thể làm trái ngược lại theo những tâm ác của người đời được, sẽ bị quật ngược trở lại phá tác ngay; thì kết quả sẽ không tốt. Hễ khởi những tâm ý xấu, ác muốn hại người như thế nào, thì sẽ chuốc lấy hậu quả y như vậy.

“Ngậm máu phun người dơ miệng mình,” cũng giống như ngước mặt lên trời mà phun nước bọt vậy.
Vì thế, người trì chú Hộ thân, chú Đại Bi, chú Lục Tự Đại Minh và những chú khác (của chư Phật, chư Bồ Tát) bắt buộc phải có lòng thành kính, tâm ý phải thanh tịnh và trong sạch để trì Chú, chỉ được mong cầu những điều tốt đẹp cho người, ích lợi cho người, cứu độ cho người thoát khỏi cảnh khổ, chướng nghiệp khảo đảo, nạn tai đang xảy ra khắp nơi, nếu có tâm ý tốt tạo phương tiện và dẫn dắt người tu tập theo chánh pháp v.v… thì mới xử dụng Ấn Chú được cho bất kỳ một trường hợp nào (không có mang lỗi).

Tà nhơn thuyết chánh pháp, chánh pháp biến di tà,
Chánh nhơn thuyết tà pháp, tà pháp xu bội chánh.

Khi trì Chú, phải giữ lòng trong sạch, hạnh Bồ Tát, lòng Từ Bi phát khởi thì mới có thể phát huy được TÂM LỰC, THẦN LỰC sẽ bay xa ngàn dặm, tâm ý trong sáng của người đang trì chú đến tận 10 phương chư Phật, sẽ được hằng hà sa số chư Phật, chư đại Bồ Tát phóng quang chiếu sáng bao bọc cho người đó, thì đâu sợ gì không được cảm ứng đạo giao, đạo lực ngày càng thêm thăng tiến, sở cầu luôn được như ý. Mọi việc từ trong gia đình (thân tộc) cho đến việc ngoài đời cũng đều được tốt đẹp hết cả.

Lòng “thương” của chư Phật, của đức QUÁN THẾ ÂM Bồ tát (nói riêng) và chư đại Bồ Tát ở khắp 10 phương (nói chung) đối với chúng sanh vô bờ bến.

Quý Ngài luôn cảm nhận được tất cả tâm ý của chúng sanh, nhưng TÂM của chúng sanh không được trong sạch, Ý(tưởng) rất là không lành và luôn bị che lấp bởi những điều sái quấy, sân hận lẫy lừng, tham danh, đoạt lợi, hại người lành một cách dữ tợn, do đó mà không thể nào giao cảm được với chư Phật, chư Bồ Tát.
Quý Ngài chỉ biết yên lặng đứng nhìn mà rơi lệ, Bồ Tát kề cận với một chúng sanh đang đau khổ, đang trong hoạn nạn, mà không thể nào giao cảm được cả, cũng không thể nào cứu độ được cho những chúng sanh đó.
Bồ Tát rất đau lòng vì muốn giảng giải, muốn chỉ rõ cho chúng sanh hiểu cũng rất khó, vì lời dạy của Bồ Tát không thể nào lọt hết vào tai của chúng sanh, nên phải mượn tay người để cứu người là như vậy.

Cho nên người mà chuyên tâm, nhất tâm trì Chú, xem như có Bồ Tát đang đứng trước mặt, mà chân thành sám hối và tu sửa thân tâm được trong sạch, thì sẽ đạt được cái “Tâm lực, Trí lực, Thần lực” cực mạnh, sẽ được cảm ứng đạo giao với PHẬT, với BỒ TÁT. Điều này không có gì là khó tin, khó hiểu cả.
Mây tan vầng nguyệt rạng, nước cạn trái châu bày, Tâm trong sáng thì Phật hiện. Thiên tai cũng không nổi lên được.

Một khi tâm (căng thẳng) của chúng sanh lắng xuống, tâm được AN rồi, sẽ phát khởi được cái Tâm “từ bi hỷ xả” (không còn ác, tham lam, sân hận, đố kỵ, ganh tỵ và chấp nhứt nữa). Mọi người sẽ trở thành một cái máy phát trật tự và hòa bình trong xã hội, an vui mãi mãi.

Nếu chúng sanh tập phát khởi “thiện tâm” nhiều hơn, nhất dạ hành trì pháp môn “Mật Tông Tịnh Độ”(song tu)do cố Hòa Thượng THÍCH THIỀN TÂM khai sáng, và thực hành y theo lời dạy của Quán Thế Âm Bồ Tát, thì sẽ giải được Thiên Tai, vàbảo đảm cho bước đường “giải thoát”cùng“vãng sanh”ngay trong đời này.
Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT tác đại chứng minh
Trân trọng,
Bồ Tát Giới Bảo Đăng
(cẩn bút)




 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 22/02/14 13:35 

Giữ mãi sự giàu có và thành đạt dưới góc độ tâm linh

Trong một lần đi làm lễ tạ tất niên cho một doanh nghiệp tư nhân cuối năm 2013, sau khi lễ xong thì vào phần thụ lộc đãi họ hàng ,nhân viên và các quan khách, tôi ngồi bên cạnh một quan khách được thân chủ mời tới dự, sau một loạt những câu hỏi thắc mắc về chuyện tâm linh thì gần cuối buổi cậu ấy có hỏi tôi một câu hỏi như thế này mà nếu là những năm trước thì chắc tôi không biết trả lời sao , nhưng giờ thì tôi có thể tạm thời trả lời câu hỏi của cậu ấy theo góc độ tâm linh mà tôi hiểu biết trong thời điểm này, đây là câu hỏi của cậu ấy :
Anh Minh Thiên cho em hỏi, em đã chứng kiến nhiều người đã hoặc đang giàu có thành đạt nhưng không biết tại sao một thời gian sau lại bị lụn bại thê thảm, bị phá sản ,thậm chí có người còn tan nhà nát cửa thân hoại mạng vong, vậy nguyên nhân tại đâu và làm thế nào để có thể đã giàu có thành đạt rồi thì vẫn giữ được mãi, vậy theo anh thì nên làm thế nào ?

Sau khi nghe câu hỏi của cậu ấy thì tôi lặng người suy nghĩ một lúc để sắp xếp lại kiến thức bởi vì phạm trù câu hỏi nó quá rộng, bao quát tất cả mọi thành phần chúng sinh trong xã hội hiện tại đang là những người thành đạt, làm sao để có thể chỉ trong một câu trả lời mà có thể lý giải được gần hết nguyên nhân hiện tượng và đưa ra cách xử lý mà phần lớn mọi người đều có thể chấp nhận đó là sự thật và nên làm theo , và cái chính là nó phải thật sự đem lại hiệu quả cho nhiều người nếu tuân thủ đúng theo như vậy , và đây là câu trả lời của tôi :
Em à, theo như những gì tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc thăng trầm của những người thành đạt vì chữ thành đạt đây nó bao gồm tất cả những người giàu có, chức quyền và danh vị trong các lĩnh vực đời sống , kết hợp tất cả những điều mắt thấy tai nghe , những bài học kinh nghiệm từ hiệu quả rút ra sau mỗi lần hành pháp cho các thân chủ thì tôi có một tổng kết như sau trong việc có thể giữ mãi được sự thành đạt cho một con người từ khi bắt đầu giàu có thành đạt cho đến khi từ giã cõi đời dưới góc độ tâm linh :
Một con người khi sinh ra trên cõi đời này để có thể giàu có thành đạt thì đi theo những cách giàu như sau :
1, sinh ra đã giàu do tổ tiên để lại của cải và nghề nghiệp.
2, Giàu do gặp vận may, ví dụ như trúng số, hay tự nhiên mua cái gì đó rẻ bán ra lại đắt mà người ta vẫn đổ xô đến, hoặc tự nhiên được thừa kế, hoặc đất đai rơi vào lúc sốt đất như dân vùng Quảng bá ..vv..
3, giàu do đầu tư công sức trí tuệ mở mang kinh doanh đúng và hợp thời điểm , ở đây tôi không đề cập đến vấn đề làm ăn theo kiểu xã hội đen như cướp bóc , buôn ma túy, cờ bạc sát phạt , lừa đảo chiếm dụng.
Nhưng trong 100 trường hợp giàu có ở trên thì sự trường tồn không còn được bao nhiêu người , và không kéo dài được đến 1 đời người nó chỉ đi theo vận phát trong chu kỳ 10 năm rồi tàn lụi , thậm chí có người còn xuống dốc thê thảm , thân bại danh liệt mất vợ chồng mất chồng, nhà cửa tan nát,cuối đời đi ăn xin ăn mày theo đúng cảnh lên voi xuống chó, bên cạnh đó còn các nguyên nhân khác cũng tự nhiên cướp đi tài sản , sinh mạng cùng gia quyến của đương sự là nạn lửa, nạn nước, gió bão thiên tai, nạn công quyền, nạn cướp bóc trộm đạo, bệnh tật và vợ con người làm phá tán tài sản theo như đức phật tôn kính đã thuyết trong nhiều kinh điển, và cái nhìn của dương trần thì mỗi người lý giải theo một cách, nhưng dưới góc độ tâm linh thì tôi lý giải theo như sự hiểu biết của mình như sau :
Theo thuyết nhà phật thì con người kiếp đời này thành người giàu có thành đạt bởi vì do một kiếp lâu xa trong quá khứ họ đã làm nhiều việc thiện , đời này họ được hưởng báo nghiệp đó đến ngày đã trổ hoa kết trái.
Nhưng con người trong một kiếp đời không chỉ thiện nghiệp trổ ra mà ác nghiệp từ nhiều kiếp đời trước cũng song hành, ác nghiệp này là những việc đốt nhà cướp của, hãm hiếp phụ nữ, xúc phạm tam bảo ..vv…có điều lúc này nó đang bị thiện nghiệp lấn át nên tiềm phục chờ thời cơ trỗi dậy giống như xác ướp Ai cập.
Khi thiện nghiệp phát thì con người được sinh ra trong một gia đình quyền chức, giàu có , có nhiều cửa hàng đất đai ông cha để lại.
Khi thiện nghiệp phát thì con người có một trí óc sáng suốt. họ biết đánh giá được diễn biến thị trường và mạo hiểm đầu tư vào những doanh vụ lớn, rồi họ thành công và trở thành triệu phú. Đang lúc hưng thịnh đương sự rất sáng suốt, đoán gì đúng nấy, vạch ra kế hoạch đánh đâu trúng đó,có khi lúc bé họ học hành dốt nát , ăn nói vấp váp đầy lưỡi trong cổ họng, nhưng đến khi phúc báo hiện ra đương sự trở thành người khôn ngoan lạ lùng, biết tính toán đủ chuyện làm ăn, biết nói chuyện đi vào lòng người.
Không những chỉ đánh giá được tiềm năng thị trường mà đương sự còn có khả năng nhận định được tâm lý của người xung quanh và các đối thủ và đương sự luôn chủ động đi trước những người kia một bước.
Thật vậy do những thiện nghiệp trong quá khứ trổ ra nên quả báo đời này dành cho đương sự là sự giàu có, là sự thành công trên thế gian, ở đây trực giác trở thành duyên trung gian thúc đẩy đương sự đi đến thành công ,thậm chí trong giai đoạn này có những người vô sư vô sách chẳng biết gì đến thờ cúng phật thánh, chẳng nghĩ gì đến mồ mả hương khói ông bà tổ tiên , thậm chí có kẻ còn làm nhiều điều ác nhưng vận thế vẫn lên vùn vụt như diều gặp gió làm cho những người khác khi nhìn lại và so sánh sự cố gắng của mình với ông bà tổ tiên thần thánh thì lại chạnh lòng than thở sao ông trời đối xử không công bằng.

.Nhưng như tôi đã nói ở trên , trong một đời người,thiện nghiệp nó song hành cùng ác nghiệp, phước báo đời này nó cũng giống như cái bình ắc quy , đầy hay vơi là do thiện nghiệp đời trước làm nhiều hay ít, do ta xài đúng cách hay lãng phí, khi thiện nghiệp đã sắp hết thì ác nghiệp bắt đầu trổ ra, cũng cái đầu đó trí óc đó nhưng bây giờ phán đoán lung tung, hành xử bất thường, trực giác biến mất ,đương sự không phán đoán nổi tình thế phải đương đầu rồi phải chịu cảnh lụn bại dần, càng giãy càng chết, cố quá thành quá cố, ví dụ như cuộc đầu tư sai lầm vào thị trường bất động sản, chứng khoán và vàng miếng đã làm nhiều người lâm vào cảnh cùng đường , có người không chịu nối điều tiếng thị phi áp lực cuộc sống dẫn đến quyên sinh để lại vợ con bơ vơ giữa dòng đời , , và đương sự chấp nhận chết vì trong tư duy họ nghĩ nó là tận số rồi.

Vậy phải chăng đó có phải là số phận không , và con người có phải đành nhắm mắt thúc thủ chịu số phận lúc thì đưa mình lên cao tận mây xanh rồi lại hạ mình xuống theo chiều thê thảm thế không, hoàn toàn không phải như vậy, con người vẫn có 30 phần trăm lái được số phận cuộc đời mình ngay khi mình đang hưng thịnh để nó tốt đẹp mãi mãi , thế nên người hiểu đạo thì không tự cao bởi sự giàu có của mình hay sự khôn ngoan của mình lúc đương thời vì họ biết rằng đây là kết quả của thiện nghiệp trong quá khứ, nhưng cái thiện nghiệp này cũng rất mong manh , dù đang thành đạt họ vẫn cẩn thận tránh điều ác, làm điều thiện để giữ gìn phước nghiệp bền bỉ, giữ gìn phước nghiệp đây gồm có giữ trong thân và giữ ngoài thân, giữ trong thân là họ tu trì một pháp môn nào đó của nhà phật ví dụ như mật chú Chuẩn đề phù hợp với tất cả mọi căn cơ và lứa tuổi để dần hóa giải các nghiệp xấu ác trong các kiếp đời lâu xa ngay tại thời điểm này đang chờ thời cơ trỗi dậy và kích phát thiện nghiệp , giữ ngoài thân là họ tìm đến những người thầy có khả năng hành pháp và kiến thức về tâm linh đến giúp đỡ cho họ trong việc nuôi giữ thiện nghiệp và phúc báo, và bây giờ mới đến phần trả lời chính của tôi cho câu hỏi của em.
Ngoại trừ những người sinh ra đã rơi vào gia đình giàu có, còn một con người bình thường khi công danh sự nghiệp giàu có phát lên ngoài việc do thiện nghiệp từ kiếp đời trước đến thời kỳ trổ ra phúc báo , còn do các yếu tố khác phụ trợ như mồ mả ông cha đến ngày phát, do long mạch đất ở phát và cát tinh năm đó lại chiếu vào đúng các phương vị tốt trong gia trạch phù hợp với bản mệnh đương sự xét theo góc độ phong thủy , vậy là đắc cả âm phần và dương trạch dẫn đến phát ra của cải tiền bạc chức quyền địa vị , đương sự bắt đầu tính đến việc xây nhà dựng cửa, mua xe, ngày xưa thì họ chỉ biết mua sắm tài sản nhưng bây giờ thông tin mở rộng ai cũng khôn ngoan lên và biết là mình giàu lên là do những nguyên nhân trên.

vậy là họ sẽ tìm đến một vị thầy tâm linh xin giúp đỡ để làm sao giữ mãi được phần thiện nghiệp và hóa giải phần ác nghiệp đang chực chờ sẵn , vậy người thầy sẽ phải làm những gì để có thể giúp họ được như ý nguyện , người thầy buộc phải có một kiến thức tâm linh rộng lớn và năng lực hành pháp để xử lý công việc cho họ gồm các phần như sau :
Phần bên ngoài thân :
1,xử lý về đất đai dương trạch.
2, xử lý về phần mồ mả âm trạch và lễ bái.
Phần bên trong thân :
3,Giúp họ tu tập để hóa giải nghiệp chướng tồn đọng và giữ mãi thiện nghiệp phước báo.
Bây giờ ta sẽ vào phần chi tiết :
1 xử lý đất đai dương trạch :
A, Người thầy sẽ căn cứ trên sơ đồ nhà ở , cửa hàng hoặc văn phòng công ty mà đương sự đang sở hữu để xác định bát trạch mà phân chia các khu vực sinh hoạt hoặc làm việc cho đương sự theo cung tuổi của họ theo kiến thức phong thủy, đồng thời trấn yểm các phẩm vật phong thủy theo sơ đồ huyền không phi tinh mỗi năm lại thay đổi phương hướng gây họa tác phúc cho đương sự, việc trấn yểm này sẽ mang lại sinh vượng khí phúc đức cho đương sự, và giảm thiểu hung sát do các sao hung gây ra, tất nhiên là các vật phẩm phong thủy đó phải qua công đoạn trì chú gia trì vào thì nó mới có hiệu lực.
B, Tiến hành tôn lư hương phụng tự thổ công, gia tiên, tổ cô , thần tài thổ địa cho đương sự theo pháp mật tông và phù hợp với phong tục thờ cúng của dân tộc Việt sao cho thần linh và gia tiên ngự tại bản gia, bản công ty hoặc cửa hàng phát huy hết linh lực phù trì bảo hộ cho đương sự.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1265

2, xử lý về phần mồ mả âm trạch và lễ bái :
A,Nếu đương sự có văn phòng , cửa hàng hay công ty riêng thì các nơi đó đều có các chư vị thần linh và chư vị ông bà tiền chủ ngự trị , người thầy sẽ phải đầu năm đến lễ bái trình cáo khai vận tân niên và cuối năm lễ tạ tất niên cho đương sự để làm hài lòng chư vị ở đó .

B,Vận thế con người hàng năm thì theo thuyết nhà phật sẽ phải chịu sự ảnh hưởng chi phối của chư vị Bắc đẩu thất tinh như lai, hoặc cửu tinh theo như thuyết của đạo giáo , vì thế người thầy sẽ phải sử dụng đến đàn pháp dâng sao giải hạn cho đương sự hoặc là bằng phương pháp mật tông hoặc khoa pháp phổ thông tùy theo mức độ hạn nặng nhẹ của đương sự và gia quyến mỗi khi năm mới đến.

C,Trong gia trung nhà ai thì cũng đều có ít hay nhiều các vong linh tổ tiên đang bị đọa đầy chốn âm giới và được bổ sung thêm những người mới mất hàng năm, mỗi năm người thầy sẽ phải đến gia trung đương sự lập pháp đàn cầu siêu phổ độ cho những vong linh này vào những dịp như rằm tháng bảy , việc đó sẽ giúp bớt đi những người đang rên siết trong chốn khổ đau có thể tạo ra tác động ảnh hưởng xấu đến vận thế của gia chủ trên dương trần , các vong linh đó một khi đã tốt đẹp thì lại quay ngược lại độ cho đương sự và gia quyến.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1973

D, Bất kỳ thân chủ nào dù nam hay nữ khi giàu có lên đều là một phần nhờ đến tác động của mồ mả ông cha đến ngày phát, như vị chủ doanh nghiệp tư nhân trên được hưởng sự phù trì của mộ cụ tứ đại khi phần mộ này bắt đầu phát, ông ta biết được điều này bởi vì khi tôi gọi vong cụ tứ đại lên, cụ ấy đã nói cho thân chủ biết.
Để có thể giúp cho phần mộ ấy phát huy linh lực mãi thì mỗi năm tôi lại đến làm lễ tạ mộ cho chủ doanh nghiệp tư nhân trên một lần và sử dụng đến uy lực của mật chú giúp cho vượng khí của phần mộ luôn phát huy linh lực phù trì cho tử tôn.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1974&p=7725#p7725

E,Và đã là con người thì cũng nên có lòng đại bi xót thương đến đồng loại âm dương, ngoài việc lo cho thần linh và tổ tiên nhà mình, thì việc bố thí từ thiện cho các trại trẻ mồ côi, các nhà tế bần dưỡng lão, cúng dường vào các đình chùa đang bị xuống cấp và các pháp hội cầu siêu cho chúng sinh đang bị đày đọa tội khổ nơi âm giới , cùng phóng sinh là việc rất cần thiết, đây là việc mà tôi hay khuyến khích đương sự làm , nếu làm được việc này là đương sự đang ghi điểm trong mắt thánh thần và sẽ được sự ủng hộ phù trì của họ, chắc chắn đời sau đương sự lại vẫn được hưởng quả báo tốt đẹp như đời này, có khi còn hơn nữa.

3, phần xử lý bên trong :
Nhưng như tôi đã nói ở phần trên, đương sự ngoài việc nhờ đến một vị thầy tâm linh giúp đỡ về việc thờ cúng lễ bái , an trấn trạch, dâng sao giải hạn , trấn yểm phong thủy phi tinh hàng năm , chỉ dẫn cách ứng xử với nhân tình thế thái , đương sự còn phải tu hành để tự giải nghiệp ác và tạo phúc cho mình, vì không có một thầy giỏi nào có thể cứu chữa được cho một gia chủ đã hết phúc.
Nhưng phần lớn những người thành đạt ấy họ lại rất bận rộn đủ thứ, nào là tiếp khách, tính việc, đi công tác và du lịch đó đây, giao lưu quan hệ suốt cả ngày chẳng còn chút xíu thời gian nào cho tu hành, bảo ngồi uống rượu tiếp khách nói chuyện nhăng cuội trên trời dưới đất ấy thì mấy tiếng cũng không chán, còn nếu dành độ một tiếng tu hành thì chắc là hơi khó, nghe thầy thuyết giảng thì cũng gật gù, nhưng đến khi làm thì cái khó cái ngại nó ở đâu cứ xuất hiện, vì thế tôi mới suy nghĩ tinh giản bài pháp tu mật chú Chuẩn đề thật ngắn gọn, chỉ cần đương sự mỗi ngày bỏ ra 15 phút thôi, quá ngắn để đọc thần chú , và đi đứng nằm ngồi bất cứ đâu, trên xe dưới thuyền bất cứ thời gian nào đều thầm trì tụng được , kiến tha lâu cũng đầy tổ, dưới uy lực của thần chú gia trì , nghiệp ác của họ giảm dần, các chủng tử nhà phật dần ăn sâu và tác động vào não bộ, tác động vào tâm tính của đương sự, rồi dần dần đương sự bớt ăn chơi, bớt rượu chè lúc nào không biết, bắt đầu nghiêm túc chú tâm tu hành hồi hướng cho ông bà tổ tiên, oan gia trái chủ và mười phương pháp giới chúng sinh , rồi trí huệ về phật pháp khai mở, đương sự bắt đầu có cái nhìn khác về nhân sinh quan, biết thương xót đến những con người khác đang trong cảnh khốn khó, tâm đã bắt đầu từ bi hỷ xả, vì thế khi mà vận thế đương sự xuống đến thấp nhất theo chu kỳ thăng giáng thí dụ như năm đó gặp sao Thái Bạch quét sạch cửa nhà chẳng hạn , thì trực giác họ vẫn được uy lực của thần chú và những việc thiện đã làm cho thế gian trong thời điểm hiện tại cùng các pháp hành của người thầy cho âm phần và dương trạch sẽ phát huy tác dụng phù trợ giúp cho đương sự hành xử tỉnh táo trên con đường sự nghiệp, và nhất là không bị oan gia trái chủ thừa cơ đến đòi nợ tác động vào não bộ tạo ra những việc làm phi luân lý đạo đức dẫn đến chịu búa rìu pháp luật , nói ví dụ như vụ Nguyễn Đức Nghĩa và nhiều vụ cha giết con vợ giết chồng trong thời gian gần đây là những ví dụ điển hình về việc oan gia trái chủ tác động vào não bộ đương sự.

Và đấy chính là những việc mà tôi đã làm đồng bộ để có thể giúp cho một con người đang trong lúc thành đạt giàu có có thể giữ mãi được điều này đi suốt cuộc đời họ, tránh cho họ rất nhiều vấp ngã không cần thiết trên đường đời và đi đến thành công, tất nhiên là họ cũng phải ngồi xuống làm việc động não, trăn trở suy tư và hành động , chứ không phải chỉ làm theo những chỉ dẫn trên mà không làm ăn buôn bán kinh doanh thì đâu có được, đó chính là câu trả lời của tôi cho câu hỏi của em , tất nhiên câu trả lời của tôi chưa phải là hoàn hảo , chưa phải là đáp số cho tất cả mọi trường hợp , vì thế tôi đưa bài này lên diễn đàn để sẽ có thêm nhiều ý kiến của các bạn đọc khác bổ sung thêm vào đề tài này.
Một năm mới Giáp Ngọ đã đến vẫn còn tồn đọng dây dưa nhiều hệ lụy bởi sự suy sụp kinh tế của những năm qua đang cần chúng ta cố gắng hết sức mình để vượt qua, Minh Thiên xin có lời nguyện cầu sự bình yên an lành đến với từng cá nhân gia đình và tập thể xã hội, nguyện cầu mọi người đều mau chóng giàu có thành đạt và đem lại hạnh phúc cho nhau và cho xã hội , bài viết sau Minh Thiên sẽ viết về LỐI THOÁT CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ PHÁ SẢN TRONG CON MẮT TÂM LINH, rất mong được sự ủng hộ và động viên của các bạn đọc gần xa.
Minh Thiên.
Sdt 0943666611
Ba đình – Hà nội.
Email : minhthien.matviet@yahoo.com
Diễn đàn MATVIET.ORG











 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 05/03/14 19:18 

vận và mệnh con người trong con mắt phong thủy
Nhiều người tuy không xem hoặc tư vấn phong thủy trước khi mua, thiết kế, chọn hướng làm nhà mới, nhưng nhà của họ khá phù hợp với các yêu cầu về mặt phong thủy, ăn nên làm ra, sinh vượng. Về điểm này, người ta thường nói “là nhờ phúc đức tổ tiên”. Ảnh hưởng của phúc đức tổ tiên đối với con cháu như thế nào?
Những người “vô sư vô sách” nhưng được phong thủy tốt thường không lý giải được rằng: “Nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy”, nghĩa là số mệnh là yếu tố quyết định toàn cục cuộc đời của một con người, tiếp đến là ảnh hưởng của thời vận, thứ ba là ảnh hưởng của phong thủy.
Nói cách khác, số mệnh và sinh ra gặp thời là yếu tố tiền định thuộc tiên thiên; phong thủy là hậu thiên, được quyết định bởi hành vi của đương số và sự điều chỉnh môi trường sinh sống.
Mệnh là tiền định, thuộc tiên thiên, nhưng không do trời định, thực tế nó là sự kết hợp của phúc đức gia tộc – công quả của người đó ở kiếp trước và công quả của người sinh ra người đó. Vì vậy người phúc đức và công quả kém, sẽ sinh ra trong gia đình kém; hoặc sinh ra con cái ngỗ ngược, tức phải chịu hậu quả. Đương nhiên, trong trường hợp đó, các yếu tố liên quan như mệnh, vận, phong thủy đều kém.
Vận là các chu kỳ cá nhân (gia đình, sức khỏe, công danh, tiền tài…) và điều kiện xã hội, thường gọi là “gặp thời”.
Phong thủy là nhân tố thể hiện mệnh và vận của một đương số cụ thể. Nếu mệnh và vận tốt, đương nhiên làm nhà theo ý thích – tức linh cảm của mình mà tự nhiên đúng các yêu cầu phong thủy.
Theo đó, khi xem xét phong thủy của một gia trạch, có thể dự đoán được phúc đức của một đương số.
Điều chỉnh phong thủy có ý nghĩa như thay đổi mệnh và vận của một người. Nhưng nếu chỉ điều chỉnh phong thủy thì chưa đủ, hoặc hiệu quả không lâu bền, thậm chí không hiệu quả dù thầy phong thủy làm đúng, làm tốt các phương pháp phong thủy.
Điều chỉnh phong thủy phải gắn liền với việc đương số tự điều chỉnh hành vi của bản thân để “tích phúc tạo đức, thay đổi vận mệnh”. Phong thủy có ý nghĩa là cầu nối, là sự tiếp dẫn định hướng cho đương số.
Ngược lại, một người có phúc đức tốt, gặp thời vận tốt, nhưng hành vi của họ không tốt sẽ có phong thủy (hậu thiên) không tốt. Ví như một người có đủ tiền bạc, tài sản, trí tuệ, sức khỏe tốt, gặp thời vận… nhưng người đó luôn làm những việc trái với đạo lý, chỉ tàn phá tài sản…. đương nhiên sẽ phá bại. Người hai bàn tay trắng, nhưng hành động ở hậu thiên được định hướng tốt, được phong thủy trợ vận, đương nhiên thành quả tốt. Điều này khẳng định “quả báo nhãn tiền”. Tính tích cực của đương số ảnh hưởng rất mạnh đến hiệu quả điều chỉnh phong thủy.
Nói “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” bao hàm ý nghĩa này, và đây cũng là nguyên lý “đổi vận” của một đương số.
Pháp tu mật chú Chuẩn đề phù hợp với tất cả mọi thành phần lứa tuổi và các căn cơ chính là một trong những phương pháp đổi mệnh và vận cho đương số, bây giờ chỉ còn chờ đương số có chịu tu hay không nữa thôi, các bạn nên xem thêm bài này để có cái nhìn rõ nét hơn
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=72&t=2141

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 13/05/13 14:13 

Sự thiện Tâm ảnh hưởng tốt tới Thân: cơ thể con người


Con người hiện sống ở trên đời. ai cũng được cấu thành bởi cơ thể vật lý gọi là Thân và năng lượng tinh thần gọi là Tâm. Nói theo triết học cổ phương Đông hay theo các Đạo giáo như Đạo Phật thì con người gồm hai phần Thể xác và linh hồn. Thể xác tức cơ thể vật lý gọi là Thân có hình hài cụ thể mắt thấy tay sờ thì ai cũng biết, nhưng Linh hồn hay tinh thần gọi là Tâm thì chẳng có hình tướng, chẳng có máy móc khoa học nào cảm nhận cân đong đo đếm được nên không ai hiểu cái Tâm con người là gì! Tâm có phải là vật chất hay không? Đây là câu hỏi khó, có lẽ phải đợi đến thế kỷ sau nền khoa học thế giới mới có thể có “cơ sở khoa học” để trả lời. Bằng chứng là hiện các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã bỏ ra hàng chục tỷ đôla chế tạo máy gia tốc khổng lồ để thực nghiệm chứng minh có “hạt của chúa”, (hạt mang khối lượng là thành phần cấu thành vật chất có thể cân đong đo đếm được), đến nay vẫn chưa có kết quả. Chưa có “cơ sở khoa học” để khoa học chứng minh Tâm, tức linh hồn hay Tinh thần con người là một dạng nămg lượng siêu tinh tế tồn tại trong thế giới tự nhiên không có nghĩa là Tâm, tinh thần con người không phải là không có. Thực tế là thước đo, nền tảng tạo nên “cơ sở khoa học”, tại sao một số nhà ngoại cảm có thể trông thấy “linh hồn”, gọi cho có tính khoa học là trường “năng lượng sinh học”? Phủ định trên thực tế sự trông thấy “linh hồn” hay “trường năng lượng sinh học” này của các nhà ngoại cảm là việc làm duy ý chí, không khoa học. Nếu là nhà khoa học thật sự, chân chính thì nên tiếp cận và giải thích sự “trông thấy” của các nhà ngoại cảm theo cách khoa học hơn. Chẳng hạn như có thể giải thích trong bộ não của các nhà “ngoại cảm” có thể ngẫu nhiên đã liên kết được các tế bào nơ-ron thần kinh có chức năng giải mã đọc được các thông tin có tần số sóng khác với tần số sóng ánh sáng thông thường mà bộ não của người bình thường chỉ giải mã được tần số sóng ánh sáng thông thường thông qua giác quan thị lực của cơ thể là mắt. Qua đó, chúng ta thấy rằng bộ não con người là một “bộ máy vi tính” cực kỳ tinh vi mà tạo hoá đã ban tặng. Chẳng thế mà Đức Phật đã nói: ai cũng là Phật, ai cũng có thể trông thấy Tam đại thiên thế giới trong vũ trụ nếu biết tu tâm tích đức khai thác tiềm năng đang sẵn có trong con người…Điều này phù hợp với sự nghiên cứu phát hiện của khoa học hiện đại về bộ não con người gồm khoảng 100 tỷ tế bào nơ-ron thần kinh nhưng trung bình con người mới chỉ sử dụng được chưa đến 1% trong tổng số đó. Cách khai thác tiềm năng to lớn trong bộ não con người thế nào để nâng hiệu suất sử dụng được nhiều tế bào nơ-ron thần kinh hơn mức 1% trong bộ não con người? Đó là việc rất phức tạp, nhưng có một điểm chung khái quát theo các Đạo tôn giáo và các nhà hiền triết đã có công đức lớn lao giúp ích cho đời là cần thiết phải tu dưỡng cái Tâm - Tinh thần con người theo hướng thiện. Biện pháp đơn giản dễ thực hành nhất hiện nay theo tinh thần khoa học là luyện tập Tâm năng dưỡng sinh viết tắt là TNDS-PHSK. Để có niềm tin bước vào luyện tập TNDPHSK có hiệu quả, chúng ta phải có nhận thức đúng đắn, khoa học những vấn đề sau:

1, Ảnh hưởng của Tâm đối với Thân-cơ thể con người.

Trong bài phát biểu của bà Phạm Thị Mai Cương Giám đốc Trung tâm TNDS, có nói: “Ở nước ta từ thế kỷ thứ 18, Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng phép dưỡng sinh có nội dung phong phú và các yêu cầu về nếp sống vệ sinh văn hoá lành mạnh, trong đó yếu tố nuôi dưỡng tinh thần và thể xác là hàng đầu. Hải Thượng Lãn Ông xác định: Tinh thần và thể chất được luôn luôn tráng kiện, thì sẽ tận hưởng tuổi thọ ngoài 100 tuổi. Hải Thượng Lãn Ông đặt vấn đề nuôi dưỡng tinh thần là hàng đầu trong việc giữ gìn sức khoẻ”. Tại cuốn băng ghi hình bài giảng về tác dụng của các cửa hút ( y học cổ truyền gọi là Huyệt đạo, Phật học gọi là Luân xa) trong cơ thể con người đối với người thiện Tâm khác với người ác Tâm của ông Nguyễn Văn Chiều, cố Giám đốc Trung tâm TNDS trong lớp tập huấn TNDS ở tỉnh Bắc Ninh năm 2000, ông Chiều cũng có nói nếu con người biết cách dưỡng sinh tốt thì tuổi thọ sẽ trung bình là 150 tuổi. Tại sao sự hoạt động và tác dụng của các cửa hút ở người thiện Tâm khác với ở người ác Tâm? Tại sao đối với người thiện tâm thì các của hút mở dễ dàng để thu được năng lượng vào cơ thể làm cho cơ thể mau chóng cân bằng năng lượng, phục hồi sức khoẻ nhanh. Còn đối với người ác Tâm các cửa hút thường bị co lại, không mở hoặc mở hẹp nên khó thu được năng lượng để cân bằng nên cơ thể phục hồi sức khoẻ chậm?

Từ trước nền khoa học kỹ thuật thế giới chưa phát triển, chưa có nguyên cớ để dẫn chứng, so sánh minh họa nên khó có thể giải thích để đại chúng mọi người tin hiểu. Đã không tin hiểu thì sẽ trở thành trò “nhảm nhí”, “mê tín dị đoan”, giống như câu chuyện nếu ở đầu thế kỷ 20, khi công nghệ thông tin chưa phát triển, chưa phát minh ra điện thoại di động, máy vi tính internet, ai đó có trí thông minh vượt trội tiên đoán rằng vào đầu thế kỷ 21, con người có thể nói chuyện trực tiếp được với nhau, thậm trí nhìn thấy hình ảnh của nhau dù ở cách xa hàng vạn km, ví dụ như một người đang ở Việt Nam và một người đang ở Hoa kỳ cách nhau nửa vòng trái đất. Tất nhiên xã hội con người thời đó sẽ không ai tin và sẽ “khẳng định như đinh đóng cột” rằng đấy là chuyện “nhảm nhí”, không có “cơ sở khoa học”, chuyện đó là “hoang tưởng” và chỉ có “thần thánh” mới có thể thông tin liên lạc được với nhau như vậy! Hiện nay thì chuyện đó không phải là “hoang tưởng”, “nhảm nhí” không có “cơ sở khoa học” nữa và ai cũng có thể trở thành “thần thánh” thông tin liên lạc được với nhau dù ở cách xa nhau hàng vạn km nếu biết sử dụng điện thoại di động Iphône, Ipad hoặc máy tính internet. Viết đến đây lại nhớ đến lời của Đức Phật đại ý là: Phúc cho ai không thấy mà tin. Cũng vì sự phát triển của khoa học, nhất là hệ thống máy tính điện tử, hôm nay chúng ta mới có thể hiểu và lý giải được sự thiện Tâm ảnh hưởng rất lớn đối với sức khoẻ của Thân, thể xác con người.

Nói đến hệ thống máy vi tính điện tử, chúng ta phải hiểu một quy tắc rất giản đơn là các mạch vi tính liên kết với các linh kiện tế bào điện tử phải thật thông thoáng để các tín hiệu thông tin được truyền tốt. Nếu các vi mạch không thông thoáng thì máy sẽ dễ bị chập, chương trình file nọ nhảy sang chương trình file kia. Máy vi tính chạy liên tục nhiều các vi mạch bị nóng các tín hiệu thông tin sẽ bị nhiễu, nóng quá mức sẽ thành chập mạch hỏng máy. Bộ não trong cơ thể con người cũng vậy, giống như một bộ máy vi tính rất tinh vi, nó điều khiển toàn bộ sự hoạt động của cơ thể, thân xác con người thông qua hệ thống thần kinh và hệ thống máu huyết nối kết từ tim dẫn truyền tới khắp các bộ phận tế bào. Nếu con người có sự liên tục suy nghĩ nhiều quá sẽ làm cho não bộ bị “nóng” lên sinh ra rối trí, “chập mạch” dẫn đến có thể là tê cứng chân tay hoặc không làm chủ được hành vi của mình. Không phải vô cớ mà trong dân gian có câu ám chỉ sự sân hận thái quá sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ: “giận đến bầm gan, tím ruột…”. Những gười có kinh nghiệm sống đều nhận thấy sự giận dữ chỉ ý thức trong não làm việc căng thẳng sẽ ảnh hưởng xấu tới hệ thần kinh dẫn truyền tới nội tạng: gan ruột. Do vậy cần phải biết cách tu dưỡng làm sao cho tinh thần lúc nào cũng thanh thản để trong “đầu”, các vi mạch trong não bộ được thông thoáng, không bị “chập mạch” ảnh hưởng tới sức khoẻ.

Trong cơ thể, thân xác con người, hai hệ thống máu huyết và thần kinh (y học cổ truyền gọi là hệ thống Kinh Lạc) liên quan hỗ trợ nhau chặt chẽ. Hệ thống này bị trục trặc sẽ ảnh hưởng ngay tới hệ thống kia. Xem mạch đập của tim sẽ thấy ngay điều đó, ví dụ người có tâm trạng hồi hộp, lo lắng thì ngay tại thời điểm đó nhịp tim sẽ đập nhanh, mạnh. Tâm trạng hồi hộp lo lắng là do hệ thần kinh trung ương tại não bộ hoạt động mạnh, gây ra sóng não lớn làm tiêu hao năng lượng nhiều. Để kịp thời cân bằng lại năng lượng đã tiêu hao ở não bộ tất nhiên tim phải đập nhanh, nhiều để bơm máu cung cấp ô xy cho não. Đây cũng là nguyên nhân của những trường hợp có người nhận được tin buồn hay vui đột ngột quá không giữ được sự bình tĩnh của Tâm trí làm cho sóng não tăng quá mạnh khiến cho nhịp tim bơm máu theo các thành mạch lên não không kịp hoặc quá mức gây ra sự choáng, ngất hoặc đột quỵ.

Để ý tới quy luật sống của con người, chúng ta dễ dàng phát hiện ra 2 quy luật cần thiết liên quan tới sức khoẻ, từ đó vận dụng để tìm ra phương pháp dưỡng sinh bộ máy cơ thể được tốt. Đó là quy luật thức - ngủ và quy luật thiện tâm - ác tâm. Quy luật thức - ngủ, phản ánh trong một ngày đêm cơ thể con người cần trải qua 2 trạng thái, thức để hoạt động kiếm sống tạo ra máu huyết để nuôi dưỡng thể xác, và ngủ để cho cái Tâm, tinh thần được an lạc, tĩnh dưỡng. Cũng chính là để não bộ, “bộ máy vi tính” điều khiển thể xác được thông thoáng, mát mẻ, sóng não thấp nhất, bộ máy não không bận vào việc nào khác chỉ để bộ phận lập trình tự điều chỉnh cân bằng năng lượng của toàn bộ cơ thể hoạt động. Thực tế đã chứng minh để có sức khoẻ tốt con người phải tuân theo quy luật này. Ai bị mắc bệnh mất ngủ thì hệ thần kinh sẽ bị suy nhược, bộ phận lập trình tự điều chỉnh cơ thể trong não bộ không hoạt động nên năng lượng không được cân bằng khiến cho người thấy toàn thân rất mệt mỏi, mất sức không lao động được. Những người bị bệnh, đau ốm nặng thì hay ngủ li bì hoặc hôn mê bất tỉnh, lý giải cho việc tinh thần phải được tĩnh lặng, bộ não phải được nghỉ ngơi, tức phải ngủ cho sóng não nhẹ ở mức tối thiểu để bộ phận tự điều chỉnh cơ thể hoạt động bảo tồn sự sống.

Quy luật thiên Tâm và ác Tâm ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ. Trước hết chúng ta phải hiểu người thiện Tâm là người có trạng thái tinh thần thanh thản, vô tư, lạc quan, yêu đời, không hoặc rất ít có tính cách ganh đua thiệt hơn với người khác và có tình thương yêu đối với đồng loại. Nói theo Phật học thì ít có lòng ham muốn Tham, Sân, Si, hỷ, Ố, Ái… Ngược lại, những người ác Tâm là những người trong tư duy luôn có sự suy nghĩ làm sao đấu tranh cho bản thân mình được nhiều lợi lộc. Nói cách khác là còn mắc nhiều tư tưởng liên quan tới Tham, Sân, Si, Hỷ, Ố, Ái ... khiến cho trong đầu óc không lúc nào được nghỉ ngơi, thanh thản. Quy luật thiên Tâm – ác Tâm phản ánh người thiện Tâm, sóng não không mạnh do ít luồng ý nghĩ trong đầu, nên não bộ được thông thoáng có thời gian, có chỗ để bộ phận tự điều chỉnh cơ thể hoạt động. Vì vậy bộ phận tự điều chỉnh cơ thể có thể hoạt động được ngay cả khi còn đang thức dù là yếu và ngắt quãng. Các cửa hút phân bố khắp cơ thể của người thiện Tâm mới có điều kiện mở nhiều hơn để thu năng lượng vào cân bằng năng lượng trong cơ thể khiến cho người thiện Tâm có sức khoẻ tốt hơn, ít bị ốm đau bệnh tật hơn. Với người ác Tâm, vì trong đầu luôn luôn có các luồng suy nghĩ, hết việc này lại đến việc khác, nên Tâm trí lúc nào cũng hoạt động làm cho sóng não mạnh. Sóng não mạnh, tức não bộ không thông thoáng và luôn luôn bận rộn, không có thời gian để có chỗ cho bộ phận tự động điều chỉnh cơ thể hoạt động được khi đang thức. Nên các cửa hút bị bó lại không mở ra để thu năng lượng dẫn đến thân thể người ác Tâm hay mệt mỏi và dễ bị ốm đau bệnh tật hơn. Thực tế cũng đã chỉ ra nhiều người mắc bệnh đau dạ dày, loét hành tá tràng có nguyên nhân từ hệ thần kinh do luôn phải suy nghĩ căng thẳng. Như vậy người thiện Tâm khác với người ác Tâm ở chỗ hệ thống tự động điều chỉnh cơ thể của người thiện Tâm hoạt động nhiều hơn, tốt hơn nên sức khoẻ sẽ tốt hơn, ít bị nhiễm bệnh hơn.

Tóm lại giữa tâm hồn và thể xác có sự liên quan mật thiết với nhau, người có tâm hồn trong sáng, thảnh thơi, hướng thiện, bộ phận tự động điều chỉnh cơ thể có thời gian hoạt động nhiều và tốt hơn. Các cửa hút (luân xa) vẫn thu được năng lượng để cân bằng khi còn đang thức làm cho thân thể họ được khoẻ mạnh, ít bị nhiễm bệnh. Người có tâm hồn u tối, buồn bã và luôn luôn phải tư duy suy nghĩ ganh đua với đời khiến cho não bộ bận rộn với các luồng ý nghĩ đó nên bộ phận chỉ huy hệ thống tự động điều chỉnh cơ thể trên não bộ phải dừng hoạt động, do vậy các cửa hút bị bó lại không thực hiện được chức năng thu và cân bằng năng lượng khi đang thức. Minh chứng cho việc này, chúng ta thấy: khi con người có chuyện buồn phải suy nghĩ nhiều thì hay mệt mỏi toàn thân, hay chán ăn, hoặc ăn cũng thấy không ngon miệng, Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến rất dễ bị nhiễm bệnh trong nội tạng. Chẳng thế mà các nhà hiền triết cổ xưa như Đức Phật đều khuyên con người, trực tiếp là các phật tử, người theo đạo muốn sống tốt phải luôn vui vẻ, hướng thiện, đừng Tham, Sân, Si… đừng làm điều ác để tránh gây nghiệp xấu, gieo nhân xấu sẽ gặp quả báo xấu. Quả báo xấu nhãn tiền trước mắt đó là sức khoẻ kém trong cái kiếp người hiện tại.

Ngoài ra, sự thiện Tâm còn tránh được ảnh hưởng của môi trường tác động xấu tới Thân, thể xác con người.

2, Ảnh hưởng của môi trường sống đối với sức khoẻ con người.

Môi trường sống có tác động ảnh hưởng tới sức khoẻ con người thế nào? Phải hiểu rõ không gian sống xung quanh chúng ta và không gian trong vũ trụ rất phức tạp. Ngoài các loại vật chất mà chúng ta đo được, cảm nhận được như không khí, trường hấp dẫn của trái đất…trong không gian còn chứa nhiều loại trường năng lượng khác nhau ở cấp siêu vi mô mà hiện tại khoa học thế giới cũng chưa phát hiện được. Cập nhật thông tin khoa học chúng ta thấy có nhiều loại trường vật chất siêu hình khoa học gần đây mới phát hiện ra, ví dụ như vật chất tối, năng lượng tối đang chứa đầy trong vũ trụ, nhưng tính chất của nó là gì thì vẫn chưa biết và vẫn còn đang nghiên cứu, tìm hiểu.

Để có niềm tin rằng không gian có chứa rất nhiều trường năng lượng ở cấp siêu vi mô mà loài người vẫn chưa biết, chúng ta nên biết không gian trong vũ trụ không phải là khoảng không trống rỗng. Chính ông Einstein, nhà bác học thiên tài của thế kỷ 20 đã chỉ ra điều đó thông qua Thuyết tương đối. Trong Thuyết đối, Einstein đã chứng minh mọi thứ trên đời đều mang tính tương đối, không gian cũng chỉ là tương đối, nó có thể co hay dãn tuỳ theo trường lực hấp dẫn mạnh hay yếu. Nếu không gian là khoảng không trống rỗng chẳng có chứa cái gì thì làm sao lại bị co hay dãn được? Lý luận logic khoa học đó đã chỉ rõ không gian không phải là khoảng không trống rỗng mà thực chất không gian đang chứa các trường năng lượng vô hình vô tướng nào đó mà nền khoa học văn minh của loài người hiện nay chưa xác định được. Để dễ hình dung hơn, chúng ta thấy Trái đất nơi chúng ta đang sống và các hành tinh thuộc hệ mặt trời như sao hoả, sao kim, sao mộc, sao thuỷ…vẫn thường quay quanh mặt trời theo các chu kỳ khác nhau. Chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời là 1 năm tức 365 ngày đêm, còn chu kỳ quay quanh mặt trời của sao kim, sao mộc, sao thuỷ, sao hoả lại khác. Không có chu kỳ của hành tinh nào trong hệ mặt trời quay trùng nhau và tất cả lại tuân theo quy luật tuần hoàn riêng lấy sự quay quanh mặt trời làm chuẩn. Điều đó chỉ ra mỗi một khoảnh khắc trong không gian trên bề mặt trái đất có sự biến thiên thay đổi của trường lực hấp dẫn. Sự biến thiên thay đổi trường lực hấp dẫn này tuy rất nhỏ ở cấp vi mô không ảnh hưởng lớn trực tiếp tới môi trường sống của con người, nhưng với góc độ quan sát tinh tế thì thấy nó có ảnh hưởng gián tiếp tới sự sống. Bởi lẽ giản đơn là trường lực hấp dẫn biến đổi dẫn đến không gian có chứa các trường năng lượng siêu vi mô siêu hình biến đổi. Tại khoảnh khác này, thời gian này trường năng lượng siêu vi mô siêu hình có tác động tốt tới môi trường sống của một nhóm người A và tác động xấu tới môi trường sống của một nhóm người B. Nhưng sang khoảnh khắc khác, thời gian khác trường năng lượng siêu vi mô siêu hình trong không gian lại biến đổi và sự tác động đến môi trường sống đối với nhóm người A hoặc nhóm người B lại khác, không còn như cũ. Có lẽ vì vậy nên không phải ngẫu nhiên các nhà hiền triết cổ xưa ở phương Đông đã làm lịch để chỉ rõ chu kỳ biến đổi của không gian theo thời gian và xác lập lý thuyết âm dương ngũ hành cũng như bản tử vi theo ngày sinh tháng đẻ để tính toán chu kỳ, chiêm nghiệm dự đoán sự thăng trầm cuộc sống của mỗi con người qua sự biến động của không gian và thời gian. Các nhà hiền triết ở phương Tây, cũng đồng quan điểm nên cũng lập lịch và lập môn chiêm tinh học theo địa lý phù hợp với cách của họ.

Dễ hiểu hơn nữa, xét về khoa học vật lý và địa lý hiện đại, sự tích tụ vật chất tạo nên các trường lực hấp dẫn tại các vùng miền núi khác với vùng ven biển hoặc vùng đồng bằng. Vùng đồng bằng có nhiều ao, hồ, sông, suối trường lực hấp dẫn cũng khác với vùng đồng bằng có ít ao, hồ… Trường lực hấp dẫn khác nhau nên không gian có chứa các trường năng lượng vô hình, vô tướng cũng khác nhau. Vì vậy các nhà hiền triết cổ xưa mới phác họa nên bộ môn phong thuỷ, địa lý… mô tả thửa đất này, ngôi nhà này hợp với cơ thể người này hay khắc với cơ thể người kia. Tất nhiên để hiểu tường tận bộ môn này thì chẳng có mấy ai. Có một số người linh cảm được thì sự linh cảm đó lại mờ nhạt chưa đủ khả năng để hệ thống lại làm nền tảng, cơ sở khoa học cho bộ môn Phong thuỷ.

Tổng hợp các vấn đề trên chúng ta hiểu rằng không gian con người đang sống trên bề mặt trái đất có tồn tại ở cấp siêu vi mô những trường năng lượng vô hình, vô tướng. Những trường năng lượng vô hình vô tướng này có tác động đến môi trường sống của con người. Có loại năng lượng tác động tốt với cơ thể người này nhưng lại xấu với cơ thể người kia. Lý giải cho việc trên thực tế, có những ngôi nhà nằm trên vùng địa lý, mắt thường trông vẫn thấy bình thường, có người đêm nằm hay mơ thấy ác mộng, bất an khó ngủ, cảm giác lạnh lẽo như có “ma”, lâu ngày ở trong trạng thái đó sinh ra ốm đau bệnh tật… Nhưng có người hàng đêm cũng nằm tại vị trí ngôi nhà đó mà vẫn ngủ ngon giấc, sức khoẻ vẫn tốt. Tại sao lại như vậy? Điều này liên quan tới sự tích tụ các trường năng lượng siêu vi mô, siêu hình trong không gian của bộ môn địa lý phong thuỷ. Giải thích hiện tượng này phức tạp, nhưng bộ môn TNDS, nghiên cứu về sự thiện Tâm và ác Tâm ảnh hưởng tới cơ thể con người cũng có thể giải thích được:

Khi con người ngủ, hệ thần kinh trung ương não bộ phải tạm dừng mọi ý nghĩ và hoạt động phân tích xử lý các thông tin thu nhận qua các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác… để hệ thần kinh trung ương có chức năng tự điều chỉnh cơ thể hoạt động. Vì hệ thần kinh trung ương có chức năng tự điều chỉnh cơ thể hoạt động nên các cửa hút, (thực chất đó là các đầu mối dây thần kinh nối thông từ vị trí cơ thể tiếp giáp với không gian bên ngoài tới các tế bào cấu thành các bộ phận trong cơ thể và truyền dẫn lên hệ thần kinh trung ương trong não bộ) tự động mở ra thu các năng lượng từ không gian bên ngoài vào cân bằng lại năng lượng tại các tế bào của các bộ phận đã bị tiêu hao biến chất để phục hồi lại sức khoẻ. Theo nguyên lý “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, (lý thuyết triết học cổ Phương Đông gọi là khí, bộ môn TNDS gọi là năng lượng), đối với người ác Tâm, các bộ phận trong cơ thể còn tồn đọng lại năng lượng xấu nhiều hơn tốt nên các cửa hút mở ra thu loại năng lượng xấu tương đồng với nó nhiều hơn. Kết quả sự thu cả các năng lượng xấu, năng lượng không phù hợp vào làm cho các bộ phận trong cơ thể không những không cân bằng được mà lại bị mất cân bằng thêm. Hệ thần kinh tại các bộ phận bị mất cân bằng thêm phải phát tín hiệu lên hệ thần kinh trung ương xử lý các tình huống trên não cấp báo về tình trạng đó. Hệ thần kinh trung ương xử lý các tình huống trên não bộ bị kích thích nhận tín hiệu trong trạng thái đang tạm dừng hoạt động nên đã tạo thành các giấc mơ, ác mộng. Y học hiện đại cũng đã nghiên cứu vê các giấc mơ và có nhận xét rằng các giấc mơ ác mộng thường phản ánh một bộ phận nào đó trong cơ thể bị trục trặc, tổn thương.

Đối với người thiện Tâm thì trường khí (năng lượng) tại các bộ phận trong cơ thể đã được thanh lọc kể cả khi đang thức, loại năng lượng tốt và phù hợp nhiều hơn loại xấu, biến chất. Do vậy người thiện Tâm khi ngủ, hệ thần kinh tự động điều chỉnh cơ thể hoạt động, các cửa hút tự động mở ra thu năng lượng tốt, phù hợp nhiều hơn và cân bằng lại những nơi mất cân bằng. Hệ thần kinh tại các bộ phận cơ thể đang cân bằng năng lượng đúng quy trình nên không phát tín hiệu cấp báo gì về hệ thần kinh trung ương xử lý các tình huống trên não bộ. Hệ thần kinh xử lý các tình huống trên não bộ đang nghỉ không bị kích thích nhận tín hiệu, do đó không có các giấc ác mộng nào, giấc ngủ của người thiện Tâm vẫn an bình đúng với chức năng phục hồi sức khoẻ.

Ngoài sự ảnh hưởng của môi trường sống có tồn tại những trường năng lượng vô hình, vô tướng ở cấp siêu vi mô nêu trên, môi trường sống hữu hình do quá trình sống chính con người tạo ra cũng ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. Chỉ ví dụ cụ thể hiện trạng trong xã hội hiện nay, do ham lợi nhuận, muốn bán được nhiều hàng để thu được nhiều tiền, người ta đã “phát minh sáng chế” ra các loại thuốc bảo quản hoa quả, thực phẩm. Một quả táo hay quả cam chín, bình thường chỉ để được vài ngày là bắt đầu bị ủng, thối và không ăn được, nhưng dùng hoá chất gọi là “thuốc” bảo quản thì có thể để vài tháng trông vẫn thấy tươi, ngon. Khi người ăn phải những hoa quả đã dùng “thuốc” bảo quản đó, lượng hoá chất tuy là rất nhỏ nhưng đã thấm vào thành ruột, hệ thống tự động điều chỉnh cơ thể sẽ phản ứng điều tiết những hoạt chất kháng cự lại và đào thải hoá chất lạ đó ra ngoài. Nếu hệ thống tự điều chỉnh cơ thể con người không hoạt động mạnh, không đủ sức đề kháng và đào thải hết hoá chất lạ đó ra ngoài thì rất dễ bị mắc bệnh, nhẹ thì trong ruột hay dạ dày có khối u lành tính, nặng thì khối u ác tính. Như trên đã phân tích, với người ác Tâm thì hệ thống tự động điều chỉnh chỉnh cơ thể của họ hoạt động yếu hơn hệ thống tự động điều chỉnh cơ thể của người thiện Tâm. Do đó, nếu cùng ăn phải loại hoa quả đã dùng “thuốc” bảo quản thì người ác Tâm dễ bị mắc bệnh hơn người thiện Tâm. Mặt khác, nếu điều tra xã hội học thì thấy người thiện Tâm rất dễ tính trong vấn đề ăn uống. Sự ăn uống với họ không cầu kỳ, họ không thèm khát những của ngon vật lạ như những người ác Tâm. Nên người thiện Tâm phần nào cũng tránh được sự ô nhiễm do công nghệ bảo quản thực phẩm trong thời đại văn minh hiện nay.

3, Phương pháp khai thác tiềm năng con người và sự tương đồng giữa Đạo Phật với bộ môn Tâm năng dưỡng sinh-phục hồi sức khoẻ.

Những người có trí tuệ cao như các đức Phật, các ngài còn phát hiện ra rất nhiều quy luật của thế giới tự nhiên cũng như cách vận dụng thực hành khai thác những tiềm năng còn ẩn chứa trong cơ thể con người. Nhưng sự tồn tại của thế giới siêu vi mô rất siêu hình trừu tượng, khó mô tả, khó có thể diễn tả cho đại chúng con người tin hiểu. Do đó các ngài đành phải khái quát thật giản đơn bằng quy luật Nhân quả và biện pháp thiền để mọi người biết hướng từ từ tu tâm dưỡng tính trên con đường tiến hoá với thế giới tự nhiên.

Ai đã nghiên cứu về Đạo Phật ắt hẳn phải biết về triết lý: Sắc tức thị không, không tức thị sắc… trong kinh Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh. Bộ kinh này là bộ kinh cao cấp hướng dẫn cho các đệ tử nắm được quy luật tự nhiên và thực hành để vươn tới đỉnh cao có trí tuệ bát nhã. Hiểu thế nào là Sắc tức thị không, không tức thị sắc ? Hiện nay chúng ta thấy hầu như mỗi người hiểu một cách theo ý riêng của mình. Khó có thể nói ý của ai hiểu về triết lý đó mới là đúng nên không bàn luận thế nào mới là đúng ý trong kinh Phật, chúng ta đang nghiên cứu và thực hành TNDS nên hiểu theo cách của TNDS để khỏi phải tranh cãi tổn hại tới Tâm Đức.

Sắc tức thị không…trong kinh Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh có thể ý Đức Phật muốn chỉ ra rằng: Trong cái thân xác con người mắt thấy tay sờ, có hình có tướng cụ thể gọi là Sắc có cái Không, tức có cái Tâm, có cái tinh thần, linh hồn của con người, (vì nó vô hình vô tướng, mắt chẳng thấy, tay chẳng sờ được nên gọi là Không). Và Không tức thị sắc... nghĩa là trong cái Không, tức trong cái Tâm, cái tinh thần linh hồn con người, (vì vô hình vô tướng, mắt chẳng thấy, tay chẳng sờ được nên gọi là Không) lại có cái Sắc, cái Sắc ở đây là cái tính thấy, tính nhận biết được vạn vật xung quanh có hình có tướng mắt thấy, tay sờ… Hiểu như vậy cũng đúng với tinh thần Đức Phật muốn nói về thực chất con người cũng như vạn vật chúng sinh trong vũ trụ đều được tạo hoá cấu thành gồm hai phần, phần thứ nhất đó là thể xác vật chất mắt thấy, tay sờ, có hình, có tướng cụ thể gọi là Sắc; phần thứ hai đó là cái tính thấy, tính cảm nhận được vạn vật xung quanh mang danh là cái Tâm, cái linh hồn vô hình, vô tướng, mắt thường phàm phu không nhìn thấy, tay thường không sờ được nên gọi là Không. Không không có nghĩa là không có gì, cái Không này mới chính là bản chất thật của mỗi một con người, mỗi một loài vật, vật thể có hình có tướng cụ thể tại cái cõi giới không gian mắt thấy, tay sờ này. Hiểu như thế cũng phù hợp với tiêu đề của cuốn kinh: Bát nhã… Tâm kinh.

Đỉnh cao của Phật học là các phật tử tu luyện để vươn tới có trí tuệ Phật: trí tuệ bát nhã . Vậy làm thế nào để vươn tới đỉnh cao có trí tuệ bát nhã? Theo Phật học, Đức Phật có nói có tới 84.000 pháp môn để tu thành Phật, (trong đó có Pháp Không). Đọc và hiểu kinh Bát nhã…Tâm kinh thì pháp Không là con đường có hiệu quả cao nhất để khai thác được tiềm năng con người tiến tới có trí tuệ Phật, hiểu được đúng lời Phật đã truyền dạy trong kinh về Sắc tức thị không, Không tức thị sắc … là chân thật và sẽ nhận biết được cái Không bản chất thật của chính mình. Thực hành Pháp Không như thế nào? Đó là phương pháp thực hành ngồi Thiền định, bế chặt các giác quan, “trong lìa niệm, ngoài lìa cảnh”. Nói đơn giản dễ hiểu đó là ngồi yên không động đậy, cách ngồi như tư thế Đức Phật ngồi dưới gốc cây bồ đề, mắt không nhìn, tai không nghe, đầu không nghĩ…không quan tâm tới bất cứ động tĩnh gì bên ngoài. Kiên trì thực hành Thiền định như thế, đến một lúc nào đó đủ duyên thì người thực hành Pháp Không sẽ nhận biết được cái Không , tức cái Tâm bản chất thật của chính con người mình, nó không đơn giản chỉ có tồn tại trong cái kiếp người bằng xương, bằng thịt hiện tại.

Như vậy thì sự Thiền định Pháp Không trong Đạo Phật tương đồng với phương pháp thực hành “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” trong TNDS về mặt khai thác tiềm năng con người. Bộ môn TNDS còn tương đồng với Đạo Phật ở chỗ các môn sinh, hoặc bất cứ ai muốn thực hành TNDS đều phải có nếp sống lương thiện, không được làm điều ác… Đạo Phật và TNDS chỉ khác nhau ở cấp độ mục đích vươn tới. Mục đích vươn tới của Đạo Phật đó là có trí tuệ Phật hướng tới giải thoát mọi sự rằng buộc của thế gian, còn mục đích của TNDS chỉ đơn giản là thực hành luyện tập để ít ốm đau bệnh tật, có sức khoẻ Thân-Tâm tốt hoà nhịp vào cuộc sống vui khoẻ có ích cho xã hội thực tại. Và việc Thiền định tu pháp không trong Đạo Phật thường dành cho những người có căn duyên với Phật cao ở nơi chùa chiền thanh vắng, còn việc luyện tập TNDS thì bất cứ ai cũng có thể tham gia được nếu có nhu cầu về sức khoẻ tốt và việc luyện tập đơn giản tại nhà hoặc tại bất cứ nơi nào có điều kiện thích hợp

Kết luận

Đạo Phật đã khuyên nhủ mọi người nên sống lương thiện để trở thành người thiện Tâm, đó là điều đúng đắn và rất khoa học có ích cho con người và xã Hội. Vì lời khuyên đúng đắn và khoa học như vậy nên Đạo Phật đã tồn tại được hơn 2500 năm tính đến ngày nay và sẽ tồn tại mãi mãi trong xã hội loài người như một chân lý.

Sự thiện Tâm là sự gia tăng sức khoẻ thân thể tốt, người thiện Tâm sẽ ít ốm đau bệnh tật hơn như phần trên đã phân tích. Giúp cho sự thiện Tâm được duy trì thường xuyên và đảm bảo sức khoẻ thân thể được tốt hơn nữa thì người thiện Tâm nên kiên trì luyện tập TNDS đều đặn, thường xuyên mỗi ngày khoảng 1 giờ đồng hồ. Luyện tập TNDS đều đặn, thường xuyên như vậy không những không phải băn khoăn về chuyện mình đã thật sự là người thiện Tâm hay chưa? mà còn có nhiều cái lợi vô hình khác, ít nhất như Đức Phật đã mô tả là đang gieo nhân lành cho chính mình và gia đình mình trong tương lai.


Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm TNDS-PHSK

Lê Văn Cường


 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 03/02/12 11:23 

ĐỨC PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG SỐNG MÃI TRONG LÒNG NGƯỜI VIỆT

Nguồn : Sưu tầm

http://phucthanh.vn/Portals/0/1_175750732.jpg

Đức vua Trần Nhân Tông sinh năm 1258, tục truyền lúc mới sinh sắc mặt của ngài vàng ánh như hoàng kim nên vua cha gọi yêu là “Kim Phật”. Ngay từ nhỏ đức vua đã rất thích đọc sách, vì vậy ở vào tuổi 16, vua Trần Nhân Tông đã học thông tam giáo, tinh tường giáo lý Phật đà, am hiểu cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật và âm luật, là học trò ưu tú của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Do đó, sau khi lên ngôi Hoàng đế năm 1278, với chủ trương “Đức trị”, dùng chữ “Tâm” quy tụ nhân tâm, bản thân nhà vua lại là người nhân hiếu, tôn người hiền, trọng kẻ sỹ nên cơ nghiệp nhà Trần được bền vững. Hai lần Nguyên Mông đưa quân sang xâm lược Đại Việt (năm 1285 và 1287), cả hai lần đức vua đã cùng với Trần Hưng Đạo Đại Vương lãnh đạo toàn dân đánh thắng giặc ngoại xâm.

Trước nguy cơ thường trực của nạn ngoại xâm, đức vua Trần Nhân Tông nhận định “Nếu toàn dân đoàn kết lại thì quân giặc dù hung hãn đến đâu cũng phải thua” và Ngài lại nhận thấy trong Đạo Phật có rất nhiều điểm tốt, có thể tăng cường tình đoàn kết, xây dựng nền đạo đức xã hội trong nhân dân. Vì vậy, những lúc rỗi rãi , đức vua lại xem Kinh luật và các nghi văn, soạn chép lấy phép lợi mình- lợi người, chỉ bảo cho mọi người cùng theo. Năm 1293, ở vào tuổi 35 đức vua đã truyền ngôi cho Thái tử, lui về phủ Thiên Trường chuyên giảng cứu Kinh sách Phật. Và cũng chính tại thời điểm này, Ngài đã tập trung xây dựng hệ thống giáo lý mới Đạo Phật của dân tộc Việt Nam. Và cho đến năm 1295, Ngài chính thức xuất gia tu hành tại chùa Hoa Yên- Yên Tử, lấy đại hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, về sau đổi là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, kế thừa Huệ Tuệ Thiền Sư làm tổ thứ 6 của Sơn Môn Yên Tử. Trần Nhân Tông chính là người đã khai sinh ra thiền phái Trúc Lâm- Yên Tử.

Lấy chữ Tâm là hạt nhân cơ bản của thiền phái với nghĩa “Tâm cứu độ chúng sinh, tâm giải phóng dân tộc, tâm hoà nhập cộng đồng” và dùng chữ Tâm này để tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, Trần Nhân Tông đã quy tụ được ý chí, sức mạnh của toàn dân cùng hướng về một thế giới tâm linh thuần thiện, thuần mỹ, từ đó hoá thành tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, xây dựng đất nước Đại Việt độc lập, hùng cường và hưng thịnh.

Từ một ông vua- một vị anh hùng dân tộc đang đạt tới đỉnh của vinh quang, quyền uy và danh vọng nhưng đức vua Trần Nhân Tông đã sẵn sàng bỏ lại tất cả không tiếc nuối để sống kiếp tu hành khổ hạnh với mong muốn đem lại đời sống tinh thần tâm linh thuần khiết cho người Việt, nâng cao đạo đức và văn hoá, làm nền tảng cho đời sống tinh thần của người dân đất Việt, đưa con người tới chân- thiện- mỹ, giúp cho các phật tử có thể giải thoát ngay trong cuộc sống đời thường. Với tình cảm bao la để phổ độ chúng sinh, đức vua Trần Nhân Tông đã đắc đạo thành Phật, trở thành tổ dòng thiền Trúc Lâm. 50 năm cuộc đời, Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã để lại cho đời một hệ giá trị tư tưởng lớn, thực sự là một vị hoàng đế anh minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá tư tưởng lớn, nhà tu hành chân chính, mẫu mực, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử- một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hoá Việt, được nhân dân tôn xưng là Vua Phật Việt Nam- người tiên phong mở lối, tìm ra con đường độc lập về đời sống tâm linh của người Việt.

Hơn 700 năm đã trôi qua, nhưng cái “tâm sáng, tâm thiện” của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng mỗi người dân đất Việt. Nhớ về Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông là chúng ta nhớ tới người đã mang lại cho đất nước sự thanh bình, thịnh trị, người dân có cuộc sống hạnh phúc, ấm no và là người tiên phong mở lối, mang lại những giá trị to lớn trong đời sống tâm linh của người Việt.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 06/02/12 17:32 

Hơn 700 năm đã trôi qua, nhưng cái “tâm sáng, tâm thiện” của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng mỗi người dân đất Việt. Nhớ về Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông là chúng ta nhớ tới người đã mang lại cho đất nước sự thanh bình, thịnh trị, người dân có cuộc sống hạnh phúc, ấm no và là người tiên phong mở lối, mang lại những giá trị to lớn trong đời sống tâm linh của người Việt.


Lịch sử Việt Nam duy nhất có họ Trần vừa mở mang rộng bờ cõi, vừa tiên phong khai sáng Phật pháp cho dân tộc và giữ được ngôi báu dài nhất trong các triều đại Việt Nam.

Cảm ơn bác Trí Minh đã tìm được bài viết hay giới thiệu cho anh em đọc.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 06/02/12 20:21 

Chuyện lịch sử mà đã từ rất lâu rồi không biết thực hư thế nào. Tóm lại hậu thế chúng ta chỉ nên biết về cái hay, cái tốt, cái được ghi nhớ lưu truyền lại thôi chị ạ. Còn những cái khác thì nên I' dont no ?

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 24/01/12 22:35 

Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan xã Dương Xá - Gia Lâm - Hà nội (Đền Bà Tấm)

http://photos.wikimapia.org/p/00/02/18/61/62_big.jpg

Bà Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, chính quê ở làng Thổ Lỗi, sau đổi là Siêu Loai, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Dương Xá huyện Gia Lâm). Vì mẹ mất lúc 12 tuổi, cha lấy vợ kế nên Ỷ Lan sống khổ như cô Tấm trong truyện cổ tích. Có lẽ vì vậy mà dân gian thường gọi đền thờ bà ở xã Dương Xá là đền Bà Tấm. Ngay cả ngôi chùa ở kề bên do bà cho xây dựng năm 1115, tên chữ Chùa Linh Nhân Tư Phúc cũng được gọi là chùa Bà Tấm.

Bà Tấm là người phụ nữ nổi danh trong lịch sử. Chuyện kể rằng, vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) trong một lần về chùa Dâu cầu tự, tình cờ gặp cô gái hái dâu ở làng Thổ Lỗi. Thấy cô xinh đẹp lại có tài đối đáp, vua bèn đưa về cung và phong là Nguyên phi. Vua lại cho xây một cung riêng cho bà và đặt tên là cung Ỷ Lan để ghi nhớ hình ảnh cô gái dựa gốc lan trong buổi đầu gặp gỡ. Cung Ỷ Lan nay là đình Yên Thái, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Ở nơi cung cấm, Ỷ Lan chịu khó đèn sách nên chỉ một thời gian ngắn đã hiểu biết sâu sắc về mọi mặt. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng đại quân chinh Nam, trao quyền nhiếp chính cho bà. Nhờ định kế sách đúng đắn, quyết đoán và táo bạo nên loạn lạc được dẹp yên, dân đói được cứu sống. Năm 1072, vua Lý Thánh tông qua đời, Ỷ Lan trở thành Hoàng thái hậu giữ quyền nhiếp chính, từ đó đất nước Đại Việt bước vào giai đoạn cường thịnh. Năm 1077, nhà Tống đem quân sang xâm lược nước ta, Ỷ Lan (có sự trợ giúp của Thái úy Lý Thường Kiệt) đã huy động sức dân đánh bại kẻ thù. Bà Ỷ Lan đem lại nhiều ơn đức cho dân, được nhân dân tôn là Quan Âm nữ. Ngay cả khi bà còn sống, nhiều nơi đã lập ban thờ bà.

Đền thờ bà ở quê hương xây dựng vào cuối thế kỷ XI, kiến trúc theo lối cung đình có 72 cửa. Trong đền còn nhiều di vật quý. Nổi bật là hai sư tử tạo bằng đá liền khối cao 1,2m rộng 1,36m trong tư thế phủ phục, đường nét đặc biệt mềm mại. Sư tử ở đền Ỷ Lan đang vờn hòn ngọc, trên trán có trổ chữ Vương khẳng định vị trí chúa tể muôn loài, đồng thời cũng thể hiện uy quyền của vương triều. Trong đền còn có một thành bậc bằng đá chạm nổi rồng và lân đang chạy xuống. Thành đá dài 1,3m cao 0,8m.

Hậu cung đền có tượng Ỷ Lan được tạo tác rất đẹp, tạc khi bà là Nguyên phi cùng 6 vị cung nữ trong triều. Gian ngoài có đặt ngai thờ và một số đồ tế khí. Trên ngai có bài vị ghi: Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu.

Hằng năm vào ngày 19, 20, 21 tháng 2 âm lịch nhân dân 9 xã của tổng Dương Quang (từ Phú Thị đến huyện Văn Lâm - Hưng Yên) và những làng cấy ruộng hậu của đền đều lo tổ chức hội. Chính hội là ngày 19 tháng 2, tương truyền là ngày sinh của bà.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 20/08/11 1:34 

Mật Giáo được thuyết minh do Đức Thích Tôn Như Lai hay Đại Nhật Như Lai, chuyển danh là Đại Tỳ-lô-giá-na Phật (Phạn ngữ: MAHAVAROCANA) Pháp thân của Ngài Phổ Hiền Bồ-tát (SAMANTABHADRA), thị giả của Đức Thích-ca Mâu-ni, thì trở thành Kim Cang Thủ Bồ-tát hay Kim Cang Tát-đỏa (VAJRAPANI), thị giả của Đức Đại Nhật. Pháp thân Phật, Đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, ở tại cõi trời MA HÊ THỦ LA THIÊN, tức Kim Cang Pháp giới cung, qua ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích-ca ở tại cõi Ta-bà này, sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, đang lúc thọ hưởng pháp lạc, đã vì Ngài Kim Cang Tát-đỏa và các vị Đại Bồ-tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà xiển dương giáo pháp bí mật. Đó là thời gian khởi nguyên của Tông Chơn Ngôn vậy.

Ngài Kim Cang Bồ-tát đích thân chịu làm lễ “Quán Đảnh”, kế thừa pháp mầu nhiệm của Đức Đại Nhật Như Lai, lãnh thọ lời Phật dạy, đem giáo pháp ra hoằng hóa và kiết tập thành 2 bộ kinh: Kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh lập thành Thai Tạng Giới Mandala và Kim Cang Giới Mandala. Tại sao 2 Mandala này được gọi là Thai Tạng và Kim Cang?

–“Đại Nhật Kinh Sớ” giải thích: “Ước về Thai Tạng do nhân duyên cha mẹ giao hợp, thần thức mới gá vào trong thai, rồi do gió nghiệp tượng thành lần lần lớn lên. Đến khi đứa bé được sinh ra thì gân xương, chi tiết đã hoàn thành, các căn đều đầy đủ. Từ đó đứa bé lấy theo tộc tánh cha mẹ. Cũng thế, hành giả y theo “Chơn Ngôn Môn” học tập Đại bi muôn hạnh, tịnh tâm lần lần hiển hiện. Do tâm Đại bi, những việc làm đều vì kiến lập chúng sanh, khiến cho thành tựu sự vui trong pháp giới vô tận. Rồi từ đó, công quả viên mãn, lên ngôi Vô thượng Bồ-đề, được vào giòng giống của Như Lai. Cho nên Đại bi Thai tạng là ước theo dụ mà đặt tên. Đó là y theo Thánh thai bi trí của chư Phật vào nơi đạo tràng tam mật tương ứng, nương phương tiện khéo để thành tựu chủng tử Bản giác của mình và tất cả chúng sanh vậy.

–Còn “Kim Cang Đảnh Sớ” có nói: “Kim Cang bao gồm 2 ý nghĩa “bền chắc” và năng dụng “cứng bén”. Bền chắc nên không thể phá hoại, cứng bén nên có thể phá hoại các vật khác.

Nói “bền chắc” là ví cho chân lý Bí mật chẳng thể nghĩ bàn của thật tướng, luôn luôn vẫn thường còn, không thể phá hoại. “Năng dụng cứng bén” là dụ cho trí dụng của Như Lai có công năng dẹp phá hết hoặc chướng, làm hiện rõ chân lý thật tướng. Lại theo thế gian, Kim Cang có ý nghĩa không thể phá hoại, chất báu trong các thứ báu và là vật thù thắng trong các chiến-cụ. Đây là tiêu biểu cho Pháp Thân. Nói không thể phá hoại là tiêu biểu cho Pháp Thân của tất cả Như Lai: không sanh, không diệt, không trước, không sau, bền bỉ thường còn không hư hoại. Nói chất báu trong các thứ báu là tiêu biểu cho thật tướng “Trung Đạo” đầy đủ hằng sa Công đức. Nói vật thù thắng trong các chiến-cụ là tiêu biểu cho lý “Đệ Nhất Nghĩa Không”, tất cả phiền não không thể đối địch. Đạo lý ấy như thế, không phải Trời, Người, hay chư Phật tạo tác ra được, nên gọi là Kim Cang.
Ngài Kim-Cang Bồ-tát đã viết 2 quyển kinh Đại Nhật và Kim Cang Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài lưu pháp lại trong một cái tháp sắt được gọi là “Nam Thiên Thiết Tháp”.

Về sau, Ngài Long Thọ Bồ-tát khai tháp sắt Nam Thiên này, nhờ thần lực gia trì, chính Ngài thấy Ngài Kim Cang Tát-đỏa mật truyền cho Đại Pháp và chú phúc lại 2 bộ kinh Đại Nhật và Kim Cang.

Ngài Long Thọ Bồ-tát (NAGARJONA 150-250 D.L) là người mạn Nam Ấn Độ, cực thông minh đỉnh ngộ. Ông là bậc thầy tổ của 8 tông phái Đại thừa Phật giáo, ngoài ra còn quán triệt đạo lý của mỗi tôn giáo khác trên đất Ấn lúc bấy giờ. Lập trường thuyết giáo của Ngài vững chắc cho đến nỗi không có một học phái Đại thừa nào sau Ngài vượt qua nổi khi giải thích về những giáo lý căn bản của Phật dạy. Mật tông Phật giáo cũng như các tông phái Đại thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường không lý của Ngài (Trung Quán). Ngài được so sánh như là Phật Tổ tái thế.

Ngài Long Thọ về sau truyền pháp này cho Ngài Long Trí, là một cao tăng tại viện Đại học Nalanda.

Đại học đường Nalanda là trường Phật giáo lớn nhất ở Ấn Độ. Nơi đây rèn đúc các vị cao tăng Mật Giáo và các tông phái Đại thừa khác. Chư vị Tổ Sư nối nhau mà truyền đạo phần nhiều đều dạy học tại trường ấy. Các Ngài Vô Trước, Thế Thân đều từng là giáo sư tại viện đại học đầu tiên này của Phật giáo. Giới Hiền Luận Sư cũng đã nối tiếp làm Thượng tọa tại đây. Lúc ông đã trên trăm tuổi, Huyền Trang ở Trung Quốc sang vào năm 633 và đã thụ pháp với ông. Các cao tăng hoằng truyền Mật Pháp ở các nước khác sau này đều xuất thân từ đây.
Ngài Long Trí sau khi thọ pháp với ngài Long Thọ, đã truyền pháp và giáo hóa các nước miền Nam Thiên Trúc và Tích Lan. Ngài Long Trí đã thọ hơn 700 tuổi.

Mật Giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản và về hướng Nam để qua mấy xứ Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Cao Miên, Lào… để trở thành 2 ngành Mật Giáo chính: Mật tông Nam Tông và Mật tông Bắc Tông.( trích tư liệu từ nguồn mật pháp phật giáo tinh hoa yếu lược ).
Do một nhân duyên, Minh Thiên được biết đến mật chú Chuẩn đề từ một vị cư sĩ trong đời thường đã hướng dẫn Minh Thiên chuyên tu về pháp Chuẩn đề, dựa vào cái gốc căn bản đó và thông qua quá trình tiếp xúc học hỏi thêm từ các bậc thiện tri thức khác và hòa thượng Thích Nhật Quang , Minh Thiên đã dần hoàn thiện thêm kiến thức về mật pháp Chuẩn đề , hội nhập vào phần tinh túy nhất và phát triển nó theo đúng chánh pháp của nhà phật.
con đường tu tập và tìm hiểu về mật pháp vẫn còn dài, những kiến thức mà Minh Thiên biết vẫn chỉ là giọt nước trong đại dương phật pháp, nhưng Minh Thiên tin rằng với tâm cầu đạo chân chính với mục đích làm lợi ích phổ độ cho chúng sinh thì từ kiếp này đến vô lượng kiếp về sau Minh Thiên sẽ luôn luôn hoàn thành được tâm nguyện của mình trong kiếp đời này và vô lượng kiếp về sau đúng như một trong tứ hoằng thệ nguyện : phật pháp vô biên thệ nguyện học, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Minh Thiên.

I

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: CHỌN PHÁP TU CHUẨN ĐỀ
Đã gửi: Thứ 3 23/08/11 8:26 


Chúng tôi rất muốn tu tập để chuyển hóa nghiệp khổ của mình nhưng hoàn cảnh gia đình không mấy thuận lợi, chật chội, ồn ào và có vợ con. Hiện chúng tôi chưa đủ điều kiện để thực hành ăn chay, vậy trì chú Chuẩn Đề có được không? Tôi nghe nói trì chú Chuẩn Đề hay bị khảo, tính tình nóng nảy có đúng không? Có pháp môn nào thích hợp hơn trì chú không, bởi hiện tại chúng tôi cũng lớn tuổi và sức khỏe không được tốt? Mong quý Báo giới thiệu một pháp môn tu tập thích hợp và cho chúng tôi những lời khuyên.

Tu tập để chuyển hóa là một nhu cầu quan trọng trong đời sống con người. Một người với đời sống gia đình bình ổn cũng cần tu tập để tăng trưởng phước báo, phát triển đạo đức, thăng hoa tinh thần. Với những người có hoàn cảnh riêng như bệnh khổ chẳng hạn, thì nhu cầu tu học lại càng cấp thiết hơn. Phát khởi được tín tâm, mong muốn tu tập, thực hành lời Phật dạy để chuyển hóa khổ đau của các bạn là những nỗ lực đáng trân trọng.
Thường thì khi mới phát tâm tu tập, ai cũng ái ngại về hoàn cảnh gia đình; chật chội, ồn ào, nói chung là không thanh tịnh. Tất nhiên, so với những gia đình có phòng thờ để lễ bái và tịnh niệm riêng thì đây là một bất lợi. Tuy vậy, yếu tố quyết định trong tu tập là chánh niệm ngay nơi tự tâm, hoàn cảnh bên ngoài chỉ trợ duyên thêm mà thôi. Quan trọng hơn, tu tập là giữ tâm chánh niệm với pháp môn mọi lúc mọi nơi trong đời sống hàng ngày, không phải đợi đến lúc ngồi trước bàn thờ trang nghiêm thanh tịnh mới tu. Vì thế, nếu cố gắng và thành tâm thì bạn có thể tu niệm được dù hoàn cảnh và điều kiện sống khá vất vả, chật chội và ồn ào.
Một người sống với gia đình, vợ chồng, con cái và chưa đủ duyên để thực hành ăn chay vẫn tu tập tốt và không có gì chướng ngại. Ăn chay nhằm nuôi dưỡng lòng từ, góp phần hạn chế sát sanh và phòng ngừa bệnh tật. Cố nhiên, ăn chay được sẽ tốt hơn vì ăn chay giúp cho thân tâm nhẹ nhàng, thanh thoát, có tác dụng trợ duyên cho tu tập thiền định hữu hiệu hơn. Những sinh hoạt thế thường trong đời sống gia đình như tình cảm vợ chồng và những việc khác v.v… nếu áp dụng đúng với năm tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức của người cư sĩ (năm giới) thì không ảnh hưởng gì đến việc tu tập của hàng cư sĩ tại gia cả.
Riêng vấn đề tu tập trì chú Chuẩn Đê, về cơ bản đó là một pháp trong vô lượng pháp môn tu, trong hoàn cảnh thực tế của các bạn như đã trình bày vẫn thực hành và trì niệm được. Tuy nhiên, để trì niệm thần chú Chuẩn Đề có kết quả cao cần phải tuân thủ theo nghi quỹ, pháp thức và ấn quyết từ một vị thầy có kinh nghiệm về Mật tông. Hiện có khá nhiều người vẫn tin rằng tu tập (trì chú Chuẩn Đề, tụng kinh Kim Cang, Pháp Hoa…) sau một thời gian thì tính tình nóng nảy, bị khảo đảo v.v… Những quan niệm như trên hoàn toàn không phù hợp với Chánh kiến, cần phải dẹp trừ. Bởi Chánh pháp là cam lộ (ngon ngọt và mát mẻ), thực hành Chánh pháp tất nhiên sẽ an lạc và thanh lương, chuyển họa thành phúc, chuyển mê khai ngộ. Cần chú ý rằng, những diễn biến không như ý xảy ra sau một thời gian tu tập chỉ đơn thuần là sự trùng hợp ngẫu nhiên của tiến trình nhân quả bình thường của tự thân. Đúng ra, vào thời điểm nhân quả chín muồi ấy, chuyện xấu xảy ra sẽ dữ dội hơn nhưng nhờ trước đó có tu tập, những việc xấu ấy cũng xảy ra nhưng nhẹ bớt và người tu đón nhận nó vững vàng hơn, chứ không phải vì tu tập nên nó mới “đổ nghiệp”.

Nguồn: internet

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 25/06/13 15:12 

Kính gửi thầy Minh Thiên !
Lời đầu tiên cho phép tôi xin gửi đến thầy lời chúc sức khỏe.
Tôi tình cờ được biết đến diễn đàn Mật việt và được dự đàn lễ cầu siêu cho thai nhi tại chùa Quan nhân hôm 19//5/2013, kể từ ấy đến nay diễn đàn Mật việt thực sự là một cẩm nang rất tin cậy để tôi tìm hiểu kiến thức về Phật giáo, về lĩnh vưc tâm linh điều mà từ trước đến nay tôi rất mù mờ, được đọc các bài viết tôi hiểu ra được nhiều điều lắm, có điều kiện để nhìn lại bản thân mình, cố gắng điều chỉnh tâm tính để tích đươc ít phúc để dành sang kiếp sau, tôi vô cùng biết ơn BQT diễn đàn thông qua thầy xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thành viên của diễn đàn.

Qua diễn đàn biết thầy rất am hiểu về việc thờ cúng nên tôi có một băn khoăn muốn hỏi thầy mong thầy phát tâm chỉ dẫn giùm. Đó là vợ chồng tôi đã ra ở riêng từ rất lâu và đang sinh sống tại Hà nội, khi xây được căn nhà mới chúng tôi có mời thầy về nhà lập cho ban thờ mới và thỉnh tượng phật Quán thế âm bồ tát về thờ tại bệ cao chính giữa ban thờ, một bên phải từ trong nhìn ra đặt bát hương thờ thần linh, còn bên trái là bát hương thờ gia tiên, khi đó bồ mẹ chồng tôi còn sống, nay các cụ đã lần lượt qua đời (cụ bà mất nam 2010. cụ ông mất năm 2011 toàn bộ anh em gia đình nhà chồng tôi cũng như bố mẹ chồng tôi đêu sinh sống tại Đà nẵng). Nay vì hai nơi ở cách xa nên chúng tôi muốn rước ảnh các cụ về thờ tại gia đình mình thì có phải tôn lại bát hương mới cho gia tiên không ? nếu tôi cứ để nguyên bát hương thờ gia tiên cũ và đặt ảnh các cụ lên bàn thờ thì có bị phạm gi không ? mong thầy bớt chút thời gian chỉ dẫn giùm xin gửi tới thầy lời cảm ơn chân thành nhât.

Kính thư
Nguyễn thị Thanh Thủy


Thân chào bạn Thanh Thủy.
Lời đầu tiên Minh Thiên xin chúc phúc đến gia đình bạn, ngưỡng mong cùng với thời gian, khi mà kiến thức về tâm linh của bạn ngày càng phát triển, thì việc thờ cúng của gia trung nhà bạn cũng sẽ tốt đẹp hơn lên nhiều phù hợp với câu Âm có siêu thì Dương mới thái.
Sau khi đọc xong thư của bạn, thấy đây cũng là vấn đề mà nhiều gia đình đang mắc phải vì thế Minh Thiên nhân việc trả lời bạn thì đưa luôn lên diễn đàn để giúp cho nhiều gia đình khác có cái nhìn đúng về việc thờ cúng sao cho phải phép.

Chư phật bồ tát là những vị tối thắng tối tôn và không thể cúng bái bằng đồ mặn, việc bạn để chung trên một ban thờ dù có kê cao thì cũng không đúng, khi bạn cúng thần linh và gia tiên bằng đồ mặn, vô tình bạn đã xúc phạm đến chư vị, chư Phật và bồ tát thì không trách cứ chúng sinh vô minh, nhưng ở đâu có Phật là ở đó có hộ pháp, và các vị này để giữ sự trang nghiêm thanh tịnh sẽ dùng nhiều hình thức phương tiện để thông báo cho bạn cho đến khi bạn hiểu ra vấn đề , ở đây là bằng hình thức cho bạn tham dự pháp đàn cầu siêu của tập thể anh chị em đạo hữu diễn đàn MẬT VIỆT, rồi bạn có cơ hội để hỏi vấn đề của mình và được hướng dẫn cho việc sửa sai.
Bạn nên tách riêng ban Phật ra và đưa lên cao phía trên ban thờ Thổ công và nó phải ở chính giữa so với ban Thổ công chứ không phải tọa bên phải hay bên trái ban thờ Thổ công như nhiều gia đình vẫn làm, nếu như điều kiện gia đình bạn khá giả, bạn nên thờ Phật ở riêng một phòng ở tầng trên, như vậy sẽ bảo đảm tính trang nghiêm trong việc thờ phụng.

Mỗi người đàn ông khi ra ở riêng thì đều có một bà cô trong họ đến ở cùng và thành bà tổ cô của nhà đó, bà này rất thiêng hay che chở và giúp đỡ chủ nhà thoát khỏi nhiều nạn tai cũng như công cuộc làm ăn, nhưng bà có thiêng hay không là do gia chủ có biết tôn hương thờ cúng và thờ đúng cách nữa hay không, trong thư bạn viết thì gia đình bạn bị thiếu mất bát hương Bà tổ cô, bạn phải tôn thêm bát hương Bà tổ cô.
Và trật tự của các bát hương ở ban Thổ công Gia tiên khi nhìn vào sẽ là giữa Thổ công to và cao hơn bát Gia tiên Tổ cô .
Bên tay phải nhìn vào sẽ là bát hương Gia tiên.
Bên tay trái nhìn vào sẽ là bát hương Bà tổ cô.
Nhưng nếu như thế thì trong gia trung bạn ở sẽ có tổng số là 4 bát hương và 2 ban thờ,điều này thì rất kiêng kỵ, vì thế nếu bạn làm ăn buôn bán thì bạn nên tôn thêm một ban thờ bát hương Thần tài, hoặc nếu không buôn bán thì tôn thêm một bát hương ban thờ thần Bếp ( Định phúc táo quân ), như thế là trong nhà có ba ban thờ và 5 bát hương phù hợp với ngũ hành và tam tài thiên địa nhân.
Như bạn nói nếu bạn muốn giữ lại bát hương Gia tiên và không muốn tôn lại thì vẫn có thể làm được, nếu Minh Thiên là người thầy phải làm cho bạn thì Minh Thiên sẽ sử dụng đến Mật chú triệu thỉnh hương linh ông bà nhập bát hương cũ , và sau đó khai quang an vị là xong, dĩ nhiên trước khi làm được điều này ta vẫn phải có lễ lạt và khoa cúng xin phép Thổ công và Gia tiên chấp thuận chứ không phải ta cứ đặt ảnh lên là ok , bạn cứ lấy lễ nghĩa trần sao thì âm vậy mà.
Hy vọng sau khi bạn đọc xong thì bạn sẽ có sự thay đổi về việc thờ cúng trong một thời gian ngắn để cho mọi sự được tốt đẹp.
Thân chào bạn.
Minh Thiên.
Sdt 0943666611.
Email MINHTHIEN.MATVIET@YAHOO.COM
Diễn đàn MATVIET.ORG

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 17/01/14 23:19 

nhận thấy đây là câu hỏi của nhiều đạo hữu sơ cơ mới bước chân vào tu tập mật chú , nên Minh Thiên trả lời lên đây để giúp các bạn hiểu thêm và vững tin vào con đường tu tập, bởi vì những cái gì mà Minh Thiên đã trải qua và làm được thì chắc chắn các bạn cũng sẽ làm được và đây là câu hỏi của bạn Nghĩa cư trú tại Anh quốc:
Em rất cảm ơn anh đã truyền pháp cho em! Mấy ngày qua em bắt đầu tập ! Cho em hỏi thêm chữ ram có phải là chữ nho màu đỏ gồm 2 chữ bên trên hay không ạ? Hay là quán chữ Ram như tiếng việt ạ! Chư nho ấy rất nhiều nét rất khó ạ! Xin anh chỉ dạy dùm em

Minh Thiên trả lời :
chữ mầu đỏ đấy gồm có cái chấm ở trên là đúng rồi em a, đó là chữ phạn chứ không phải chữ nho.
em đầu tiên mở mắt nhìn kỹ chữ đó rồi nhắm mắt quán tưởng ra nó, sau đó lại mở mắt nhìn nó rồi lại nhắm mắt quán tưởng đến nó, đầu tiên nó sẽ phai mờ phù trầm không rõ nét, được dấu chấm thì mất cái thân, được thân thì mất dấu chấm,nhưng rồi dần dần khi em kiên trì luyện tập thì bất ngờ đến một lúc nào đó nó bất thình lình hiển hiện rõ ràng và cháy sáng rực đến nỗi mắt em lúc đó đang nhắm mà vẫn thấy chói sáng như đèn hồ quang và rồi sau đó bất kỳ khi em nhắm mắt hay mở mắt nếu muốn nhìn thấy nó thì nó đều xuất hiện, và khi đó em còn có thể dùng ý nghĩ để điều khiển nó to hay nhỏ chạy ra xa hay gần hoặc biến ra thành trăm ngàn chữ RAM tự khác đầy cả bầu trời.
trong tu trì mật pháp thì giai đoạn quán tưởng các chủng tử Phạn tự là vô cùng quan trọng, thành công chỉ đến với những ai vượt qua khó khăn và nhẫn nại.
em trong giai đoạn sơ cơ thì việc quán tưởng với một chữ Ram đó thì chưa ăn thua, bản thân anh lúc này mỗi khi ngồi còn quán ra cả một cái kính đàn trắng bạc nằm trong vòng lửa đỏ có 9 chữ chuẩn đề có 5 màu sắc khác nhau, đường nét rõ ràng phát ra hào quang khắp 10 phương thế giới, nếu chỉ so với một chữ ram tự của em thì quá bình thường và đơn giản.
trong vòng một trăm ngày em không nên đọc sách hay tài liệu gì khác nữa mà hãy chuyên tâm vào việc luyện âm thanh và quán tưởng chữ RAM tự đó thôi thì sẽ mau thành công.
lúc đầu khi anh đọc tài liệu về mật chú, anh cũng không tin là các bậc chân sư mật tông có thể quán được cả một thế giới trong một hạt đỗ, nhưng càng theo thời gian thì bây giờ anh công nhận điều đó là sự hiển nhiên, và vì anh cũng là một con người bình thường như em đã làm được thì chắc chắn em cũng sẽ làm được, lâu hay mau còn tùy thuộc theo ý chí của em.
anh chúc em mau chóng vượt qua giai đoạn đầu này.

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 04/05/14 8:56 

Minh Thiên có duyên được giao tiếp với rất nhiều anh chị em là Việt kiều ở xa quê hương tại các nước như Anh, Mỹ, Ca na đa, Thụy điển , Hà lan, cộng hòa Séc, liên bang Nga, Đức ,thông qua những chuyện chia sẻ về con đường tu tập phật pháp thì cũng có hỏi thăm về vấn đề thờ cúng tổ tiên thì mới biết người Việt ta nhất là tầng lớp trẻ đang mất dần đi cái đạo thờ cúng ông bà tổ tiên của nền văn hóa dân tộc Việt nam, tại sao mất thì tất nhiên nó cũng có nguyên nhân.

Người Trung Hoa đi đến nước nào cũng mang theo nền văn hóa bản địa của họ đi theo, ví dụ như Đạo Khổng, đạo Lão , Chu dịch và thuật phong thủy, chúng ta những người đã làm công việc tâm linh ai cũng biết câu nói cửa miệng là nhất mệnh nhì vận tam phong thủy , và nó phát xuất từ người Trung Hoa…
người Tây tạng khi đi ra nước ngoài sống thì lại đem mật Tạng bí truyền ra phổ biến ra bên ngoài làm cho cả thế giới đểu biết đến nền văn hóa Tây tạng.
những dân tộc trên họ đều có bản sắc dân tộc riêng của họ đem ra thế giới, vậy còn người Việt mình thì có điều gì đặc biệt không khi ra nước ngoài sống và định cư.
trước khi đạo phật du nhập vào Việt nam thì người Việt đã có một cái đạo đó là đạo thờ ông bà tổ tiên , đạo này cũng phù hợp với tiêu chí nhà phật, phật tử nào cũng thuộc lòng câu thượng báo tứ trọng ân hạ cứu tam đồ khổ, một trong tứ trọng ân là báo đáp ân nghĩa tổ tiên cha mẹ sinh thành, mà trong đó thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất là một việc đạo hiếu mà bất cứ người nào là con dân Việt đều nên làm, vì thế nên khi đạo phật du nhập vào Việt nam nó mau chóng được hòa nhập đời sống dân tộc Việt, lúc trước bên công giáo không cho tín đồ được thờ phụng ông bà tổ tiên thì bây giờ để có thể hòa nhập và phát triển vào đời sống giáo dân ở Việt nam, có nơi họ đã cho phép các con chiên được phụng tự ông bà tổ tiên thay vì ngăn cấm.
Ngày nay khi mà hệ thống truyền thông đã phát triển ra khắp nơi trên thế giới thì người Việt nào dù ở bất cứ đâu trên thế giới nếu chịu khó vào các trang mạng tâm linh thì cũng đều biết là bên cạnh đời sống dương trần còn có một đời sống của người cõi âm , chăm sóc thờ phụng ông bà tổ tiên cũng chính là chăm sóc cho chính gia đình mình vì âm có siêu thì dương mới thái, người âm có phù thì người dương mới đến trợ được.
Mỗi lúc giao thừa đến mùa xuân về, các gia đình người Việt xa xứ nếu chưa có điều kiện về Việt nam ăn tết, thì theo phong tục truyền thống lại quây quần trong phòng khách, nơi có ban thờ ông bà tổ tiên bày bánh chưng xanh câu đối đỏ, những người già lúc đó lại trầm mặc nhớ về quê hương, cây đa bến nước con đò, con sông xưa mái nhà cũ ,trong khói hương man mác và cái thời tiết se lạnh , linh khí của tổ tiên như quanh quất đâu đây cùng chia sẻ cái không khi ấm cúng đoàn tụ gia đình của buổi giao thời, đây lại là lúc các con cháu được ông bà nhắc nhớ thêm về nguồn cội xuất xứ , từ đó hun đúc thêm tình yêu đất nước dân tộc mãi không phai, dù có đi đến bốn phương trời nhưng vẫn không bao giờ quên mình là người mang dòng máu con dân đất Việt.
Người Việt trẻ xa xứ đôi khi có những người chưa tiếp cận nhiều lắm với kiến thức tâm linh nên vẫn có thắc mắc mình ở xa quê thế này thì liệu nếu có thờ cúng thì có ông bà tổ tiên nào đi theo đến nhà mình ở không nhỉ, mà họ không theo thì lấy ai phù hộ..?
Thật ra đây là một ý nghĩ sai lầm, chúng ta đang sống ở một không gian ba chiều, nhưng người cõi âm họ sống ở một cảnh giới nhiều chiều hơn nữa đan xen trùng trùng vào cảnh giới của chúng ta, và vì họ không còn thân tứ đại nặng trược ,đi và đến bằng tư tưởng nên dù bạn ở bất cứ đâu trên trái đất này thì khi bạn nghĩ đến những người thân đó , thì do sự cảm ứng tương tác ngay tức khắc là họ đã ở bên cạnh bạn, vì thế khi bạn thiết lập trang thờ thờ phụng họ là họ đã đến ngự trong nhà bạn rồi, nói ví dụ như năm 2013 tôi có gọi vong cho một cô Việt kiều ở Anh quốc về Việt nam gọi vong người thân, vong tuy an táng ở bên Anh quốc nhưng khi gọi ở Việt nam vong vẫn lên nói chuyện bình thường, điều đó chứng tỏ sự xa cách về địa lý chỉ là vấn đề của người trần mà thôi.bạn có thể đọc bài này qua đường link để biết thêm:
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=85&t=1976

Lại nữa là ở nước ngoài hệ thống thờ phụng thần linh của họ khác, còn mình thì lại thờ thổ công, thổ địa , thần tài, chúa đất là hệ thống thờ phụng theo tín ngưỡng của Việt nam , vậy thì khi mình thiết lập trang thờ theo tín ngưỡng Việt nam ở nước ngoài thì liệu các vị thần linh ở bản xứ ấy họ sẽ ra sao, và các vị thần linh thổ công chúa đất theo tín ngưỡng Việt nam sẽ ngự như thế nào trong nhà mình..?
Thật ra thì theo nguyên lý đạo chỉ có một, toàn thể vũ trụ chỉ có một thượng đế tối cao hoặc là gì đó tùy theo tín ngưỡng từng người và các đại thần linh cai quản vũ trụ trông coi về phần xác và phần hồn của nhân loại , nhưng do địa lý ,bản sắc dân tộc, tín ngưỡng khác nhau nên mới có chia ra nhiều đạo giáo, tôn giáo, nhưng rốt cục thì trăm sông cũng chỉ đổ về một biển mà thôi, và các vị thánh thần cũng tùy theo tín ngưỡng của vùng miền mà biến thiên ra làm các loại hình tướng cho phù hợp với quan niệm thờ cúng của chúng sinh ở đó.
Vì vậy khi ta lập bát hương thổ công ở Anh quốc chẳng hạn thì ông thần linh được giao nhiệm vụ cai quản chúng sinh tại nơi đó cũng vui vẻ hóa thân thành hình tướng ông thổ công theo quan niệm thờ cúng của người Việt để nhận sự cúng dường của gia chủ và hộ trì cho họ, cũng như đức mẹ Đồng trinh bên công giáo khi sang bên đạo phật đã trở thành mẹ Quán thế âm bồ tát, và ngay như Quán thế âm bồ tát trong kinh Phẩm Phổ môn cũng hóa thân thành 32 hình tướng và nhiều hơn nữa để phù hợp với hoàn cảnh, cốt sao độ được cho tất cả các thành phần chúng sinh đủ loại sắc tộc , văn hóa ,tín ngưỡng từ các cõi trời cao cho đến tận mặt đất là được.
Sau khi chuyện trò với các anh chị em kiều bào sống ở các nước khác nhau trên quả địa cầu này,thì Minh Thiên mới biết thêm một điều là kiều bào ta ở nước ngoài, nhiều người do hoàn cảnh áp lực công việc đi làm từ sáng sớm đến tối mịt nên ít có thời gian chu toàn cho việc tôn hương lập trang thờ phụng tự , tâm thờ cúng ông bà tổ tiên thì có , nhưng để có thể thiết lập một ban thờ thờ phụng ông bà tổ tiên cho đàng hoàng như ở Việt nam thì các thứ đồ thờ cúng cũng không phải dễ dàng có thể mua sẵn được ở bên đó theo ý muốn , mà dù có mua được đồ thờ cúng như bát hương ban thờ theo ý muốn thì cũng không phải có thể dễ dàng mời được thầy đến nhà tôn hương phụng tự như ở Việt Nam, và cái chính nữa là họ không biết sẽ phải bắt đầu từ đâu, ai có thể hướng dẫn và giúp được cho họ ?
Bên cạnh đó không phải gia đình nào cũng là thuần Việt, một khi con gái đi lấy chồng tây thì đương nhiên nhập gia tùy tục sẽ phải đi theo chiều hướng tâm linh của nhà chồng, chỉ còn duy nhất là những gia đình thuần Việt hoặc chồng là người Việt thì mới giữ theo phong tục nếp sống của người Việt mà thôi, mà trong nếp sống văn hóa thuần phong mỹ tục của văn hóa Việt thì đạo thờ ông bà tổ tiên được đưa lên hàng đầu, mỗi khi thắp nén tâm hương trước ban thờ tổ tiên khấn vái bằng tiếng Việt thì đó lại là việc nhắc nhở cho mình và con cháu dù có ở đâu xa chăng nữa vẫn nhớ mình vẫn là người Việt, mang dòng máu Việt.
Và cũng như các cụ có nói có thờ có thiêng, có kiêng có lành, các hương linh ông bà tổ tiên khi đã có nơi thờ phụng đàng hoàng thì lại ra sức phù hộ độ trì tiêu tai giải nạn cho con cháu trong tầm tay có thể , vậy là việc thờ cúng ông bà tổ tiên kể cả về lý hay sự đều chẳng mất đi đâu cả.
Và thế là sau nhiều lần đàm đạo tìm hiểu với nhiều đạo hữu Việt kiều sống ở các nước khác nhau về việc thờ cúng lễ bái ông bà tổ tiên, thấu hiểu việc thiết lập một ban thờ để phụng tự lễ bái ông bà tổ tiên sẽ khó khăn ra sao đối với người Việt xa xứ nên Minh Thiên đã nghĩ ra một phương pháp giúp đỡ cho họ một cách thật bài bản phù hợp với tiêu chí tâm linh và Minh Thiên đem áp dụng luôn cho một số gia đình Việt kiều ở Mỹ.

Ở nước ngoài để có thể mời được một người thầy đến cúng lễ cho thì có khi phải đi hàng trăm cây số, mua đồ thờ cũng vậy mà có khi cũng không đầy đủ như ở Việt nam, vậy từ bây giờ trở đi bất cứ gia đình nào bên nước ngoài khi muốn lập trang thờ ông bà tổ tiên thì họ chỉ cần liên lạc với Minh Thiên, sau đó tùy kích cỡ nhà ở của họ mà Minh Thiên sẽ tư vấn cho họ nên sử dụng lư hương cùng kích cỡ ban thờ sao cho phù hợp với không gian thờ ,sau khi họ đã thống nhất ý kiến thì Minh Thiên sẽ mua giúp bát hương cho họ ở Việt nam, tiến hành sắp xếp tất cả theo trật tự từ bài vị cốt bát hương, tro , tác pháp trì chú gia trì vào để hoàn chỉnh thành một bát hương có thể sử dụng được , và sau đó gửi chuyển phát nhanh sang cho họ kèm theo bản hướng dẫn về phương hướng đặt ban thờ phù hợp với cung tuổi của họ theo phong thủy, rồi tùy thuộc theo ngày nghỉ của gia đình họ bên đó mà xem ngày giờ thuận tiện thì tiến hành đàn lễ tiến cúng trình cáo thần linh gia tiên khai quang an vị lư hương cho họ.
Về vấn đề cúng lễ thì đây là việc quan trọng nhất, như Minh Thiên đã nói việc mời thầy ở nước ngoài là rất khó khăn ,vì vậy bên cạnh việc lo cho gia đình bên đó tất cả đồ thờ xong, thì Minh Thiên cũng kiêm luôn cả việc cúng lễ cho họ trực tiếp thông qua cổng internet, vì như các cụ vẫn nói là đã thương thì thương cho trót, cũng may là bây giờ thời buổi công nghệ thông tin đã phát triển đến đỉnh cao, nên trong buổi lễ khi họ đang ngồi giữa đàn lễ bên đó thì thay vì phải có một ông thày bằng xương thịt đến tận nơi thì họ vẫn nhìn thấy Minh Thiên bên này đang trực tiếp tiến hành kết ấn trì chú, quán tưởng theo pháp mật tông, cúng bái tuyên sớ cho họ thông qua cổng in ternet, cũng vẫn nghiêm trang như nhau vì đã là việc thánh thần thì không phải là công việc thiếu nghiêm túc được, các bạn cũng có thể đọc thêm về bài nói về phương pháp tôn bát hương để hiểu thêm :
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1265

http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1993

đọc đến đây thì có người lại băn khoăn liệu làm như thế thì có hiệu quả không, xin thưa rằng dù có lễ bái thông qua cổng internet thì nó vẫn hoàn toàn có hiệu quả y như trực tiếp ở đó, và về sau nếu có ai đã có chút cảm ứng tâm linh khi nhìn vào những bát hương đó sẽ đều cảm nhận thấy có linh khí, điều đó cho thấy việc hành lễ cúng bái đúng khoa pháp trình tự cộng với uy lực gia trì của mật chú là không thể nghĩ bàn, sự ngăn cách về địa lý không còn là vấn đề nữa, vấn đề khó khăn nhất về việc sắm sửa đồ thờ cùng mời thầy đến nhà đã được giải quyết thật là đơn giản và tiện lợi cho gia chủ trong thời buổi công nghệ cao phát triển.
Lấy ví dụ như có gia đình con cháu bị ma quỷ hành bệnh mà không đem trực tiếp đến thầy pháp chữa được, người thầy sau khi làm phép xong thì ở bên kia người bệnh cũng khỏi, hoặc lấy ví dụ khác như cái vong ở Anh quốc, khi Minh Thiên ở bên này tác pháp thì nó vẫn về, vậy việc thành công của một đàn lễ hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực hành pháp và sự hiểu biết của người thầy , sự gia trì của bề trên và tín tâm của gia chủ, chứ không còn bị ngăn trở bởi sự xa cách về địa lý nữa , nhất là thời buổi bây giờ lại còn được hệ thống mạng internet hỗ trợ , cả thầy lẫn chủ nhà đều nhìn thấy nhau và cả hai đều biết bên kia đang làm gì trong thời điểm này ?
Ngoài vấn đề tôn hương phụng tự ông bà tổ tiên ra, thì ngay cả khi những gia đình kiều bào nào ở nước ngoài có tâm nguyện mong muốn được gặp ông bà tổ tiên thì dù họ không có về Việt nam, và Minh Thiên cũng không có sang bên đó, nhưng thông qua cổng internet và sự hỗ trợ của mật chú và chư vị trong siêu hình , Minh Thiên vẫn gọi được các vong linh nhà họ lên gặp người thân ở bên đó như thường, dĩ nhiên là gia đình họ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như sau, đây là đường link để tham khảo :
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=85&t=1957
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=85&t=141

không những chỉ như thế mà nếu gia chủ nào ở bên đó vẫn còn có mộ phần ông bà tổ tiên ở Việt nam, nếu một ngày đẹp trời nào đó mà có đi xem bói mà thầy bói nói mồ mả ông bà tổ tiên bị động mà phải tạ ngay không thì con cháu bên này nguy to, hoặc tuy không động gì nhưng nếu tạ mộ thì tổ tiên lại độ cho công việc tốt hơn, nhưng do tình hình công việc không phải cứ nói về là về được thì Minh Thiên theo yêu cầu của gia chủ vẫn đến phần mộ của tổ tiên nhà họ ở bất kỳ nơi đâu trên mảnh đất Việt nam này để tiến hành tác pháp tạ mộ cho gia đình nhà họ , lẽ dĩ nhiên là lúc Minh Thiên ở bên này đang tác pháp tạ mộ thì bên kia thông qua cổng internet họ cũng phải nghiêm trang theo dõi và lễ bái theo y như họ đang có mặt trực tiếp tại hiện trường kính hồn như hồn tại thì công việc nó mới đạt hiệu quả , chứ không phải là cứ giao phó hết cho ông thầy là xong còn mình thì đi làm việc khác ,vì theo thông lệ mỗi khi Minh Thiên hành lễ tạ mộ cho ai xong bao giờ cũng triệu thỉnh hương linh dưới mộ lên nhập vào ai đó nói chuyện với nhà chủ để chứng minh cho họ thấy người thầy đã hoàn thành công việc đúng như họ kỳ vọng, công sức của họ bỏ ra hoàn toàn không lãng phí, tất nhiên là gia chủ có thể trực tiếp nói chuyện với hương linh thông qua điện thoại, tất cả thành công đó đều dựa vào một chữ tâm, tâm của người thầy trong việc lưu giữ phát triển cái đạo thờ phụng ông bà tổ tiên của dân tộc Việt và tâm uống nước nhớ nguồn báo hiếu tổ tiên của gia chủ , lúc trước mà kể chuyện này ra thì chẳng ai dám tin đó là sự thật nhưng nó vẫn diễn ra, về phần tạ mộ các bạn có thể tham khảo thêm ở đường link sau :
http://www.matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1974

Vậy tất cả những việc như trên sẽ mang lại ý nghĩa gì cho người Việt xa xứ, nó chứng minh một điều là dù bạn ở bất cứ nơi đâu trên thế giới thì hương linh ông bà tổ tiên đều luôn gần mình khi mình nghĩ nhớ về họ và làm tất cả những việc tâm linh để báo hiếu cho họ , những việc tâm linh đó sẽ gắn kết quan hệ giữa hương linh ông bà tổ tiên với con cháu đang sống trên dương trần ở nơi xứ lạ được gần hơn, chữ hiếu được xác định rõ nét hơn thông qua những việc thiết thực trên , nó góp một phần duy trì bền vững mãi một cái đạo, đó là đạo thờ ông bà tổ tiên của người Việt, nó làm cho những người con Việt dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng không bao giờ quên mất nguồn gốc , quên mất quê hương đất nước của mình, và linh khí của ông bà tổ tiên, hòa quyện lại thành linh khí hồn thiêng của một dân tộc vẫn mãi đi theo từng đứa con xa xứ , nâng đỡ cho các con mãi bình an hạnh phúc ở phương trời xứ lạ .
Minh Thiên.
Ba đình – Hà nội
Sdt 0943666611
Email : minhthien.matviet@yahoo.com
Diễn đàn MATVIET.ORG

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: QUỶ ÁM
Đã gửi: Chủ nhật 28/09/14 23:34 

Chánh quyền Hồng Kông vào những năm 1980 đến 1994 đã phát giác được nhiều trường hợp kinh hoàng về quỷ ám.
Một sự kiện có thật xảy ra vào tháng 10 năm 1993, khi tòa soạn một tạp chí chuyên viết về hiện tượng siêu linh huyền bí ma quỷ nhận được một cuộc điện thoại cầu cứụ. .Người gọi điện thoại tự xưng là Lý Triệu Quỵ ,qua đường dây điện thoại, Quy nói với nhân viên tòa soạn như sau:
-Xin quý vị hãy giúp chúng tôị ,Chúng tôi đang có một người bạn gái bị ma quỷ nhập, tinh thần rối loạn... cô ta tên là Đàm Lệ Sa, cô đã bị một câu chú làm hạị .
Người nghe máy là một ký giả tại tòa soạn. Trong khi nghe tiếng kêu cầu cứu của người thanh niên, ký giả còn nghe được tiếng la thét khủng khiếp của một người con gái ở bên kia đầu giâỵ Người ký giả cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy dọc xương sống.
Từ lâu ở Hồng Kông đã nghe nói tới hiện tượng kinh dị này nhưng chưa có ai thực sự chứng kiến tận mắt hiện tượng quỷ ám. Có thể đây là một dịp may hiếm có giúp tờ báo chuyên về vấn đề siêu linh huyền bí có được những chứng cớ và hình ảnh thực sự đề chứng minh điều mà từ lâu dân HK nửa tin nửa ngờ.
Ở đầu giây bên kia có tiếng người thanh niên đầy vẻ khẩn trương van nài:
-Yêu cầu quý báo giúp cho ,chúng tôi vẫn nghĩ rằng tòa soạn chắc chắn biết được người có khả năng giúp cho cô Lệ San thoát khỏi tình trạng nguy khốn như hiện naỵ ,chỉ còn hai ngày nữa thôi nếu không kịp đuổi tà ra khỏi người thì cô sẽ chết một cách thảm thương.
Người ký giả hỏi:
-Cô Sa đã bị tình trạng này bao lâu rồi anh có biết không?
-Cô ấy bị như vậy trong 7 ngày 7 đêm rồi và không ăn uống gì cả.
-Xin anh cho biết cô Sa có những cử chỉ hành động ra sao trong suốt thời gian qua..
-Mặc dù không ăn uống nhưng cô lại có sức mạnh khác thường. Cô vùng vẫy la hét muốn đập phá mọi thứ. Phải 6, 7 người khỏe mạnh mới có thể giữ được cô nằm yên được trên giường.
Sau đó, người ký giả này đã trình bày mọi sự cho mọi người tại tòa soạn. Viên chủ nhiệm đã đề nghị người ký giả và viên tổng thư ký già hãy lái xe đến gấp địa điểm cô gái đang bị quỷ ám.
Khi vừa bước xuống xe, họ đã nghe tiếng la hét đập phá phát ra từ căn nhà lụp xụp có khu vườn rộng đầy cây cốị.
Người thanh niên tên Quy bước ra cửa mời họ vào trong. Khi cánh cửa buồng mở ra, mọi người thấy một cô gái đầu tóc bù rối ngồi trên giường. Cô gái trợn trừng đôi mắt nhìn lên và thét to:
Đi ra! Hãy đi ra khỏi đây ngay!
Mắt cô gái đỏ rực như có tia lửạ , cô cố vùng vẫy nhưng tay chân đều bị trói chặt trên giường.
Người ký giả nhìn cô gái với tâm trạng lo âu sợ sệt nhưng viên tổng thư ký tòa soạn thì có vẻ bình tĩnh. Ông quan sát mặt mày, cử chỉ cô gái rồi chậm rãi nói:
-Trường hợp này giống như trường hợp xảy ra ở quê tôi vào năm 1960. Lúc đó có một cô gái bị quỷ ám, cổ cũng có sức mạnh ghê gớm, tuy bị giây thừng cột chặt nhưng vì giường tre ọp ẹp, yếu ớt nên đã gãy tan trước sức mạnh của cô gái đó.
Một người bạn của Lý Triệu Quy nghe vậy liền nói:
-Cô Đàm Lệ Sa cũng có sức mạnh lạ thường. Một điều mà trước đó, khi cô chưa bị chứng lạ thì cô rất yếu ớt, hay đau yếu khiến bạn bè cô thường gọi cô là "người trói gà không chặt" hay là "cây liễu yếu xìu"!
Lý Triệu Quy kể:
-Cô Sa thường vùng lên để giật cái cà vạt treo trên tủ quyết tâm thắt cổ mình cho đến chết khiến người nhà phải dấu cái cà vạt cũng như những thứ có thể gây chết người hay thương tích.
Viên Tổng Thư Ký tòa soạn hỏi:
-Từ ngày cô gái bị bịnh quái lạ ấy đến nay đã có ai đến cứu giúp cho cô thoát khỏi điều người ta nghi là bị quỷ ám chưả
Lý Triệu Quy nói:
-Chúng tôi có đi kiếm một số Đạo sĩ, rồi hội của những vị luyện theo phép Mật tông cầu xin họ giúp đỡ, tìm cách trục xuất quỷ ra khỏi thân xác cô Lệ Sa nhưng sau khi đến quan sát tại chỗ, họ đã lắc đầu bảo là năng lực của ma quỷ quá mạnh rất khó trị!
Nghe đến đây thì hai nhân viên toà soạn tỏ ra thất vọng. Lý triệu Quy tỏ dấu van nài:
-Chúng tôi xin quý vị giúp đỡ cho, với phương tiện báo chí trong tay, quý vị có thể kêu gọi sự nhiệt tâm ra tay cứu giúp cô gái đang trong tình trạng quỷ nhập vô cùng nguy ngập, chỉ không hơn hai ngày nữa là không còn cách gì cứu chữạ .
Trước khi ra về, nhân viên toà soạn đã phỏng vấn chớp nhoáng người thân của cô gái và chụp hình.
Theo tin tức nhận được từ lời kể lại của những người thân túc trực bên giường cô thì trước khi xảy ra sự kiện bị quỷ ám, cô gái này có quen một người tên là Hoàng Khải Quang. Anh này có cách sống khác thường nhưng lại là điều làm quyến rũ cô gáị .Anh ta có xăm trên mình hình ảnh một con chim lạ. Sau một thời gian quen biết nhau, đi chơi chung với nhau, Lệ Sa biết được người bạn trai này nằm trong một nhóm ma thuật. Càng ngày cô gái càng bị quyến dụ gia nhập vào hội và cuối cùng sự tò mò đã hối thúc và dẫn dắt Lệ Sa đi sâu vào con đường tối tăm của ma quỷ mà cô không haỵ Lệ Sa quyết định đi theo Quang để tới một địa điểm bí mật làm nghi thức nhập môn.
Trước khi bị mê sảng, Lệ Sa thường kể cho những người bạn thân nghe hôm cô gia nhập hội Ma Quỷ như sau:
"Đó là một căn hầm mỗi bề rộng khoảng năm thước. Trần hầm thấp không có mùi mốc ẩm vì luôn luôn ngập hương khói và đèn cầy cháy đỏ. Quang dẫn tôi đến trước bàn thờ có để đủ thứ đồ cúng rất lạ lùng dễ sợ. Nào là đầu lâu người và chó, những bình nước, chén nước đen ngòm bốc mùi hôi thối đến lợm giọng. Những thứ đó hòa lẫn với mùi hương trầm, mùi đèn cầy, mùi trong căn hầm làm cho thần kinh tôi như thác loạn. Tôi cảm thấy trong người chao đảo quay cuồng. Trong khi đó, anh Quang cởi áo phơi ra hình xăm con chim lạ trước ánh đèn và lửạ ,anh lấy cái bình chứa nước đen ghê rợn đổ vào lòng bàn tay xoa khắp người rồi quỳ trước bàn thờ nhắm nghiền mắt lại rồi như tỉnh lặng trong cái thế giới u ám lạ lùng ma quái đó. Khoảng 8 người khác cũng đang đắm chìm tư tưởng trong cõi giới vô hình nào đó. Một người chạy đến hỏi han tôị , tôi nghe tiếng nói thật xa xăm như đang mơ ngủ:
-Mừng cô gia nhập Hội Siêu Linh.
Một người khác chạy lại nắm tay tôi:
Để tôi giúp cô em ra mắt thần linh.
Và sau đó tôi được khích lệ uống một loại nước gì đó tôi không rõ và tôi lịm đi từ đó.
Khi tỉnh dậy tôi thấy mình khỏe hẳn ra và nhiều người đứng bao quanh mỉm cười với tôi khi thấy tôi mở mắt."
Từ đó trở đi việc học hành của Lệ Sa không còn đều đặn và thuận lợi nữạ .Cô không thích học, chỉ thích mau mau được dịp đến với Hội Siêu Linh ma quỷ. Người bạn trai có xâm mình tên Quang thường đến gọi cửa cô vào lúc nửa đêm để ra ngoài dạo chơi hoặc đi dạo dưới ánh trăng.Đôi khi họ đến những bãi tha ma, những cồn mồ hoang ở ngoại ô để đi dạo trong những giờ khắc mà ma quỷ thường xuất hiện. Họ mong gặp ma quỷ để giao lưu, tiếp xúc, chuyện trò...
Chỉ mấy tháng sau, bạn bè thấy Lệ Sa đổi khác từ tính tình cho đến vóc dáng, sắc mặt. Cô không còn vui đùa, dễ thương, hiền hậu như trước. Nét mặt thường ủ rũ, có khi đăm chiêu, có khi hung dữ. Sắc mặt trắng xanh hay bạc thếch còn thân hình thì ốm hơn trước rất nhiều, có lẽ cô sống phần lớn về đêm và ăn uống lại ít.
Theo bạn bè thuật lại thì Đàm Lệ Sa đã vì theo những người trong Hội Ma Quỷ dẫn dụ rồi bị aỏ giác, bị phù thủy ma thuật đen hãm hại nên trở thành nạn nhân của quỷ.
Hôm Lệ Sa nổi cơn điên là ngày 8 tháng 10. Lệ Sa tới phòng học, mặt mày xanh lét tự nhiên lấy đồ đạc trên bàn liệng tứ tung, đôi mắt cô long lên sòng sọc, cô đưa tay chỉ vào các bạn rồi thét to:
-Chúng mày phải chết! Chúng mày phải chết!
Rồi sau đó cô lại có ý muốn nhảy từ lầu ba xuống đất, may mắn có nhiều người bạn biết ý đã giữ cô lạị
Khi về nhà cơn mê sảng càng lên caọ Bạn bè phải phụ lực nhau cột chặt cô gái vào giường mới mong cô khỏi phá phách. (Cô Lệ Sa là một cô gái mồ côi trọ học, cô không có cha mẹ, chỉ được người chị nuôi và bà chị này cũng ở rất xạ). Từ từ, cứ mỗi lần hoàng hôn, khi nắng chiều đỏ ối nhuộm đầy cây cỏ núi đồi thì Lệ Sa lại chạy ra sân vườn vẽ một vòng tròn trên đất và vào ngồi ngay giữa vòng ấy, hai tay khoanh lại mồm nói toàn những tiếng lạ, kỳ quáị .Các bô lão thấy vậy rất sợ sệt bảo rằng đó là tiếng nói của quỷ.
Có lần Lệ Sa vào ngồi trong vòng tròn vừa vẽ xong và nói:
-Ta phải dùng vòng tròn này để giam hãm ma quỷ vào đây (?)!
Vừa nói, Lệ Sa vừa lấy tay bắt sâu kiến bò trên đất bỏ lên mặt rồi cất tiếng cười the thé rất dễ sợ , Điều kỳ lạ là lúc chưa bị quỷ ám, nàng rất sợ sâu bọ
Rồi càng ngày cơn kích động càng tăng, có khi Lệ Sa vùng vẫy thoát được một tay ra khỏi dây nịt hoặc dây chảo cột chặt cô vào thành giường. Bạn bè phải dùng đến cả dây xích sắt có khóa để giữ cô lạị . Mỗi khi cô lên cơn hung dữ, cô thường thét lên:
-Ta là con của Satan. Trước đây có ai biết được rằng ta là một con quỷ và con quỷ ấy đã tồn tại mấy triệu năm qua rồi (?) và nay vẫn còn tồn tạỉ
Thường sau mỗi câu gào thét như thế Lệ Sa lại ôm mặt khóc nức nở.
Lúc Lệ Sa bắt đầu bị quỷ ám, cô đã có sức mạnh lạ thường mà trước đó không hề thấy ở cô, Cô dùng tay nâng một lần hai chiếc ghế nặng liệng rất xa và phá phách mọi thứ trong nhà như người điên. Sáu người bạn đã xúm lại giữ chặt lấy tay chân cô mà cô vẫn vùng ra được.
Hiện nay Lệ Sa đã trải qua 7 ngày bị quỷ ám. Chỉ còn hai ngày nữa là cô lâm nguỵ Thân nhân và bạn bè của Lệ Sa năn nỉ hai nhân viên nhà báo đăng tin tức lên báo để xem ai có khả năng cứu được cô. Bài báo đã gây xôn xao dư luận công chúng ở HK, chỉ trong một thời gian ngắn, số báo in ra đã hết sạch phải in lại lần thứ haị
Mười hai giờ khuya hôm đó có tiếng một người đàn ông lớn tuổi gọi điện thoại đến cho toà soạn. Rất may là toà soạn đã cử người trực , họ nghe tiếng người đàn ông nói :
-A lô! Tôi có thể giúp chữa trị cho cô gái nhưng tôi không có phương tiện di chuyển.
Người trực trả lời:
dạ dạ! Chúng tôi sẵn sàng đem xe lại rước ông bất cứ giờ phút nàọ , Xin cho biết địa chỉ.
Ở bên kia đầu giây, người đàn ông này đã chỉ rõ giờ giấc và địa điểm nơi ông sẽ đứng chờ xe chớ không chỉ đúng địa chỉ nơi ông ta ở.
Một giờ khuya hôm đó, toà soạn đã đề cử người ký giả và viên Tổng thư ký già lên chiếc xe Peugot chạy ngay đến địa điểm hẹn. Tại đây họ gặp một người đàn ông dáng dấp khỏe mạnh trùm đầu bằng một cái khăn màu xám, tay xách một cái vali nhỏ. Khi thấy chiếc xe Peugot chạy chậm và tấp vào lề, ông ta đưa tay ra làm hiệu và đi đến bên chiếc xe:
-Có phải các anh là nhân viên toà soạn.
dạ thưa phải, vậy ông thầy là người đã. ?
Người đàn ông tỏ ra nôn nóng:
Đúng vậy, đúng vậy! Chúng ta cần phải nhanh lên, các anh hãy chở tôi đến nhà cô gái ấy ngaỵ
Chiếc xe lao vút đi trong đêm khuyạ ,khi xe ngừng ở cửa nhà cô gái, trong nhà vẳng ra tiếng kêu la dữ dộị ,người ký giả nhảy xuống xe và gõ cửạ .
Người thanh niên tên Quy ghé mắt nhìn qua cửa kính rồi mới đi mở cửạ ,thấy hai người ở toà soạn trở lại, anh mừng quá nói trong hơi thở:
-Trời ơi! Các ông tới đúng lúc, chúng tôi hoảng quá không biết làm gì hơn. Cảnh sát yêu cầu chúng tôi đưa cô Sa vào nhà thương điên nhưng chúng tôi không chịu và họ nói sẽ trở lạị .
Người ký giả giới thiệu:
Đây là ông thầy đã liên lạc với chúng tôi hồi tối ngỏ lời muốn giúp cô Lệ Sa để trục xuất quỷ dữ ra khỏi người cô , chúng tôi hy vọng sẽ có kết quả tốt.
Người đàn ông được mời vào phòng cô gáị .Cánh cửa mở ra, Lệ Sa đang kêu la vùng vẫy, cô ngước mắt nhìn về phía người đàn ông trùm đầu bằng cái khăn màu xám:
-Hãy ra ngay! Cút đi ngay! Nếu không tao sẽ giết mày, làm cho mày cạn khô dòng máu, mày sẽ phải chết như một cành cây khô mục.
Người đàn ông, chúng ta hãy gọi là ông thầy , bình tĩnh tiến đến bên giường Lệ Sa đang vùng vẫỵ Ông thầy rút cái khăn ra khỏi đầụ. Hai mắt ông mở lớn nhìn thẳng vào đôi mắt đầy gân máu của cô gái đồng thời đưa tay bắt ấn rồi nạt lớn:
-Quỷ dữ! Mi không làm gì được đâu! Hãy mau mau rời khỏi thân xác cô gái vô tội, nếu không ta sẽ cho mi không còn chút năng lực nào để sống ở bất cứ cõi giới nàọ
Ông thầy vừa nói dứt câu thì Lệ Sa bỗng cười lên khanh khách và vùng mạnh tay chân như cố thoát ra khỏi các dây trói buộc để nhảy tới cấu xé ông thầỵ Trong khi đó ông thầy vẫn bình tĩnh cười nhạt, mở nắp vali lấy ra cái bình bằng đồng xưa đưa lên cao và ra sức rảy mạnh. Những làn nước trong bình bằng đồng văng ra rớt vào mặt cô gáị
Trong lúc đó, ông thầy xấn tới và đọc những câu chú liên hồị
Tự nhiên Lệ Sa dịu lại cơn kích động nhưng chỉ mấy phút sau cô gái lại vùng vẫy dữ dội trợn mắt nhìn và thét lên:
-Mày hãy đi khỏi đây ngay! Tao sẽ giết mày! Mày phải chết.
Ông thầy lại rảy nước phép, bắt ấn và đọc chú:
-Mi không thể nào chịu nổi pháp thuật của thần linh quá ba lần. Lần cuối cùng ta cho mi thời gian suy nghĩ lại và sám hốị Đừng để ta phải hạ độc thủ.
Mặc cho cô gái vùng vẫy la hét, ông thầy chỉ cho hai nhân viên toà soạn, người thanh niên tên Quy và hai người bạn cùng có mặt ở đó cách làm sao giữ cho tâm thần kiên định, không bị xáo trộn, sợ hãi trước sự đe dọa của quỷ. Ông thầy lấy ra từ vali 4 cái linh phù, những đồ đeo của Salomon treo ngay cửa phòng và cửa ra vào về phía Nam. Ông thầy nói:
-Những linh phù và những thứ này có công dụng trấn yểm và làm mất hiệu lực của câu chú mà pháp thuật đen đã thư vào trong đầu cô gáị .
Nói xong, ông lại lấy ra 4 vật lạ khác có buộc dây ngũ sắc và trao cho Quy để đeo vào cổ cô gáị .Quy ngần ngừ vì anh lo sợ sẽ bị Lệ Sa phản ứng cắn vào tay anh như mọi lần . Ông thầy biết ý dùng cái khăn trùm đầu trùm lên đầu Lệ Sa rồi mọi người cùng giúp Quy đeo 4 vật gắn linh phù và dây ngũ sắc lên cổ của Lệ Sạ.
Mọi việc tuy có khó khăn nhưng không ngờ lại diễn tiến tốt đẹp. Trong khi đó, ông thầy lấy muối bột hòa trong nước thánh ở trong bình rồi rải quanh nhà khắp 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và ở chính giữa 4 hướng ấy còn để những nhúm muối sạch. Thế là Lệ Sa tự nhiên giảm vùng vẫy, giảm tiếng kêu, rú, gào thét và sau đó ú ớ trong miệng những câu không nghe rõ rồi cuối cùng cô thiếp đị
Quy nói:
Đây là lần đầu tiên Lệ Sa chợp mắt ngủ yên lặng, một điều mà 7 ngày trước đây không thể có được.
Thế rồi ngày 18 tháng 10 Lệ Sa lành hẳn. Tuy nhiên cơ thể cô vô cùng suy yếu, tinh thần suy sụp. Các bác sĩ khám bệnh cho cô đã cho biết là cô bị suy dinh dưỡng trầm trọng, thần kinh lại xáo trộn. Cô đã được chở tới bệnh viện thần kinh. Sau một thời gian dưỡng bệnh cô đã trở nên minh mẫn, vui vẻ và rồi được trở về nhà.
Cô thường nói: "Những gì đã xảy ra cho tôi cách đây một hai năm đối với tôi như một giấc mộng dữ nhưng có điều lạ lùng là tôi không nhớ những gì đã xảy ra lúc trước. Có lẽ lúc đó tôi không phải là tôi nữạ"
Cô Đàm Lệ Sa sau đó đã gởi thơ cám ơn toà báo Siêu Linh. Ngoài ra cô còn tìm gặp ông thầy đã cứu cô thoát khỏi móng vuốt của quỷ sứ. Ông thầy này là người Quảng Đông, đến sống ở HK được 6 năm và lần đầu tiên ông xuất đầu lộ diện để cứu ngườị
Ông thầy khuyên Lệ Sa cũng như tất cả mọi người không nên dấn thân vào việc luyện bùa ngải, tiếp xúc với những vong linh, ma quỷ. Bởi vì theo ông, Vu Thuật, Ma Thuật thường là con dao hai lưỡi để quay ngược lại tàn hại chính bản thân người đã có liên hệ gần gũi hoặc xử dụng chúng. Thật sự là có những con quỷ vô thường, những con quỷ bị sa đọa vào địa ngục rồi thoát củi xổ lồng, chúng vất vưởng rất lâu trong cõi tối tăm. Vì thế chúng khao khát được làm người nhưng đồng thời chúng cũng căm giận, oán than, tham lam và kiêu căng. Chúng luôn luôn chờ dịp là nhập vào thân xác người sống. Những phù thủy, những kẻ ma đạo, hắc đạo thường là những kẻ dẫn đường chỉ lối, làm cầu nối cho ma quỷ tức là Satan bước từ cõi u minh giao tiếp đột nhập vào người sống. Điều nguy hiểm đáng sợ là quỷ thường có những năng lực phát huy lời nguyền. Pháp thuật đen hay có những câu chú mà chính những người bị Tẩu hỏa nhập ma thường thốt ra những câu chú, lời nguyền này rất khủng khiếp.
Khi đọc xong câu chuyện này Minh Thiên nhớ cách đây 5 năm, lúc đó đường tu và năng lực rất yếu, tôi có gặp phải một cô gái tên Mai nhà ở tại khu Mỹ đình, cô gái này bị gia đình nhà chồng cô hãm hại dùng bùa phép để hãm hại cô để khỏi phải chia tài sản sau khi ly hôn, trên đường trốn chạy gia đình đó cô có ghé qua một cái miếu thần linh tôi nhớ mang máng như ở Thái bình , cô vào đó thắp hương xin vị thần này cứu giúp và thế là cô rước họa vào thân , vị thần này đồng ý giúp cho cô toàn mạng trước sự tiến công của các loại âm binh và vong linh của gia đình nhà chồng, nhưng lại đòi cô này phải yêu hắn và chấp nhận đi học các pháp thuật mà hắn đã học, bởi vì cô không đồng ý nên hàng ngày hắn vẫn để các thứ âm binh đó hành hạ cô hòng khuất phục.
Khi tôi gặp cô , chỉ nói chuyện một lúc mà trong cơ thể cô trải qua rất nhiều cảnh tượng rùng rợn, lúc thì mắt cô đổ ngầu như phim ma, mặt rạn ra như lá cây, trong cổ lúc thì có tiếng nói the thé như trẻ con, lúc ậm ừ như người già lão, có lúc cổ cô bị thít chặt lại, cuống họng bé lại tựa như lỗ kim, hình dung như ngạ quỷ, có lúc bụng cô tự nhiên chướng to lên như người chửa bốn năm tháng, rồi có lúc cô có khả năng viết được những chữ phạn tự, hoặc tiếng miên theo như tôi phỏng đoán.
Hồi đó tôi vẫn chưa trải qua nhiều kinh nghiệm về tu tập và hành pháp , lại máu chiến sỹ nên cũng muốn thử sức, kết quả là tôi bị thất bại thảm hại, tôi bị vị thần linh trong người cô ấy nói xỏ xiên và chỉ bảo tôi rất nhiều, ông ta nhấn mạnh là hiện tại lúc này tôi chả có gì để ông ấy phải sợ, còn về sau thì không biết , nhưng có lẽ tôi còn phải tu tập còn lâu mới đủ sức ngang cơ với ông ấy , và đó là câu chuyện về người bị quỷ ám mà tôi đã từng được chứng kiến, có lẽ nó còn rùng rợn hơn chuyện quỷ ám trên nhiều, những câu chuyện trên thế giới nghe có vẻ rùng rợn là do cách hành văn , nhưng thật sự ở Việt nam có nhiều vụ kinh khủng mà tôi đã từng trải qua, nếu có thời gian tôi sẽ viết tiếp để cho các bạn cùng tham khảo.
Minh Thiên



 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

Bạn đang xem trang 1 / 2 trang [ Đã tìm thấy 31 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh