Hôm nay, Thứ 3 02/06/20 13:06

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 25 kết quả

Người gửi Nội dung

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: TÂM ẤN TÂM
Đã gửi: Thứ 4 16/05/12 11:05 

I. YẾU CHỈ MẬT TRUYỀN

Yếu chỉ thiền tông thầy truyền cho trò là “lấy tâm ấn tâm”, không dùng một pháp khác từ bên ngoài. Dù có đánh, có hét, dù nói trái tai, nói thô bạo, nói nghịch lý v.v… chỉ là phương tiện cởi mở tình chấp cho người, chỗ rốt ráo vẫn là “một tâm in nhau” mà thôi. Người học chưa thông cảm đến chỗ này, là còn đứng ngoài cửa, dù kiến giải chứa đầy trong đầu.

Tuyết Phong hỏi Đức Sơn:

- Việc trong Tông thừa từ trước, con có phần chăng?

Đức Sơn liền đánh cho một gậy bảo:

- Là cái gì?

Tuyết Phong như thùng lủng đáy. Hôm sau, Đức Sơn thượng đường bảo:

- Tông ta không lời nói, không một pháp cho người.

Như vậy là lấy gì truyền, lấy gì nhận? Tuyết Phong hỏi: “Việc trong Tông thừa từ trước, con có phần chăng?” là nghi mình không có hay sao? Cho nên Đức Sơn liền đập thẳng vào trong ấy, khiến tỉnh lại là xong. Quả thật Tuyết Phong ngay đó hết chỗ bám. Nếu người cứ mong chờ có một pháp để truyền trao cho mình nhận, hoặc thấy mình thật có nhận được một pháp từ bên ngoài, dù pháp đó cao siêu đến đâu, vẫn là người còn trong mộng.

Chính đoạn nhân duyên thiền, Phật đưa cành hoa sen giữa đại chúng, tất cả đều im lặng, khi Phật nhìn đến Tôn giả Đại Ca Diếp. Tôn giả cảm thông với cái nhìn của Phật liền mỉm cười, Phật liền truyền pháp, phó chúc cho Tôn giả, tin tức mật truyền tâm ấn đã thổ lộ trong ấy. Ngày nay, nhiều người nghiên cứu lịch sử nghi ngờ, cho đây là đoạn kinh giả, không có sự thật lịch sử, mà quên rằng kinh văn thì có thể nói giả, và cũng hẳn là giả vì thuộc văn tự, nhưng ý sâu trong ấy vốn vượt ngoài chữ nghĩa, còn gì nói giả, nói thật? Người học thiền hay học Phật chân chánh, không phải học ở mấy hàng chữ ghi lại trên giấy mực kia, mà phải học “ý sống không thể nói” kìa! Bám theo chữ nghĩa, phân tích câu lời thì muôn đời không thể hiểu thấu được Thiền chân thật. Thiền sư Tỉnh Niệm ở chỗ Hòa thượng Phong Huyệt đã thâm đạt ý này, ngài Phong Huyệt liền truyền pháp kế thừa tông Lâm Tế.

Sư ở trong hội Phong Huyệt làm tri khách. Một hôm, Sư đứng hầu, Phong Huyệt rơi nước mắt nói với Sư:

- Bất hạnh! Đạo Lâm Tế đến ta sắp chìm lặng mất!

Sư thưa:

- Xem trong cả chúng này đâu không có người kế thừa Hòa thượng?

Phong Huyệt bảo:

- Người thông minh thì nhiều, kẻ thấy tánh thì ít.

Sư thưa:

- Như con, Hòa thượng xem thế nào?

Phong Huyệt bảo:

- Ta tuy trông mong ở ngươi đã lâu, vẫn e ngại đắm mến kinh này không thể buông rời (Sư thường thầm tụng kinh Pháp Hoa, nên được hiệu Niệm Pháp Hoa).

Sư thưa:

Việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy.

Phong Huyệt thượng đường, nhắc lại việc Thế Tôn dùng con mắt như hoa sen xanh nhìn đại chúng, bèn hỏi:

- Chính khi ấy, hãy bảo là nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói lại là chôn vùi Thánh trước. Hãy bảo: nói cái gì?

Sư bèn phủi áo đi ra. Phong Huyệt ném cây gậy trở về phương trượng. Thị giả chạy theo sau thưa:

- Niệm Pháp Hoa nhân gì chẳng đáp lời Hòa thượng?

Phong Huyệt bảo:

- Niệm Pháp Hoa đã lãnh hội.

Hãy chú ý! Ngay khi Thế Tôn đưa mắt thanh tịnh như hoa sen xanh nhìn đại chúng, chính khi ấy là nói cái gì? Và Thiền sư Tỉnh Niệm đã lãnh hội chỗ nào? Yếu chỉ này vốn không nằm ở câu chuyện xa xưa, cũng không ở mấy dòng chữ kia, mà chính ở ngay người đang đối diện đây! Tiếc thay, bao người cứ lo phân tích trên câu chuyện, quên mất ánh sáng đang hiện hữu!

Ở Việt Nam, Vua Trần Thánh Tông từng cảm nhận ý này và đã tỏ bày trong đoạn pháp ngữ: “xưa nay nói một câu rốt sau mới đến lao quan. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ Sư có phần thối thân. Những người tham học hiện nay trọn nhằm trong câu tham lấy, lại hỏi các ông, nhằm trong câu làm sao tham?”

Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chỉ ở trong chỗ bốn mắt nhìn nhau đó, chớ tìm ở trong câu này câu nọ, chớ giành giựt, tranh cải ở trên cành hoa sen, hẳn không dính dáng!

Về sau, Thiền sư Chân Nguyên, người trung hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử cũng chính mình chứng nghiệm việc này. Sư đến tham vấn Thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương và hỏi:

- “Bao năm dồn chứa ngọc trong đảy, hôm nay tận mặt thấy thế nào”, là sao?

Thiền sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại liền cảm ngộ, sụp xuống lạy. Chính vì cảm sâu ý này nên về sau Sư soạn quyển “Trần Triều Thiền Tông Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành” nói gọn là “Thiền Tông Bản Hạnh”, Sư đã nhắc đi nhắc lại ý này đến bảy lần:

Đoạn 1:

Tứ mục tương cố nhãn đồng

Thầy tớ trao lòng, đăng chúc giao huy.

Nghĩa là: Bốn mắt nhìn nhau đồng trong con mắt ấy. Thầy trao lòng, ấn tâm cho trò ngay trong ấy, đèn đuốc xen nhau rọi sáng trong ấy, khỏi tìm đâu khác.

Đoạn 2:

Tam thế chư Phật Tổ Sư,

Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ.

Nghĩa là: chư Phật, chư Tổ trong ba đời vốn hiển bày cơ thiền sâu xa ngay trong chỗ “bốn mắt nhìn nhau ấy”…

Tiếp trong bài Ngộ Đạo Nhân Duyên của Sư có đoạn:

Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,

Tương truyền tứ mục cố phân minh.

Liên phương tục diệm quang vô tận,

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.

Nghĩa:

Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,

Truyền nhau “bốn mắt ngó” rành rành.

Tiếp thơm nối lửa sáng sáng mãi,

Trao khắp thiền lâm phó hữu tình.

Mắt Phật sinh ngay trong ngọn đèn tâm chớ không đâu khác. Đời đời truyền nhau không dứt, chính từ trong chỗ bốn mắt nhìn nhau đó! Nhà Thiền thầm trao, mật phó cho người là trao phó ngay trong ấy thôi.

Như vậy, “bốn mắt nhìn nhau” có gì đặc biệt trong ấy mà nói đó là thiền cơ, là mật truyền? Trong đây, nếu nói rõ hơn là: “Mắt mắt nhìn nhau, tâm tâm trực tiếp với nhau không qua trung gian cái gì,” yếu chỉ “tâm ấn tâm” quá rõ ràng còn nghi ngờ gì?

Kìa, Thiền sư nhìn thẳng vào mắt mình, mắt mình đối diện thẳng với Thiền sư, cái gì thầm cảm trong cái nhìn ấy? Chỗ này ngôn ngữ làm sao nói đến? Trong đó vừa khởi niệm là rơi bên ngoài xa tít rồi! Thiền sư truyền tâm là đó!

* Sùng Tín đưa đèn thổi tắt:

Một đêm Tuyên Giám đứng hầu Thiền sư Sùng Tín. Sùng Tín bảo:

- Đêm khuya sao chẳng xuống đi?

Sư kính chào đi ra, rồi trở vào thưa:

- Bên ngoài tối đen.

Sùng Tín thắp đèn cầy đưa cho Sư. Sư vừa định giơ tay tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó, Sư đại ngộ, liền lễ bái.

Đây là một đoạn nhân duyên truyền tâm tuyệt diệu, nhưng người học thiền thường được nghe nhắc tới nhiều lần khiến thành cái khuôn khái niệm hiểu biết trong đầu nên thấy là thường,là cũ. Chính Sùng Tín đưa đèn là ngầm kêu gọi sức sống hiện tiền nơi Tuyên Giám, nên Tuyên Giám liền đưa tay ra tiếp lấy. Vừa giơ tay ra tiếp, sức sống ấy đã lộ bày, đâu cần phải bám vào cây đèn bên ngoài kia làm gì, nên Sùng Tín liền thổi tắt, để cho đèn Tuyên Giám tự cháy. Tức ngay đó Sùng Tín đã truyền thẳng vào tâm Tuyên Giám rồi. Và Tuyên Giám quả nhiên đã chín muồi, liền tiếp ngay không qua cây đèn. Nói đúng hơn, tâm Tuyên Giám đã in thẳng tâm Sùng Tín, mất dấu cả hai tâm, do đó Tuyên Giám bừng sống dậy, vượt qua ông thầy. Nếu ngay lúc đó, tâm Sư còn chứa chút niệm đây là thầy, đây là mình, ắt đã lầm qua mất rồi! Quả thật đèn Sùng Tín đã được thổi tắt đúng lúc và đèn Tuyên Giám cũng cháy đúng lúc. Ai thấy đèn Tuyên Giám cháy thế nào?

Vừa nghĩ ngợi, đã bị Sùng Tín lấy mất đi rồi.

* Vân Môn gọi Thị giả Viễn:

Thiền sư Trừng Viễn ở Hương Lâm, lúc còn ở trong hội Vân Môn, Sư làm thị giả mười tám năm, Vân Môn khi tiếp Sư đều gọi:

- Thị giả Viễn!

Sư đáp:

- Dạ!

Vân Môn bảo:

- Ấy là gì?

Như thế đến mười tám năm Sư mới ngộ, Vân Môn bảo:

- Nay ta mới thôi gọi ngươi nữa.

Ai thấy gì chăng? Mười tám năm mỗi lần Vân Môn gọi là mỗi lần đã mật truyền cho thị giả Viễn, nhưng tiếc thay thị giả Viễn còn “theo tiếng gọi quên mình” đành để lầm qua. Cuối cùng, một “tiếng gọi” đúng ngay “kẻ dạ”, tâm truyền tâm, thầy trò thầm cảm thông nhau, người ngoài không thể thấy được. Chính đấy trước kia Tổ Ca Diếp gọi A Nan, mạch sống thiền tông một đường thông suốt. Đây gọi là việc trong nhà cha con dặn dò nhau, không phải chỗ cho kẻ bàng quan dòm lén, huống nữa sanh tâm bàn tán lăng xăng càng không dính dáng.

II. VƯỢT QUA NHỮNG PHƯƠNG TIỆN, HÝ LUẬN

Đã là “đem tâm ấn tâm”, hẳn người học phải dọn tâm sẵn sàng, tháo gỡ mọi chỗ dính mắc, không dừng trên bất cứ phương tiện nào, dù lời nói cao siêu, thủ thuật đặc biệt. Cần rõ, hễ có lập bày ra đều chưa phải thật, chớ lầm!

Hoài Hải đứng hầu Mã Tổ, Sư thấy cây phất tử dựng ở góc giường bèn hỏi:

- Tức đây dùng hay lìa đây dùng?

Mã Tổ bảo:

- Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?

Sư cầm cây phất tử dựng đứng. Mã Tổ bảo:

- Tức đây dùng hay lìa đây dùng?

Sư để cây phất tử trở lại chỗ cũ, Mã Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc tai.

Dựng phất tử lên, đó cũng là phương tiện chưa phải lý thật. Nhằm trên đó mà nói “tức” nói “lìa” cũng là hý luận. Dù người hiểu được mà chưa quên chỗ hiểu vẫn kẹt trên cây phất tử. Một tiếng nạt, ba ngày điếc tai, hết còn chỗ để nhớ để hiểu! Thiền sống là chỗ đó! Chính vì vậy, sau này Sư truyền cho Hoàng Bá, rồi Hoàng Bá tiếp Lâm Tế một mạch sống thiền không thể nghĩ bàn ấy. Lâm Tế đến hỏi, Hoàng Bá chỉ đánh và đánh tới, đánh cho hết chỗ bám, hết chỗ đại ý Phật pháp, hết chỗ lỗi phải, cuối cùng chuyển cán gậy vào tay chính mình. Nếu còn ở trên cây gậy sanh hiểu, còn ở trên câu Phật pháp sanh hiểu là còn bị đánh! Hay thay! Hay thay! Lâm Tế sẵn sàng vượt lên, nên Đại Ngu khơi nhẹ liền nhảy qua, “Phật pháp của Hoàng Bá rất ít”, không có gì nhiều để hiểu!

Thiền sư Tỉnh Niệm ở Thủ Sơn, một hôm giơ cây trúc bề lên bảo:

- Gọi là trúc bề thì chạm, chẳng gọi trúc bề thì trái, gọi là gì?

Qui Tỉnh chụp cây trúc bề ném xuống đất, nói:

- Là cái gì?

Sư bảo:

- Mù!

Qui Tỉnh hoát nhiên đốn ngộ.

Trong đây, Thiền sư giơ trúc bề lên, là phương tiện khai thị, nhưng không cho người bám trên đó mà hý luận, mà sanh hiểu, đây là thủ thuật truyền tâm của Thiền sư. Người mê cứ bám trên cảnh của các ngài đưa ra đó mà tạo kế sống, sanh kiến giải thiền đạo, quả là không dính dáng. Người sáng mắt, cốt phải thấu qua trước khi giơ trúc bề lên kìa! Nó vẫn sẵn đây rồi, còn nói gì là trái chạm?

III. LẠNH NÓNG TỰ BIẾT

Đã nói tâm ấn tâm, tức tâm tâm in nhau thì trong đó chỉ tâm tâm tự thầm biết, người ngoài không thể dòm lén.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Quảng Trừng:

- Thế nào là người xưa nay?

Sư đáp:

- Ngồi chung mà chẳng biết nhau.

Tăng thưa:

- Thế ấy thì học nhân lễ tạ vậy.

Sư bảo

- Thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?

Muốn biết người xưa nay, thì đấy “Ngồi chung mà chẳng biết nhau”. Người ngoài làm sao hiểu nổi? Trong ấy ông muốn lễ tạ nhưng cũng không có chỗ cho ông lễ. “Thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?” Đó là chỗ tự chứng tự biết thôi, không thể trông cậy vào bên ngoài.

Ngưỡng Sơn hỏi Thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp:

- Làm sao thấy được nghĩa Phật tánh?

Sư đáp:

- Ta vì ông nói một thí dụ: “như một nhà có sáu cửa, trong có một con khỉ, ngoài có một con khỉ đến bên Đông kêu: Chóe! Chóe! Bên trong liền: Chóe! Chóe! đáp lại, sáu cửa đều kêu thì đều đáp như thế.”

Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:

- Vừa rồi nhờ Hòa thượng thí dụ, con đều biết rõ, nhưng có một việc: Ví như con khỉ ở trong ngủ, con khỉ ở ngoài muốn gặp phải làm sao?

Trung Ấp liền bước xuống giường thiền nắm tay Ngưỡng Sơn bảo:

- Chóe! Chóe! Cùng ông thấy nhau rồi! Ví như con trùng tiêu minh làm tổ trên mí mắt con muỗi, nhằm giữa ngã tư đường kêu to: “Đất rộng người thưa, tri âm rất ít”

Chỗ “chóe chóe” ta cùng ông thấy nhau rồi, mấy ai biết được? Ai là tri âm để nhìn thấu trong đó mà cùng gặp Trung Ấp và Ngưỡng Sơn? Quả là “thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai?” Chữ “Ai” này sao mà nghe nó thiết tha, nó thấu xương tủy thế kia!

Tuy vậy, nói lạnh nóng tự biết cũng chưa phải là chỗ tột. Thiền sư Pháp Diễn lúc đầu học luận Duy thức, nhân Sư nghe Bồ tát khi vào kiến đạo thì trí cùng lý hợp, cảnh cùng thần hội, chẳng phân năng chứng sở chứng. Ngoại đạo ở Ấn Độ thường nạn vấn các Tỳ kheo rằng: - Đã chẳng phân năng chứng sở chứng, lại lấy cái gì làm chứng? Tỳ kheo không đáp được. Ngoại đạo chê bai không đánh chuông trống, chúng lại mặc ca sa. Khi Pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ đã cứu được nghĩa này rằng: - “Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.” Từ đây giải được nạn này. Pháp Diễn nghe thế tự hỏi: - “Lạnh nóng ắt là biết vậy, nhưng thế nào là việc tự biết?” Sư liền đem thưa hỏi với thầy dạy: “ - Chẳng biết lý tự biết như thế nào?” Vị thầy không giải được, chỉ khuyên rằng:

- Ngươi muốn rõ lẽ này nên đến phương Nam thưa hỏi những vị truyền Phật tâm tông.

Sư bèn mang hành lý sang phương Nam.

Đây là điểm đặc biệt của Thiền sư Pháp Diễn. Nói lạnh nóng tự biết, nhưng thế nào là chỗ tự biết? Mỗi người phải có chỗ tự sống dậy, không thể chết trên ngôn từ của người xưa. Nghe qua tưởng hiểu nhưng thật chưa phải tự hiểu. Nghe nói “lạnh nóng tự biết” rồi bị người gạn hỏi không thể trả lời được, cũng bắt chước bảo “lạnh nóng tự biết” để cho qua, đây là giống thì giống mà phải thì chẳng phải. Cần thực sự chính mình khám phá ra chỗ “tự biết” đó, bằng chính ánh sáng trí tuệ của mình mới không hổ thẹn. Phật pháp sống mãi trên thế gian này là gốc từ đây. Thiền, không thể xuyên tạc được cũng gốc từ đây. Ngôn ngữ không bao giờ với tới!

IV. XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN, BẤT LẬP VĂN TỰ

Với yếu chỉ “tâm ấn tâm”, thiền xác định con đường mình đi là trực tiếp đi thẳng vào tâm người, vượt qua giáo nghĩa, văn tự đã lập bày. Tâm thầy thẳng vào tâm trò như bốn mắt nhìn nhau, mắt đối mắt không nói nên lời. Đến đây là bặt dấu vết của tâm, không chỗ để nghĩ. Nhưng chính chỗ không thể nghĩ, đấy là chỗ ẤN TÂM.

Và đây, Đại Đô An đến gặp Thiền sư Kiệt Phong Anh, Anh liền hỏi:

- Giảng chủ thường ưa giảng kinh gì nhất?

An đáp:

- Kinh Kim Cương và đã từng tỉnh ngộ qua câu “không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu”

Anh bảo:

- Nếu không đến không đi, sao ông đến đây được?

An đáp:

- Thì chính là người không đến đi đó thôi.

Anh bảo:

- Ngay đây người đó ở đâu?

An trả lời bằng một tiếng hét!

Anh bảo:

- Thôi hãy gác qua chuyện hét và thoi, khi bốn đại rã rời sẽ đi về chỗ nào để an thân lập mạng?

An đáp:

- Khắp cõi đất này, cái ấy không phải chính ta ư?

Anh bảo:

- Bỗng gặp thời kiếp hỏa, lửa bừng cháy, đốt tiêu cả Đại thiên thế giới, lúc đó ông ở đâu?

An đáp:

- Không biết.

Anh bảo:

- Lục Tổ vì cái “không biết” đó mà đi bửa củi, nấu cơm; Bồ Đề Đạt Ma vì cái “không biết” đó mà ngồi quay mặt vào vách chín năm, còn ông nói “không biết”, vậy ông thấy cái gì?

An đáp:

- Tôi chỉ nói: “Không biết”

Anh bảo:

- Gã mù! Mời ngồi uống trà đi!

Thiền sư Anh muốn gạn “người không đến đi” nơi Đại Đô An, nhưng cuối cùng cũng không gạn ra chỗ nơi. Đại Đô An có chỗ thấy, vượt qua mọi ngôn ngữ sai biệt, không để lộ dấu vết cho tâm khác xen vào. Tuy nhiên, một cái “không biết” của Sư rất dễ lầm người. Kẻ bắt chước, khi bị gạn hỏi, trả lời không được, cũng đáp “không biết” thì sao? Thật, giả làm sao phân biệt? Do đó Thiền sư Anh gạn cho tới cùng xem cái “không biết” của Sư từ đâu phát ra. Rõ ràng Sư tự có chỗ sống, không lệ thuộc bên ngoài, nên trả lời xác quyết vững vàng: “chỉ nói không biết”, khỏi thêm gì nữa! Người chưa đến được trong ấy hẳn không thể hiểu nổi. Tuy nhiên, với Thiền sư Anh thì tự thấy thầm hợp với chính mình, bèn ấn chứng khéo. Bảo: Gã mù! Nhưng lại: mời uống trà! Trong ấy hai người tự cảm thông nhau, mặc cho kẻ bàng quan đứng bên ngoài khởi thắc mắc. TÂM ẤN TÂM là đấy!

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Thấy và biết
Đã gửi: Thứ 4 16/05/12 10:52 

THẤY VÀ BIẾT

Đây là lần thứ hai CƯ SĨ DIỆU ĐỊNH nói lại theo yêu cầu

Trước tiên nói cái thấy ,khi sanh khởi con người ai cũng có 6 căn ,khi tiếp xúc với 6 trần thì có sự nhận thấy qua thức giác.

Sự nhận thức qua thức giác này gọi là thấy ,thấy bằng tai,,thấy bằng mắt ,thấy bằng vị nếm ,hoặc thấy từ va chạm cảm xúc ,mới có sự thọ cảm như nóng,lạnh ,đau,giận ,hờn vui,buồn của nó .
Sự thọ cảm này mà sanh ra những cái biết khác nhau.

1 một Đứa trẻ có những bản năng là đói biết đòi ăn ,khát đòi uống như một thói quen ,và chỉ biết thọ lãnh lòng vị tha từ cha ,mẹ và người thân.

Đứa trẻ từ khi lọt lòng mẹ qua tiếp cận nên sự biết được mở rộng biết mọi thứ giận khi không được vừa ý ,,biết vui khi được thỏa lòng mong cầu ,nhưng cái biết của đứa trẻ đó chỉ biết tiếp nhận lòng vị tha mà không có suy nghỉ gì ,cha ,mẹ ,hay người thân cho gì nhận nấy ,đây gọi là tưởng ,vì cái tưởng chỉ tiếp nhận mà không suy tư ,chỉ làm và hành theo thói quen của người vạch sẳn và học các bài học từ người thân cận của mình .

2= Khi đứa bé lớn dần và học hỏi ,tiếp xúc nhiều hơn với đời trở nên thông minh ,và có sự phân biệt yêu thương ,oán ghét hận thù qua cảm thọ một cách sâu sắc ,Tâm trở nên biết bảo thủ ,ích kỷ nhỏ mọn ,hoặc cao thượng ,biết đạo lý v…v gọi đây là biết ,vậy cái biết là cái nhận cảm thọ sâu hơn tưởng của đứa trẻ nhiều ,từ đây đạo đức thiện ,hay ác rõ dần lên theo phân biệt của lương TÂM biết đâu đúng ,đâu sai ,biết rõ ràng ,chính có phân biệt nên TÂM có ác có thiện ,nghiệp lực lôi kéo ,từ đó có tánh THAM,SÂN,SI .

3=Khi đã nếm trãi cay ,đắng ngọt bùi qua nhiều thứ lớp ,đâu là ác ,đâu là thiện ,đâu là quả ,con người trở nên già dặn ,mổi khi làm gì đều có sự suy tư cặn kẻ hơn không còn bừa bãi như trẻ được ,bản TÂM trầm tỉnh ,nghiêm nghị hơn ,nói năng tề chỉnh hơn nên gọi là GIÁC
4 =KHI Tâm đã có GIÁC rồi tự nhiên TÂM không còn muốn tiếp xúc nữa thân TÂM trở nên vắng lặng ,muốn ngưng nghỉ đây gọi là GIÁC NGỘ

Tuy ngồi một chổ nhưng cái gì cũng biết ,thông hiểu hết ,nhưng chỉ muốn im lặng sự giác ngộ càng lúc càng thông gọi đây là toàn GIÁC (PHẬT )

Thấy và biết đến ngộ cũng phải trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau .

Thấy thì ai cũng có thể thấy ,nhưng cũng có người không thấy vì không chú ý ,hoặc không muốn thấy ,khi vì miễn cưỡng thấy họ lại không biết ,.

Như vật để trước mặt họ thấy nhưng không biết đó là cái gì ,khi đã biết nhưng lại không ngộ .
Cho nên thấy, biết,và ngộ cũng phải trãi qua nhiều giai đoạn ,,nên đạo lý trên đời cũng chia ra nhiều giai đoạn để người tu thâm nhập khác nhau .

Theo trí tuệ từ thấp lên cao thì giáo pháp cũng từ thứ lớp từ thấp lên cao theo những bậc như sau
Cách tu trong trần gian được chia ra ba cấp ,y như ĐI HỌC vậy

CẤP 1=Khi một đứa trẻ đã có sự nhận biết rồi ,nó phải đi học là trường mẫu giáo ,nhà trường dạy ca hát ,tô vẽ và học đánh vần A B,C, rồi ráp vần ,ở tiểu học nó thích học vừa hát ,khi phát hiện cái gì hay nó muốn được khen tặng .

Được chấm điểm ,và được mọi người chú ý ,một đứa trẻ đó luôn vui mừng thường khoe thành tích ,lời nói quả thật ngây ngô thân tâm biết đó là thiện , biết đó là lành, chưa phát triển trí tuệ ,luôn cho việc làm của mình là hay hơn hết .

Khi bài vở từ cô giáo đưa đứa bé phải học thuộc ,lập lại lời của cô giáo,kỷ luật ,giới rất trang nghiêm cho có khuông khổ ,ăn uống nếu không có giới luật nó sẽ tranh dành và lộn xộn .

Sự tu học ở cấp một cũng vậy ,ai tu mà cũng có những đặt tính ham thích nơi vui nhộn ,tranh dành hơn thua ,ham những lời ngon tiếng ngọt vẫn gọi là con nít .

Cấp 2=đứa bé đã có suy nghỉ hơn , những bài do cô giáo đưa nó có nhận xét lập luận hơn , biết làm bài ,biết suy ngẫm tuy nhiên nó vẫn còn bản tánh tranh chấp,đương nhiên nó vẫn mong muốn sự khen tặng từ mọi người .

Nhưng đã có sự suy nghỉ nó lại hạn chế những ham thích nhỏ nhoi kia nữa ,mà người học trung học chỉ mong mình trở nên trưởng thành,có tài năng hơn để ra làm việc giúp ích cho đời, ko còn muốn long bong, nghĩa là sự tự do thoát .

Cấp 3=là đã có trí tuệ hơn ,bình tỉnh hơn, trưởng thành hơn ,và có ý thức từng hành vi, suy nghỉ ,hành động biết nên làm hay ko nên làm những nội quy ,kỷ luật ,bây giờ đã như ăn sâu ko còn bị lệ thuộc của nhà trường .

Người tu ở cấp 3 cũng vậy biết làm chủ biết quan sát ,oai nghi đức hạnh , người tu bậc tiểu học ko thể nhận ra người tu học bậc 3 , nhưng người tu bậc 3 lại nhìn ra người tu bậc 1

Người tu cao có thể nhận xét phê bình người thấp được ,người thấp ko thể phê bình nhận xét được người tu cao, Nếu người tu thấp phê người tu cao ,nghiệp quả ập xuống .Nên người tu phải cẩn thận khi nhận xét

Cách cư xử của cấp một :
Người tu ở cấp một khi chưa đủ trí tuệ,người tu phải dựa trên nền kinh tảng có sẳn ,luôn đọc học thuộc nếu thâm tâm chưa đủ trí thì đừng tranh cải, hoặc đem kinh ra để chấp kinh vì bản thân mình chỉ học kinh nhưng chưa thông hiểu ,chưa nếm đây là cách để người tu ở cấp 1 để tiến trình trên con đường tu .

Một đứa trẻ hay bắt chước những gì người lớn nói ,hành động hay suy nghỉ ,tập sự theo người lớn nhưng bản thân nó ko hiểu được tại sao/tôi cho một ví dụ :hai từ có ,và không,người tu ở bậc thấp nghe nhưng ko sao hiểu nổi hết cái có và cái không ,cũng thường lập lại nhưng ko hiểu hết .

Hoặc người nói tham danh tham lợi nhưng ngay bản thân lại ko sao hiểu nổi hết chữ của tham danh ,tham lợi này hầu đa số chỉ có nói người nhưng ko thấy mình vẫn đang vướn mắc .

Không riêng người tu cấp một mà tu ở cấp hai dẫu từng suy ngẫm ,nhưng vẫn tăm tối ,khi chưa đạt cái gì thì mong cầu cho đạt ,khi có một chút thành tựu được mọi người tôn sùng thì lại rơi ngược xuống ,và bản tánh đứa trẻ thường hờn dỗi ,lại ham thích leo cao .

Thích làm lớn ,ví dụ = thích làm phật ,thích làm bồ tát ,thích làm thánh, nhưng lại ko thấu đáo những quả vị này là sao?nghĩa là gì?và thường hay đánh những ai cười mình .

Muốn biết quan sát người tu cấp một phải biết quán sát tâm gọi là thiền minh sát cho cặn kẻ định cho vững mới quan sát được mình và người rõ ràng minh bạch ,và ko bị chi phối bởi sự phản kích của cảnh đời.

Người tu chẳng khác gì là người đang leo núi ,mọi sự hiện diện trên đường đi còn nhiều gian nan,và chính bản thân chưa hiểu hết ,cái gì cũng phải hỏi cái gì cũng phải suy ngẫm người nào đủ sức đủ trí thì vượt qua ,những trở ngại còn nhiều,cái dốc thấp đó chưa dùng sức nhiều ,nhưng đến bậc 2 lên nữa người tu phải dốc sức để leo ,những trở ngại là thử thách vô cùng khó khăn .

Người tu ở cấp ba =là người đã đi quảng đường gần đến đỉnh ,mọi sự ham muốn ,vướn mắc họ trãi qua đều là kinh nghiệm, thậm chí họ đủ sức nhảy vọt ko cần sự giúp đỡ của ai .

Ở cấp ba vẫn là người đang tập làm người lớn ,nhưng vẫn chấp đúng sai,phải trái ,vẫn chấp phân biệt giữa hai mé ,như người đã thấu hết như chưa giáp vòng của vũ trụ nên cái nhìn vẫn còn chấp nho nhỏ vi tế .

Khi đã thấu triệt rồi ,đã thấu đáo hai lề ,viên mãn thì không còn chấp ,thân tâm thành vô ngã ,không trụ nơi nào ý thức mọi thân khẩu ý ,và đạt đến đỉnh vô hạn ,chỉ đem dây thả cho những người ở dưới thấp níu kéo lên thôi .
Khi đã hoàn mãn thì họ quay về nơi họ đã từ đó đi

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Thiên đàng và địa ngục
Đã gửi: Thứ 4 16/05/12 12:35 

7 ngày đi địa ngục,đây cũng là bài giảng của CƯ SĨ DIỆU ĐỊNH ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI hâm mộ ,và xem như một bài học trên bước đường tu
Đây là câu chuyện chính do bản thân cô DIỆU ĐỊNH khi tham thiền nhập định đi từng đêm ,để cho chúng sanh có một tài liệu tu học, cô viết lại cảnh địa ngục đến núi TU DI,ĐẾN NIẾT BÀN
Ngay trên đầu chúng sanh mỗi người đều có một bát quái cung (càn khôn) luôn chiếu xuống nên mỗi số mạng của chúng sanh đã có ấn định ,ví dụ ngày đó tháng đó mình phải gặp ai?người đó muốn gì ?mình đi gặp ứng xử ra sao đây là sự khống chế của ngủ hành ,nếu người bình thường ko ai biết .
Cô từng hay nhập định vừa mới học được ấn ,chú thì ngủ cũng luyện bổng thấy mình ngồi dậy bằng hồn chứ ko bằng xác ,ngồi xếp bằng kiết ấn chuẩn đề vừa đọc chú xong một tiếng nổ bùm.....như pháo nổ làm tung bát quái cung cô ngước nhìn lên thấy cái vòng bát quái cung đó có bóng đen lúc quỳ lúc đứng .
Cũng từ đó thiêng đường ,địa ngục đều mở lối cô ngao du tam cỏi ,tam thiêng ,một chiếc xuồng nhỏ với bà lão đội nón lá lụp xụp tắp bến cô bước lên chiếc xuồng đi nhẹ nhưng ko hề thấy mặt người đưa xuồng ,con sông đó bề ngang cở một mét nhưng nước đen ngòm đó chỉ là chi nhánh rẽ của con sông .Cô nghỉ có lẻ chi nhánh của sông HẮC GIANG mà trong kinh nói tới.
Chiếc xuồng đưa đến dưới gầm cầu thì ngưng lại lên bờ phía tay trái nơi đây gọi là chợ MA,dưới ánh sáng mờ mờ ảo ảo giống như buổi chiều sương khói làm cảnh vật âm u vậy.
Khi nhìn lên là chiếc cầu cô cất mình bay lên chân vừa hạ xuống chạm cầu mà cô nghỉ đây là cầu NẠI HÀ trong kinh nói lúc này vắng lặng lắm khi đi một đoạn như một ngã ba rẻ phải hoặc rẻ trái đây thôi thì mình rẻ trái trước rồi hãy tính ,từng trạm nhưng eo ôi sao cảnh ở đây tối om như mực ko thể thấy được ai.
Thỉnh thoảng một tốp bóng trắng oan hồn đi qua họ nhìn cô ,cô cũng chỉ nhìn họ ko nói gì ?khi đã đến cuối cùng thì đến trạm của các sư tăng ,cô bước vào chào ,vì ko biết nơi đây là chổ nào ,vừa thấy người xuất gia tu thì mừng quá bước vào để hỏi ,vị tăng ni này ,lão bà cũng ko nói nơi đây là đâu ,nhưng chỉ hỏi cô tên gì ?
Cô thưa con pháp danh là DIỆU ĐỊNH quy y nơi chùa.....nhưng luôn tham thiền ko hiểu sao lại lạc đến đây ,bà tăng sư lật sổ ra và nói :tuổi thọ còn dài lắm ,thôi thì cứ tham quan ,
Cô nhìn về phía trước như từng trạm nhưng ko có người vì tánh tò mò nhảy vô một trạm gần đó ,đột nhiên thoáng một cái áo choàng đỏ bay phất ngay trên đỉnh đầu ,cô bắt ấn phật tổ đánh tới ,nhưng nhanh như chớp bàn tay xương đó gạt phắt ,cất mình bay lên ,cô kịp nhìn gương mặt xương hốc mắt của quỷ cai ngục .
Cô thiết nghỉ nếu mình đánh thêm một lát mắc công phạm thiêng quy ,mới rời bỏ ra đây là đêm đầu đi,cô sẽ kể tiếp những đêm đi sau.
ĐÊM thứ hai ,cũng chiếc xuồng nhỏ chầm chậm đón ,cũng bà lão đó đưa cô đi ,đến chợ ma ,nơi đây họ buôn bán ,nhưng bán cái gì?cô đến xem thử ,họ bán như đôi bông ,vòng vàng ,những thứ trên nhân gian đốt xuống ,đặc biệt họ ko nói gì,cô muốn lấy món gì cũng được họ ko đòi tiền ,nhưng cầm món đồ vừa rời khỏi tiệm thì món đồ biến mất ,cô nghỉ toàn là đồ ma đem lên nhân gian đâu có xài được đâu.
Bổng họ la:- tới giờ quỷ đi kiểm tra ,vừa quay lại họ biến mất ko một bóng ai ,cô lại nhấc mình bay lên cầu NẠI HÀ ,chuyến này cô nghỉ phải quẹo qua tay phải để ngao du chứ.
Có những ngã rẽ trái phải ,như ở nhân gian con đường lộ lớn có trạm kiểm soát ,những oan hồn xếp hàng để đi vào ngã rẽ ,ở trần gian gọi là nhập khẩu vậy ,đi một đoạn từ cửa lớn một đoàn vong trắng xóa đi tới quẹo khiến cô nghẹt lại phía sau ,nhìn kỷ những tốp này toàn là trẻ cở tuổi 20,thấy mấy vị phán quan mặc áo đen cầm sổ sách đi phía sau ,cô hỏi tại sao?toàn người trẻ
Thì vị đó nói ở trên nhân thế chuyên phá phách , đua xe chơi bời đủ thứ nên chết trẻ lớp tai nạn lớp bệnh ,lớp do nghiệp nữa nên phải chết trẻ ,cô đành rơi dòng nước mắt khóc nói :Trời ơi !các con ơi!khi nhân gian ko chịu an tịnh tu thân ,học hành ko chịu tạo nghiệp trần nhiều kiếp ,lại tạo nghiệp chất chồng làm chi ,cô nấc lên rồi lắc đầu), đành tiếp tục hành trình,cô nhấc mình bay qua đầu đoàn vong đó ,
Số vong cở 100 người cô lướt mình đến cuối đường ko biết đường nào về nhân gian ,đành hỏi thăm thì có người chỉ ,đi tiếp đến cuối đường rẻ trái con đường này những người đã mãn tội muốn xuống trần gian để tái sanh ,cô bay đến cuối đường rẻ trái ,có người nói: cẩn thận nghen ở góc đó thấy ko có ai nhưng khi lại gần xuất hiện có thể là dê ,chó ,hoặc con vật gì hể đụng mình thì ở lại âm phủ luôn ,khỏi về nhân gian nữa ,bề ngang hẻm này chỉ bằng một người đi lọt ,đến cua quẹo phải cở 2m lại quẹo trái xuống dốc rơi vào trần gian .
Rất khó thoát khỏi cái cua quẹo để xuống trần gian lắm các vong đó phải đi từ từ ai có thẻ lệnh mới qua như vé của trần gian vậy,còn cô đi ngao du mà lấy đâu ra thẻ nghỉ vậy cứ cất mình bay bổng ,lọt qua ,ý trời! nguyên một đám binh quỷ rượt ,cô lật đật bay lẹ xé gió xuống nhân gian ,thui thì ngao du cảnh dương thế giờ là trời tối ,bóng trăng rọi ,thấy bóng mình lướt ,
Có nhiều nơi mộ có quỷ gác quanh ,những vong linh luyến tiếc của cải quanh quẩn bên người thân mình cũng đang chờ tái sanh nơi trần thế ,hồn đi lâu e xác lạnh khó nhập ,cô quay về nhập xác ,và lại giấc ngủ bình thường như chúng sanh .
Đi đã hai đêm như thành thuộc cảnh ,cô bay đến đó ko cần đón,đêm này là đêm thứ ba ,ngao du khám phá cảnh ma trước ,họ sống như ở nhân gian ,cảnh cũng mờ ảo hầu như họ làm mọi việc như một thói quen của trần gian ,nghiệp nào sẽ theo nghiệp đó ,như cuốn phim cứ lập đi lập lại ,ko cần ai mua ,ko cần phải có nhu cầu ,mà họ làm để cho đở nhớ khi ở trần gian đã hành , họ ăn ,uống ,vui chơi ,ảo tưởng mơ hồ ,mù mịt ,những con đường luôn tăm tối ,họ luôn sợ con cháu phá của cải ,luôn về rồi trở lại ,hoặc nuối tiếc của cải ,những người này chỉ thiện ăn ở phải thôi nhưng chìm trong mê muội ,ở giữa chừng thiện ác .
Cỏi quỷ là nơi tăm tối hơn ,nó ko ác ko phá ai nhưng thích nhảy nhót la ó ,cầm dao ,cầm gậy reo hò thỏa thích ,nó ko động ai nhưng ai động nó ,thì nó nhảy vào cắn tức là loại ích kỷ ,ko cho ai xúc phạm tới ranh giới thuộc bản thân chúng .
Ma đói , khi ở nhân gian đã bỏn xẻn tham muốn của thiêng hạ ,luôn cướp đoạt ,thèm khát ăn uống sung sướng ,khi xuống đây sự ham muốn đó dâng cao ,lúc nào cũng thấy đói ,cái gì cũng muốn nhai vào cái gì cũng muốn ôm ghì vào ,mất luôn sự tự chủ ,họ làm như vô thức ,đơ mình từ từ tiến đến cái mà họ cho có thể ôm ghì nhai nuốt ,trong mỗi cảnh ko có quỷ sử răng nanh nào đẩy mà do nghiệp lực tạo tác của trần gian mà hiện ,họ sống theo từ trường chung nhóm của họ .
Tự họ xử nhau ,tự họ cắn nhau ,ko ai can thiệp ,thích đánh nhau sẽ ở chung kẻ ham chiến đánh nhau ,đỗ máu rồi lại báo thù cứ đảo qua đảo lại một cách vô ý thức ,ko hề can được ,nhưng khi trần gian họ có thể vì mục đích để tham để chiếm nhưng ở dưới rồi họ lại làm một cách vô thức cứ lập đi lập lại tự chán nản kiệt quệ ,tự giác rời thì sẽ có một thần thức cho họ đến nơi nhẹ hơn ,đó là địa ngục do cảnh giới nghiệp lực đẩy họ vào cảnh của địa ngục.
Cô đi ba đêm nhưng ko thấy quỷ cầm chỉa ba ,hay quỷ sừng đâm tội nhân mà thấy toàn do nghiệp tạo của chúng sanh mà biến thành nhóm tự xử nhau vô thức .
Đêm thứ tư lòng đã quyết hỏi tại sao trong kinh ,trong trần gian vẽ ảnh đều có địa ngục nào là quỷ vậy sao đi ba hay bốn lần không thấy quỷ ,chuyến này vừa quẹo tay phải của cầu NẠI HÀ có những đường hẻm tối đen kia quyết khám phá coi có quỷ ko?cô đã thấy một đường hẻm bên tay trái tối om quẹo ngay vào.
A HA!nơi đây có vẽ sáng sủa hơn vì nhiều ánh đèn nhỏ treo vòng quanh ,mọi người nhảy múa ca hát tưng bừng ,cô bước đến định hỏi nơi đây làm gì vui vậy họ trả lời:sắp rằm tháng bảy họ vui sắp lên nhân gian để nhận bánh quà ăn uống ,nhưng đột nhiên họ ngửi về phía cô ,họ la lên : tại sao ? tui ngửi được mùi người còn sống ),thui chết cô lo bay cho lẹ .
Họ nhanh chân bay theo rượt họ cũng làm phép cho các đường kẽm gai bao phủ thiệt là khó thoát ,cô đang lo không biết chạy sao đây ,cô liền đọc bài chú đại bi ,liên tục ,và lúc ấy như phép thần thông nhấc mình cô bay xé gió thoát vòng vây ,đến góc ngã ba có một sư ni đón nhìn mĩm cười nói :Hãy đi theo ta ,và sư ni ấy vừa gõ mõ đọc NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT .
Lúc ấy cô chấp tay theo sau niệm niệm rồi trở về trần gian vừa hạ xuống trước cửa nhà ,vào nhập xác ,thật hú hồn ko thì bị bọn binh ma âm phủ bắt thì khỏi về luôn NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Đêm thứ năm ,vừa nhập định xong ngã lưng hồn vừa rời khỏi xác ,bước thẳng lên nhà trên xoay lưng ngắm xem bóng ma như thế nào ?cô quay lưng nhìn vào gương ,á! trời ! mình đó sao?cô trố mắt ngó chính mình trong gương ,nghỉ bụng ma cũng như lúc còn sống thui ,rồi bước ra sân ,ánh trăng rọi thấy bóng mình in dưới đất ,nghỉ vậy là cô đã xuất hồn rồi .
Hôm nay lại cất mình bay về phía địa ngục ,phải qua lưới LA VÕNG vô hình nơi cung trời ,từ nơi lộ lớn của cầu NẠI HÀ kỳ này vào nơi muôn thú đầu thai.
Qua cửa ngục thiết xa lưỡi chém ,bề ngang căn phòng ba mét chỉ một cửa tới dao cứ chém xuống ,nếu ko qua kể như mình bị nhốt ,dao chém ko có người điều khiển ,khi thần thức con người tạo tác nghiệp tự bước vào cửa ,rồi cửa đóng lại ,phải tự bước tới ,cha cô mà không ra kể như nhốt mình luôn ,trước khi bước vào mọi người nói với cô rằng:Cô phải đi qua cửa đó mới thoát về trần gian .
Chắc mọi người thử mình trong lòng cô nghỉ vậy và lẳng lặng bước vô , bây giờ lui ko được ,tiến ko xong ,cô đọc thần chú đại bi bổng những lưỡi dao đứng im lại ,ánh sáng rọi khắp phòng ,và cứ thế cô bước tới qua khỏi ngục thiết xa vì bốn phía tường đều bằng thiếc .
Cuộc hành trình lại tiếp khám phá nơi tăm tối nhất gọi là địa ngục HẮC ÁM vì nó tối thiệt kinh luôn ,xòe bàn tay ko thấy ,nơi đây đen tối đến mức khó thấy đường ,người ở đây họ làm việc trong bóng tối ,tự làm mà vô thức luôn những người chỉ kiếm tiền mù quán bo bo ,ko biết người xung quanh ,ko biết đến tịnh tâm hay bao dung gì ngu muội họ mãi tự đi trong bóng tối lò mò ko có ánh sáng .
CỬA NGỤC THỨ MƯỜI
Tôi bay qua một khu rừng tối đen .,tối đến nổi xòe bàn tay ko thấy lòng bàn tay của mình ,một bức tường chắn ngang ,tôi bay vào bên trong của bức tường ,tường này như thiếc ,sắc vậy vừa mới hạ chân chạm xuống thì lửa ở đâu xuất hiện cháy cao ngút ,tôi chạy đâu là nó chạy theo đó ,bổng trên ko trung có tiếng nói vọng xuống ,:-ko được đốt con của ta ,...tự nhiên lửa tắc hết ,tôi nhìn quanh ,,hôm nay là rằm tháng 7 ,các vong đó đi lên trần gian ăn đồ cúng chỉ còn một hai người đang quỳ cạnh miệng giếng chờ quyết định gì đó ,họ kêu tôi mau lại đó quỳ ,tôi lại đó một lát có cái gì trong giếng bay ra ,ko kịp nhìn đó là cái gì , tôi lại nghe nói ::ko được ngước lên ,ngươi tên gì? bao nhiêu tuổi? ở đâu ????tôi nói dạ con tên MH .PHÁP DANH DIỆU ĐỊNH ,ở TCH ,năm nay 30t
Tiếng nói đó lại nói :người ko có tên trong đây ,tôi lại trả lời:con bị đi lạc vô ko biết đường về ,vậy tiếng đó lại nói :-người đi về phía trước bay về phía tay phải là về được ,tôi theo hướng đó quả là bay về được ,.
CUỘC GẶP LẦN HAI
Lần này tôi nghỉ nếu gặp lại mình phải biết nó là ai???muốn biết phía trong là cái gì?tôi cũng nhấc mình bay về hướng đó , cũng bức tường đó cũng quỳ cạnh miệng giếng ,khi vật đó bay lên tôi cảm nhận như có ai nhảy vòng quanh đến sau lưng của tôi ,nhanh mắt liếc xuống phía sau ,tôi thấy hơi run ,hai bàn chân giống mình nhưng móng vuốt nhọn hoắc ,lông dài phủ ,đang nhún nhảy , tôi nói:bị lạc mà bức tường như có phép ,nên tôi ko bay ra khỏi ,
Tiếng nói đó vang lên ,rồi đó người đi đi ,như vậy chuyến này tôi đã biết nó là ai???LÀ QUỶ GIỮ CỬA NGỤC THỨ MƯỜI .
Khi người trần gian tạo tác nghiệp thì ko sợ cứ ung dung ,đến khi sắp lâm chung ngoái đầu nhìn thì nghiệp quả đã đầy rồi ,trong thời gian vừa mất 7 thất như kính chiếu MINH SÁT ,những gì mình làm thiện ác trãi qua như một cuốn phim ,rồi tự mình vào trong vô thức giác ,cứ theo nghiệp lực lôi vào cảnh giới địa ngục mà trả ,những oan hồn bị mình báo họ uất oán họ cũng quấn lấy để nhắc mình phải biết nghiệp tạo ra .
Cảnh tiên giới niết bàn sáng bao nhiêu thì cỏi địa ngục tăm tối bấy nhiêu như bài TIÊN DU KÝ cô đã kể ,khi ở nhân gian họ đi lại hỗn tạp nhưng bên kia họ nhận biết đồng loại theo từ trường sóng từ trường này phải hợp ,như cá nước mặn thì chung ở nước mặn ,nước ngọt ở chung nước ngọt .
Những vị đi xem xét có cả tăng ,sư ni,nơi cỏi ngục ,cũng có giống như chùa để ai ăn năn vào đó ,từ địa ngục xoay dần càng lên cao càng sáng tỏ dù đó là người hay là thú biết tu thần thức lên cao càng nhận ra ánh sáng ,nhưng nơi địa ngục đông hơn nơi thiêng giới ,đa số họ bị chìm ít ai nổi .
Nếu họ nổi thì họ đã bước vào cảnh của tiên giới niết bàn rồi
________________________________________
Cứ quan sát nhà thương điên ,nhìn vào ta nói họ điên khùng , nhưng họ đang sống trong nghiệp quả ,mà do họ tự tạo thành ,họ trói mình vào trong tăm tối ,cảnh của họ thấy là cảnh địa ngục ,cái xác của họ là của trần thế , nhưng thần thức của họ đã ở cỏi giới khác ,khi bỏ thân này thì định lực đó sẽ đẩy họ thọ khổ hay thọ sáng nơi họ đã chọn ,thì nơi địa ngục kia cũng như vậy .
Tự nghiệp quả mà trần gian tạo rồi tự định lực đẩy nếu định lực đã loạn thì ko có phương hướng tự chạy loạn ,điên đảo vào địa ngục thọ khổ như nghiệp lực chính mình đã đẩy thần thức vào địa ngục kia.
Định chính là nơi mình định đến ,đã chọn ,lực nghĩa là nghiệp lực tác tạo hay việc làm của trần gian mà sanh ra thức giới ,thức giới này chuyển qua vô thức giới tùy theo nghiệp quả mà đi vào vô thức .
Cỏi niết bàn ,hay tịnh độ đều do mình tự mình đi đến
Trong tam giới (hạ giới)(trung giới)(thượng giới)
hạ giới gồm thần ,thánh ,nhơn ,ma quỷ ,linh thú ,
trung giới gồm hạ tiên ,trung tiên ,thượng tiên ,đại la thiêng tiên,
hư không là THƯỢNG GIỚI chư phật và bồ tát .
Đã ở bật nào cũng có từ trường ,càng gần từ trường càng rõ ,thường những vị tu chưa đạt (chưa phát huy từ trường )vì có lòng mong cầu phổ độ chúng sanh ,vì mong cầu đó đó sẽ có các vị tu hộ trì dựa theo để phát huy từ trường để nhận các từ trường bật tu ta gọi đó là trường hợp tu qua linh căn ,tùy theo bật tu đạo hạnh sẽ có các linh căn : thí dụ linh căn cô, cậu , thần thánh ,hoặc linh thú .
Từ trường người tu cao sẽ tiếp nhận từ trường bật bồ tát ,phật thì ko qua linh căn mà nhận trực tiếp
Kết luận như sau:nhận từ trường có hai cách ,một là trực tiếp hai là giáng tiếp ,người tu có từ trường thấp ,vì lòng quá mong cầu ,sẽ nhận luồng điển qua giáng tiếp (qua một linh căn)có khi tu có người thân tu thiếu công đức cũng muốn về mượn xác để lập công đức nữa ,người tu có từ trường cao thì nhận từ trường trực tiếp các từ trường từ thấp lên cao ( chư phật ,bồ tát)tùy theo sức tu mà nhận từ trường ,
Nếu thấp dễ bị từ trường vong ma khống chế ,ta gọi đó là vong nhập ,.
Điển :từ bật thần là nhập thẳng ,trạng,cô ,cậu đều là điển nhập linh căn ( tức là khấn vào ,mới hạ điển)tá điển để hành sự phật sự,.
Điển tiên,phật ,và bồ tát đều là luồng điển tự nhiên , giao tiếp qua từ trường , ko nhập,chỉ nguyện phật và bồ tát tâm hướng về đó sẽ phát huy từ trường tiếp nhận điển liền,ko bị nhập nên biết rõ mình làm gì nói gì đều nhớ xuyên qua suy nghỉ hành động chư phật thế thôi .
Điển linh thú :từ con vật tu thành nó cũng có từ trường ,cũng tiếp nhận qua mong cầu của người tu ,có nhân duyên ,tùy duyên tá điển qua linh căn ,khi ta biết các nguồn điển sẽ ko lầm lẫn bọn tà ma xưng hùng xưng bá trong thế gian ,.
Người tu có từ trường nhạy bén , một luồng điển tự nhiên sẽ phát huy trí tuệ ,tu tin tấn hơn , như các vị chân tu ngày xưa (chư phật và bồ tát ).
Cũng phát sinh lòng từ bi , dễ nhạy cảm ,từ đạo hạnh ,oai nghi ,một cách tự nhiên ,ko cần học qua ai , hay luật giới cũng thế có sẳn trong người , đó là bản tánh như như của họ ,của tự nhiên mà họ đạt đến thành tựu .
những vị đó có một năng lực siêu nhiên cầu gì đặng đó , như có một phép thần thông .
Mong sao qua bài này giúp ích cho hết thảy chúng sanh ko bị mê lầm lạc
HẠ GIỚI
Là nơi mình đang ở gọi là ĐỊA CẦU ,trong hạ giới chư thần ngã quỷ ,súc sanh ,nhân là hay hỗn tạp cũng là nơi luân hồi ,tái sanh ,người đời thường nói ,trần gian là nơi thử thách ,trả quả ,vay trả đều không sai ,sự luyến tiếc ,yêu thương bao trùm trong hạ giới .
Nơi đây cũng là nơi để các bậc chân tu thử thách ,mọi thứ cảnh vui ,buồn ,ô uế trược là nơi đầy tham vọng ,rù quyến ,tất cả những thứ cho là đẹp cũng là HẠ GIỚI .
Cho là thậm tệ xấu xa cũng là HẠ GIỚI cho là an vui niết bàn cũng là HẠ GIỚI ,nào ai biết thật sự niết bàn đó nằm ở đâu ?
Nếu như tất cả cũng đều trong HẠ GIỚI thì con người đâu có vọng mong cầu ,trong HẠ GIỚI chỉ là cái thấy của tưởng tri ,vậy khi bỏ xác này linh hồn sẽ được đi về đâu ?chẳng lẻ suốt đời tu trì mà buông xác cũng ở trong HẠ GIỚI này hay sao?không đâu .
Nơi đây chỉ là nơi cỏi tạm ,mọi vật chất này chỉ là phương tiện để mình dựa trong khi còn tại thế ,cảnh giới tiên thánh ,PHẬT bồ tát ,tách rời với trần gian xa lắm ,các vị ấy dùng linh quang soi thấu về ĐỊA CẦU ,
Thấy biết nhưng không luyến tiếc chỉ khi cần các vị phân ra để xuống HẠ GIỚI để làm một việc gì đó ,rồi lại quay trở về nơi người ngồi .
Cỏi tiên GIỚI
Từ HẠ GIỚI lên cỏi tiên phải qua nhiều thứ lớp từng trong VÔ HÌNH chư thần thì gần cỏi nhơn nhất ,đến HẠ TIÊN ở giữa lưng chừng mây ,các vị TIÊN lưng chừng mây thường hay lui tới với cỏi nhơn nhiều nhất ,những người ăn hiền ở lành không phạm tội ,hiếu thuận ,khi lâm chung gọi là VÃNG SANH ,là những vị hay ở lưng chừng mây ,HẠ TIÊN những vị tu mà chưa đến chưa đạt đến cũng ở lưng lửng .
CÁC vị này cũng hay về núi về non có người về con cháu dựa tu tiếp ,cũng có người về chùa tu ,cũng có người lại muốn tái sanh để lập công đức trau dồi tu tiếp ,Từ HẠ TIÊN trở xuống tiếp cận HẠ GIỚI rất nhiều ,những người đi cúng dâng bông cúng bà cũng đều có thể gọi là HẠ TIÊN .Cỏi hạ giới gọi là cỏi sắc giới
,Trung tiên ,thượng tiên ,cỏi trung tiên,và thượng tiên là gần sát cận cỏi vô sắc .
Cỏi này ánh sáng luôn tỏa ,mây phủ mù mịt ,cảnh sắc tươi sáng ,hoa lá màu rực rỡ ,cô còn nhớ chuyến đi dự bàn đào ,
Từ hạ giới bay đi là phải qua lưới LA VÕNG lưới phủ ngăn chia cỏi vô sắc ,và cỏi sắc ,như trong kinh diễn thường nói:lưới LA VÕNG tuy thưa mà khó lọt ,quả là như vậy .
Chạm lưới như sét đánh ,điện giựt ,không sao qua ,ngoại trừ người đó tu được chấm thì sẽ có người đón ,để mở cửa LA VÕNG cho qua ,cô cũng được cho qua lưới LA VÕNG ,vừa đặt chân xuống ,lập tức mây phủ dưới chân ,nhạc từ bốn cỏi vang lên ,nơi đó cũng có nhiều vì tiên múa hát ,nhạc của các vị là nhạc trầm bổng vi vu ,họ ăn mặc màu sặc sở ,gương mặt như phấn ,son trang nghiêm ,rất đẹp .
Đi một đỗi xa cây trái đào nở rộ màu đỏ sáng ,chuyến đó cô cũng được hưởng 1 trái ,đi nữa vườn hoa muôn màu sáng ,đây là giao điểm của hai giới hữu sắc và vô sắc .
Cỏi VÔ SẮC của BỒ TÁT .
Từ cỏi thượng giới nơi cô đã đi qua ,một luồng chơn khí xoáy hút lên khỏi chân không của vũ trụ ,nơi đây ánh sáng chang hòa và thanh tịnh ,các vị bồ tát hình dáng sư ni ,tỳ kheo ,ung dung thanh thản ,không ai nói gì ,cô liền ngồi xếp bằng tụng chú đại bi ,lập tức vang lên rất nhiều người đồng tụng .
Thấy lòng ổn định ,nghỉ cỏi này không phải ma giới ,ánh sáng phản chiếu sáng rực như ban ngày ,như mặt trời ,cùng mặt trăng chiếu rọi .
Lần đầu tiên rơi vào một cảnh giới vô cùng thanh tịnh trang nghiêm ,từ đây nhìn xuống HẠ GIỚI đang là một màn tối đen ,
Có vị bồ tát nhìn cô và cười nói: nơi đây là cỏi vô sắc ,xưa kia con từng từ nơi đây xuống HẠ GIỚI ,nay quên rồi ư !nếu sau này tu đạt rồi cũng phải ghé qua cỏi này,
Dẫu cho lòng còn hoài nghi ,nghe nói:tự xưng bồ tát là ngã mạn ,cô nghỉ cái bà này tự cao ,
Tình thiệt đối với người phàm tu luôn sợ mình phạm cái này ,sợ phạm cái kia đến mức đứng trước bồ tát thật cũng run sợ thậm chí xúc phạm người cũng không hay .
Cái vụ xúc phạm bị ăn đòn là cô bị trường kỳ ,vì học kinh ở nhân gian ,áp dụng trong cỏi bồ tát trong vo hình ,các vị nào nghe qua DIỆU ĐỊNH thì hãy nhớ học kinh cho kỷ , nhập TÂM cho kỷ để gặp các ngài sẽ trả bài ,như tôi sẽ trả bài các ngài nghen ,không thuộc là xấu hổ vô cùng.
Cỏi bồ tát ,các chư vị bay nơi đây qua bên kia nhẹ nhàng ,bốn hướng thường phát ra tiếng phạm âm ,ai từng được nghe qua lập tức thân TÂM bay bổng ,thật thanh tịnh thật trang nghiêm .
Cỏi niết bàn là đứng ngoài vũ trụ ,ở từng bậc bồ tát hay cỏi nào cũng là có nam có nữ ,như cỏi niết bàn dẫu là nữ đắc quả về cỏi này cũng hóa thân nam .
Nơi đây thật trang nghiêm thanh tịnh ,hình dáng chư PHẬT như các tăng sư ,đi chân đất thanh thoát trang nghiêm ,ánh sáng luôn sáng tỏa ,về cỏi này phải tắm qua ao nước thất bảo trang nghiêm của cỏi tịnh độ ,
Khi tăm rồi toàn thân phủ vải vàng sáng rọi ,khi đảnh lễ các ngài ,hành giả quỳ chân trái chỏi lên một chân phải ,hai tay chấp lại cúi xuống nhưng không chạm đất ,
Nơi cỏi PHẬT chỉ chào nhau tiếng MÔ PHẬT ,các chư vị phủ toàn thân một màu vàng ,nơi của các ngài như tháp được trang trí rất đẹp ,được phủ vàng óng ,chân đi chân đất hành giả dẫu muốn chạy theo nhưng không sao theo kịp gót .
Tiếng nói nhỏ nhẹ hiền hòa ,luôn ngồi hoặc nằm trong tư thế thiền thanh tịnh
Những cảnh giới cô đi qua rất ư là đẹp ,thật trang nghiêm ,và đầy nhiệm màu trong cỏi vô hình ,trước đây từng nghỉ mình đi thấy mà không kể thì thật uổng cho những ai tu chưa được thấy .
Nhưng lại nghỉ mình kể mắc công họ không tin ,trong hiện tại người tham thiền đạt được đi trong niết bàn quả là rất khó ,nhiều người tu nhưng lại không có sự hổ trợ niềm tin ,thật là uổng ,nghỉ như vậy cô mạo muội kể diễn đạt cảnh giới đi qua mong sao hỗ trợ long tin cho người tu trong hiện tại ,từ cảnh tiên cho đến cảnh bồ tát ,cảnh niết bàn nơi cỏi TỊNH ĐỘ cô đi qua từng cỏi ,như cỏi rồng ,cỏi cửu thiên ,cỏi VIÊN ÂM thiên trúc v…v…có những cỏi tuyệt đẹp như tranh mong hỗ trợ lòng tin cho người tu trì nơi hiện tại
Cô từng tham thiền và lịm nhập định trong vô thức ,trong vô thức đó tự phóng đi qua các cỏi ,cỏi được chúng sanh sùng bái và mong cầu vãng sanh là cỏi TỊNH ĐỘ niết bàn .
Từ nơi HẠ GIỚI xoay vần lên cỏi niết bàn đường đi luôn hiểm trở ,ma quỷ thì nhiều luôn chầu chực lôi kéo ,chúng cũng đã từng tu luyện nhưng TÂM tà không bỏ ,luôn rào đón lôi người muốn đi lên cỏi niết bàn ,người tu như đang leo sườn núi ,một bên là rừng hiểm trở ,một bên là vách núi đầy ma quỷ .
Người tu nên chú ý tiếng MA tiếng QUỶ cũng ngọt ngào dụ dỗ ,luôn cản ngăn khích bát người tu ,chúng cũng có phép thần thông để dụ lòng ham muốn.sự mong cầu trong trần cao chừng nào thì chúng thuận lôi chừng nấy ,nên rất khó leo ,càng leo là càng hiểm trở ,càng đi lên ánh sáng càng tỏ rỏ hơn ,càng thấp bóng tối phủ càng tối hơn .
Đường đi từ hạ GIỚIlên niết bàn lại có liên quan trên sự tu của chúng sanh ,giống như chuẩn bị leo núi phải qua huấn luyện chuẩn bị cuộc hành trình .
Bên này vách núi TU DI,bên kia là VỰC THẲM muôn trùng ,nơi đó là địa ngục ,tối đen sâu thẳm ,dọc hành trình những người tu còn tham vọng còn nhiều thứ vướn lại không lên nổi cỏi niết bàn.
Có ai? Đã nghe qua quỷ chùa ko?những vị này tu hoài không đắc quả sẽ sanh ra TÂM ganh tỵ với những ai đang leo núi đến cỏi NIẾT BÀN ,vừa sợ rớt vào ĐỊA NGỤC lại vừa sợ bị ma vương ,quỷ mị ,các loại quỷ đang chầu chực đẩy mình trở xuống ,nên có câu:
Khéo tu qua ải DIÊM PHÙ
Khéo tu thì nổi vụn tu thì chìm
Ngay khi trong trần gian HẠ GIỚI người phải tu để chuẩn bị cho mình một nghị lực ,đủ thần thông vượt qua những trở ngại ,mà người bình thường không ai thấy ,một khi buông nhả xác phàm để hành trình đến cỏi NIẾT BÀN như thần thức hướng đi thì có người không đủ sức bị quỷ ma đứng rãi rác lôi lại vướn mắc lưng chừng .
Tu là chuẩn bị mọi thứ cho mình một hành trình để đi đến nơi mà mình mong mỏi nhưng nghị lực của thần thức không đủ thì lại bị rơi lại thật là uổng phí công trình ,lại phải tái sanh luân hồi nữa .
Khi đã đi qua từ HẠ đến THƯỢNG sẽ có các chư vị sứ giả của PHẬT đón qua cỏi TỊNH ĐỘ ,cỏi đó vượt ngoài TAM GIỚI ,ánh sáng bao trùm bay qya một con sông rồi đến nơi đó ,nơi đó bao giờ cũng có ánh sáng thanh tịnh sắc trắng hào quang chiếu rọi ,,nhạc trời vang động bốn phương có các vị tiên cúng dường hương hoa ,mà dùng lời hay ngôn ngữ không ai diễn hết được nơi cỏi tịnh độ .
Trên đường đi có ao sen ,nước trong thấy tận đáy ,hoa sen hồng trãi dài tuyệt đẹp ,

Cách sinh hoạt các cỏi tiên PHẬT là bằng thần thông ,bay từ cỏi này qua cỏi kia lướt qua mây ,muốn ăn tự tác động thần thông mà biến hiện .
Người tu mà không vượt nổi qua thì không đủ thần thông để đến ,cỏi đó là TỊNH ĐỘ,NIẾT BÀN của các chư PHẬT VÀ BỒ TÁT
Những đạo pháp để lại trong trần gian là những bài học chuẩn bị tren hành trình đến cỏi NIẾT BÀN ,nhưng tùy theo khả năng từng cá nhân để lãnh hội ,cũng tùy theo thần thức ,nghiệp lực mà tự đắc trên các bực đạo quả của mình ,không ai có thể lôi kéo ai bằng sức lực của chính bản thân
Trong hiện tại ngay trước mắt của chúng ta ,địa ngục ai cũng thấy mà lại mơ hồ không thấy ,dẫu cho có nói rằng cỏi đó không có quả là mê muội .
1= Khi mình làm nên tội như cướp của giết người thì ai bắt mình ,có phải là CÔNG AN không
2=Mình quậy phá côn đồ ,ai nhốt mình đây ,có phải công an không ?
Trên trần gian mọi thứ mê mờ của lý trí có phải đưa mình vào ngỏ cục PHẠM TỘI rồi rơi vào ĐỊA NGỤC ko?chính những nhà tù bắt nhốt những con người tạo nên tội lỗi có phải pháp luật bắt nhốt ko?
Tại sao ?con người trở nên như vậy ? có phải do lòng tham không ?mọi vật chất ,tham lam ,danh lợi ,mà tạo nên tội lỗi .
Những cảnh đời làm điên đảo ,làm loạn có phải do mình thiếu suy nghỉ ,lý trí không an ổn ,chỉ một mồi lửa bé tí mình phóng to lên ,rồi loạn TÂM cuồng trí ,nói năng điên khùng rồi mất tự chủ đây chính là ĐỊA NGỤC .
Địa ngục phát xuất từ THÂN ,KHẨU ,Ý nào đâu có xa ,ngày đêm mình phải phiền não ,ngày đêm lo sợ ,đau đớn trằn trọc vì nó ,đừng nói đây không có ĐỊA NGỤC mà hiện diện từng ngày ,từng lúc ,sự THAM,SÂN,SI của chính bản thân tạo nên đánh lộn ,chửi rủa ,đánh nhau ,đâm chém ,sang đoạt ,thậm chí chiến tranh đây là ĐỊA NGỤC .
Địa ngục ngay từ cái hữu hình dày vò ,cắn rứt lương TÂM từng ngày mà ngay trước mắt ,mọi nơi xảy ra từng ngày ,chính nó đã làm con người kiệt quệ buồn chán ,đau khổ triền miên ,thậm chí muốn rời bỏ chán chường.Do đâu mà sanh ra và hiện diện ,đó là TÂM tham,sân,si,thù,oán,tham chấp mà làm nên,muốn buông bỏ nhưng không buông nổi ,và chính mình phải tự giam mình trong những địa ngục tối tăm ,đau khổ nhốt mình trong cái u minh không lối thoát ,càng cho rằng không có ĐỊA NGỤC nhưng khi nếm vị đắng của cuộc đời mới cảm nhận ngọn lửa của ĐỊA NGỤC .
Khi mình nổi sân thì lửa dục đốt thì chính lúc đó mình đang hưởng một chúc lửa dục từ ĐỊA NGỤC phóng ra ,THÂN TÂM càng tham,sân,si,thì lửa dục càng làm cho minh điên đảo ,rới vào địa ngục trầm luân mà mình không hay biết .
Mỗi ngày chúng ta tạo bao nhiêu tội ,tạo bao nhiêu cảnh sóng xô ,chính chúng ta đây tự làm khổ bản thân ta đây .
Đau đớn ,than thở ,ai oán ,chính mình tự gây khổ cho chính mình ,thất tình ,lục dục ,ham muốn ,bảo thủ mà con người cho đây là lạc thú đó sao ?
Đó là sự bắt đầu làm nên đau khổ phiền não triền miên ,rồi bịnh hoạn ,ốm đau đày đọa thân xác,chúng sanh mình mê mờ lấy đau khổ làm vui ,lấy khốn khổ cho là an lạc thật là tội lỗi thật là MÊ MUỘI vô minh cho đến mãn đời vẫn không thấy rằng đây chính là ĐỊA NGỤC
__________________
Đâu là NGÃ QUỶ,súc sanh ,khi con người trở nên đánh mất lý trí ,tham lam giết chóc ,cướp của , sát sanh hại người hại vật không còn nhân tính ,chửi cha chửi mẹ ,làm loạn luân thường đạo lý , Không còn tôn kính bề trên ,đàn áp kẻ dưới ,phỉ báng TAM BẢO ,phỉ báng người tu ,cười chê người nói đạo ,loạn luân ,tham lam ,bảo thủ ,cười trên sự đau đớn của người khác ,sống không còn là đạo đức nữa ,tham dục lạc ,MÊ MUỘI thích lạc thú ,tham chém giết ,tham say sưa ,tham mắng chửi ,tham đánh lộn ,
Là hạng người cỏi thấp nhất ,trí tuệ MÊ MỜ âm u không hề thích nghe kinh ,không thích nghe đạo lý ,không phân biệt đâu là ánh sáng của đạo lý ,loại này mãi mãi cho đến chết vẫn không hề tin TAM BẢO ,không hề nghe lời dạy của đạo pháp ,mãi mê say trong tăm tối của ĐỊA NGỤC a tỳ.

Đâu là TIÊN là thánh .
Đó là người biết luân thường đạo lý ,biết hy sinh cho đồng loại ,biết phân phải trái ,biết đạo đức luân thường .
Người có đạo đức ,lại biết sang sẽ cho người những tài vật ,của cải theo khả năng cho người bần cùng biết trên biết dưới tôn kính lễ lạy ,sống trung ,tín lễ nghĩa ,không ràng buộc nhưng cái đau khổ của người phàm , biết tùy lúc tùy nơi rời khỏi phiền não mà chúng sanh thường ràng buộc ,đủ trí tuệ để phán xét đúng sai ,không còn trôi theo cái ngu muội mà chúng sang đau khổ ,cuộc sống của người là an vui phước tụ dồi dào không khốn khổ ,không lao đao ,đó là TIÊN ..
Đâu là PHẬT chính là các vị đầy trí tuệ ,sống thọ ,giác ngộ trong mọi cảnh trần ,lòng đầy bao dung hoan hỷ ,An vui ,từng ngày từng ngày làm lợi cho chúng sanh ,an vui không ràng buộc ,thoải mái TÂM HỒN .
Trong ngay hữu vi trước mắt mình đã thấy TAM Cỏi hiện tiền thì có chi mà mình tìm kiếm ,bồ tát ngay bên cạnh giúp mình hằng ngày mà mình không hề báo đáp ,tìm đâu bồ tát trong vô hình ,ảo tưởng xa
ÂM DƯƠNG đồng nhứt lý
Nghiệp duyên vay trả trả vay kiếp luân hồi
Biết nay mang nghiệp xin đừng tạo nghiệp
Nghiệp đến rồi chẳng kịp tu
Danh sắc làm điên đảo
Lợi lộc trần gian lắm muôn màu
Tham lam nên mê muội
Vay nợ trần gian lắm nghiệp oan
Trân gian mấy ai sáng tỏ
Đạo nhiệm màu khai tỏ khắp trần
Hỏi ai có thấy đâu là bờ bến
Cứ mãi mơ hồ với lợi danh
Thương thay cho trần còn mê ngủ
Loanh quanh với chữ ê a
Vô minh cứ mãi luân hồi trả kiếp
Phật đứng một bên cũng chẳng thấy người
Có hữu mới có vô ,ngay hiện tại con người đang tu tập ,vậy mình đang tu cái gì đây?có phải mình đang tu tập theo hạnh của chư PHẬT chư bồ tát không?giáo lý của chư PHẬT chư bồ tát để lại là gì?đó là đạo đức làm người ,cách tu luyện từ đạo lý làm người rồi tiến hóa dần thành TIÊN ,thành THÁNH trong hiện tại ,ngay hữu vi hiện tại mình đang tu luyện đây ,Cái TÂM hữu vi đây bắt đầu từ hành trì hữu vi thì mới tạo ra vô vi .
Sống trong hiện thực con người lại MÊ MUỘI ,vọng tưởng cỏi vô vi mà quên mất đạo đức của hữu vi ,tôn sùng cỏi vô vi đến MÊ MUỘI ,tham lam ,bảo thủ những cái bản ngã ,sở ngã của bản thân ,mình dùng lễ lạy của hữu vi để mong cầu lòng vị tha ,cứu giúp ,nhưng lại quên mất chính mình đây cũng đang làm theo TÂM bố thí cho người .
Bảo thủ ,tham lam ,mê muội ,soi hình soi bóng vào TẤM GƯƠNG của chư PHẬT ,của chư BỒ TÁT mỗi ngày ,nhưng quay lưng rồi TÂM PHÀM vẫn trở lại cái TÂM phàm của mình ,thật là xấu hổ cho người cúi đầu lạy PHẬT cúi đầu lạy BỒ TÁT ,nhưng TÂM không có PHẬT ,không có BỒ TÁT ,vẫn cứ đắm chìm trong dục lạc của cỏi trần ,vẫn còn tham,sân,si.
Người tu hiện tại không hiện được tướng của chư PHẬT thì làm sao thành PHẬT,không hiện được tướng của bồ tát làm sao thành BỒ TÁT ,tâm không nhập được TÂM PHẬT làm sao thành PHẬT ,tâm không nhập được TÂM BỒ TÁT làm sao thành bồ tát ,TÂM không được như vậy thì khi viên mãn thì đạt được cái gì?không là cái gì hết ,cứ mê mê ,mờ mù mịt mãi như người ngủ thì làm sao qua được luân hồi 6 cỏi của vô thường thật là uổng cho một kiếp con người
ĐẠO LÀ GÌ
-Tại sao? tôi chỉ nói được một chữ ĐẠOnhiều đạo như vậy mà hôm nay cô chỉ nói một chữ đạo, vì đạo là nguồn gốc sanh khởi,thiện ác,đạo nào thÌ có quy luật của đạo đó.
Khi sanh ra trên vai của mỗi chúng sanh đã mang một trách nhiệm của đạo mình rồi,phận làm ông bà phải làm cho đúng vai trò đạo làm ông bà, đạo làm cha mẹ phải có một trách nhiệm đúng đạo làm cha mẹ, đạo làm anh hoặc làm em cũng phải có quy luật đúng đạo,đây chỉ nói lên đạo nghĩa trách nhiệm của từng vai trò đạo lý,biết tôn ty trên dưới, biết tình biết nghĩa với nhau.
Trước làm người thì biết đạo nghĩa với người thân trong gia đình,sau biết đạo nghĩa với xã hội ,với hết thảy chúng sanh.
Nhiều người đã cất công đi tìm những đạo lý cao siêu nhưng đạo lý trước mắt lại không thấy,đạo làm người:
HIẾÚ:Hiếu nghĩa vi tiên= Làm người việc đầu tiên phải biết đáp lễ công sanh dưỡng dục của đấng sanh thành ,hiếu với người đã có công nuôi dưỡng,sự lớn lên và được nuôi dạy dỗ đều do công sức của bậc sanh thành dưỡng dục.
Xác thân này,máu huyết này do cha mẹ đã sanh,mình không có quyền hủy hoại,không vì một lý do không đáng mà hủy hoại, ngày xưa người mà có đạo hạnh ai mà cạo đầu cũng xem là bất hiếu.
Người tu đạo sỉ cũng không được cạo đầu,đây là muốn giữ gìn công đức sanh thành của cha mẹ,về sau vì có nhiều nguyên nhân,vì phương tiện mới có chuyện cạo đầu hoặc cắt tóc,
Nghĩa ;là biết yêu thương đồng loại ,biết đùm bọc lẫn nhau,tình thâm huyết nhục,không vì lý do nào chia lìa cắt đoạn,người xưa luôn giữ được chữ nghĩa mà kết bạn,như thâm tình đến chết mà không phai lợt.
Trung:là trung thành,trong sáng thân tâm ngay thẳng,ngày xưa tôi trung với vua,vợ trung với chồng,trò trung với thầy,sự trung với nhau không hề có sự phản nghịch bất đạo,như ngài QUAN CÔNG, trung với LƯU BỊ.Nếu không vì một lý do nào khác người thà chết chứ không nghịch lại .
Lễ :sự đối nhân xử thế,dùng lễ để đối nhau vợ chồng ,anh em,ông bà ,sự phân biêt vai vế đối lễ với nhau đây gọi là lễ nghĩa.
Trọng đạo làm người có đủ những sự yêu cầu đó làm tròn thì đã là qua một lớp tiên,gọi là nhơn,đã đi qua lớp cây cỏ ,qua thú qua làm người,là qua 1000 năm tu luyện sàng lọc tâm tánh để làm người rồi mới sàng lọc qua lớp người mới làm tiên
Làm tiên hưởng thụ hết phước rồi quay lại làm người.Vậy muốn không quay lại phải tu và bỏ luôn sự ham muốn những trần tục hưởng lạc để đi vào sự vắng lặng, cho đến chân như niết bàn.
Như vậy muốn thành phật đạo phải đi qua hết các thứ lớp đó như mình phải vượt đèo để đi lên núi,nhiều người đã bỏ quên mất cái lớp thấp này,mà chính họ thường lập lại cái lớp thấp nhất luôn để tâm cứ quanh quẩn không sao ra khỏi để vượt lên , nên cô nhắc nhở muốn leo núi, muốn đạt quả vị cao phải trãi đi các thứ lớp thấp nhuần nhuyễn để đạt lên quả vị cao đừng cho mình ở quả vị cao mà lại lập đi lập lại quả vị thấp mà ko hay biết .
- CÓ BAO NHIÊU ĐẠO ?
Đạo làm thú, đạo làm người,đạo thần,đạo thánh,đạo tiên,đạo phật,dù chia như vậy như đã gọi là đạo lý làm người làm tiên làm phật,đều đi qua một thứ lớp,từ thấp lên cao cứ tu tấn tới, khi ta mệt và tạm dừng nghỉ xong tiếp tục đi lên đừng ngoái lại những gì mà mình cất công buông bỏ.
Tùy theo thứ lớp mà tu tập tiến trình ta hiện là người đang học làm bồ tát, hiện tập làm phật và chúng ta làm những gì chư vị bồ tát ,chư phật đã làm,không phải vì quả vị hay vì nguyên nhân nào ,mà vì đó là việc ta nên hành ,nên làm đó là hữu ích ngay trước mắt,đường của ta ta cứ đi, đi theo một chân lý giải thoát thanh tâm,không gì ngăn cản.
-Khi ta đánh nhau,chửi nhau,tranh dành cướp nhau là ta đang là ở trong lớp thú,khi ta biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau biết nhún nhường nhau đây là lớp tiên cỏi trời ,khi tâm từ bi hơn giúp đỡ mọi người không cần biết người đó là ai,không họ hàng thân thích lúc này là tâm bồ tát,khi thấu đáo hết mọi sự đời trí tuệ bao la quay về yên nghỉ lúc này đây chính là tâm phật,tùy theo cách tu mà tấn tới đắc quả chân như niết bàn
__________________
Hữu và vô=có và không
Có nghĩa là thấy thực hiện thực bằng mắt thường ,đụng chạm nhận biết ,vô nghĩa cái không thấy ,không đụng chạm được .
Không phải nghĩa của câu :sắc bất dị không ,không bất dị sắc =nghĩa là thấy sắc cũng như không ,mà không cũng như thấy sắc đâu. Vì có và không này rõ ràng minh bạch ,nhận được và thấy được ,
Huyền vi=vô vi là thứ mà mọi người thấy nhưng ở cái thấy trong từng cảnh giới riêng mình ,nhưng hôm nay MINH ĐÀI mở ra mọi cảnh giới cho các huynh đệ ,và các PHẬT TỬ đồng đạo nghe và thấy ,ai trong cảnh giới nào sẽ nhận được cảnh giới đó của mình ,
Vì sao ?huyền vi mà không ai dám nói ,đó là vì họ sợ người ta nói mình hoang tưởng ,sợ bị đàm tiếu ,vì cảnh giới của bản thân là cảnh giới riêng biệt không ai biết nên gọi là huyền vi ,cũng có thể họ không đủ trí tuệ giải nổi cái mà chính mình đã thấy .
Từ huyền vi mà sanh đạo pháp từ đạo pháp mà thành chứng quả ,thật huyền ảo vô cùng ,câu : vô tu ,vô chứng ,vô đắc này là do từ những người biết nắm huyền vi ,biết giải mã huyền vi thành đạo pháp mà không ai thấy được thật là vô tận ,vô biên..
Đạo pháp đó trong từng cảnh vô vi,từ trí tuệ phát sanh ra đây còn gọi là thần thông phép màu ai cũng có ,vù mình không đủ khả năng để khai ngộ cho bản thân nên mượn pháp bên ngoài chứ chính bản thân mình có pháp nhiệm màu vô vùng tận .
Bây giờ nói đến có thì mình có cái gì : đó là danh sắc .
Danh sắc là cái thấy hiện thực đụng chạm rờ mó nhận thấy rõ ràng ,còn cái vô=là cái thấy từ nội TÂM từ linh hồn của từng cá nhân ,qua các bài trên MINH ĐÀI đã nói qua huyền vi và hữu vi
Trong bài 1 = 7 ngày đi trong địa phủ ,có đoạn đã viết : Khi người trần gian tạo tác nghiệp thì ko sợ cứ ung dung ,đến khi sắp lâm chung ngoái đầu nhìn thì nghiệp quả đã đầy rồi ,trong thời gian vừa mất 7 thất như kính chiếu MINH SÁT ,những gì mình làm thiện ác trãi qua như một cuốn phim ,rồi tự mình vào trong vô thức giác ,cứ theo nghiệp lực lôi vào cảnh giới địa ngục mà trả ,những oan hồn bị mình báo họ uất oán họ cũng quấn lấy để nhắc mình phải biết nghiệp tạo ra .
Cảnh tiên giới niết bàn sáng bao nhiêu thì cỏi địa ngục tăm tối bấy nhiêu như bài TIÊN DU KÝ cô đã kể ,khi ở nhân gian họ đi lại hỗn tạp nhưng bên kia họ nhận biết đồng loại theo từ trường sóng từ trường này phải hợp ,như cá nước mặn thì chung ở nước mặn ,nước ngọt ở chung nước ngọt .
Những vị đi xem xét có cả tăng ,sư ni,nơi cỏi ngục ,cũng có giống như chùa để ai ăn năn vào đó ,từ địa ngục xoay dần càng lên cao càng sáng tỏ dù đó là người hay là thú biết tu thần thức lên cao càng nhận ra ánh sáng ,nhưng nơi địa ngục đông hơn nơi thiêng giới ,đa số họ bị chìm ít ai nổi .
Nếu họ nổi thì họ đã bước vào cảnh của tiên giới niết bàn rồi
Cứ quan sát nhà thương điên ,nhìn vào ta nói họ điên khùng , nhưng họ đang sống trong nghiệp quả ,mà do họ tự tạo thành ,họ trói mình vào trong tăm tối ,cảnh của họ thấy là cảnh địa ngục ,cái xác của họ là của trần thế , nhưng thần thức của họ đã ở cỏi giới khác ,khi bỏ thân này thì định lực đó sẽ đẩy họ thọ khổ hay thọ sáng nơi họ đã chọn ,thì nơi địa ngục kia cũng như vậy .
Tự nghiệp quả mà trần gian tạo rồi tự định lực đẩy nếu định lực đã loạn thì ko có phương hướng tự chạy loạn ,điên đảo vào địa ngục thọ khổ như nghiệp lực chính mình đã đẩy thần thức vào địa ngục kia.
Định chính là nơi mình định đến ,đã chọn ,lực nghĩa là nghiệp lực tác tạo hay việc làm của trần gian mà sanh ra thức giới ,thức giới này chuyển qua vô thức giới tùy theo nghiệp quả mà đi vào vô thức .
Cỏi niết bàn ,hay tịnh độ đều do mình tự mình đi đến
Minh đài sẽ đối chiếu từng đoạn kinh và chứng minh xem có logic thực tiễn hay không ?và sẽ nói sự tương đồng trong kinh hiện tại và thực tiễn trong hiện tại có giống nhau không ,vì nói huyền vi phải kiễm chứng bằng hiện hữu đi đôi ,chứ không mơ hồ ảo tưởng ,xem các quý thầy ,các kinh để lại có hợp hay không MINH ĐÀI sẽ dần dần làm sáng tỏ ,mong sao cho hết thảy đồng tu tiến tới đạo quả nhanh A DI ĐÀ PHẬT
__________________
Trong kinh A DI ĐÀ có đoạn
Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Trong pháp thiền thì loại ngoại sắc là nhứt thiền,loai nội sắc là nhị thiền ,loại sạch được nội và ngoại sắc là tam thiền ,diệt sở hữu sắc là tứ thiền .
Kinh bát nhã (sắc bất dị không ,không bất dị sắc)=thấy sắc như không ,không như sắc ,nghĩa là không chấp sắc ,ai đã từng nghe qua M Đ nói tứ diệu đế rồi ắc sẽ hiểu do đâu mình khổ đó là thọ 5 uẩn mà sanh điên đảo .
Trong hiện thực đã nói có thiên đàng ,địa ngục rõ ràng ,trong vô hình cũng nói thiêng đàng địa ngục cũng y như vậy tương đồng như nhau,trong khi đó các kinh đều nói loại danh sắc để không nhiễm mà sanh vọng sắc trong TÂM ,vì chính có vọng nên điên đảo tinh thần không còn trí tuệ ,không còn ánh sáng của TÂM .
Vậy có liên quan gì trong cảnh vô hình,qua các bài thì nhìn thấy rõ danh sắc hiện thực mà sanh danh sắc trong vọng TÂM ,giống như trời đất có âm và dương .
Thân xác con người có âm và dương ,trần gian cũng có âm và dương ,người còn sống gọi là dương ,người chết gọi là âm ,vậy linh hồn chính là cái gọi là âm đó ,chính vì không thấy nó nên gọi là âm ,ban ngày gọi là dương ,ban đêm gọi là âm .
Vậy âm và dương tách biệt hai thế giới nhưng vẫn tương đồng ,nương dựa vào nhau ,khi còn sống làm bất cứ đều gì ,đều do TÂM chuyển ,TÂM là=THÂN KHẨU Ý .
Và trong hiện tại cũng rất nhiều sự chứng minh có linh hồn ,cho nên khi còn sống làm những gì thì mất đi thân xác ,linh hồn sẽ làm những gì mà khi còn hiện thực đã làm một cách vô thức tự nhiên ,nên khi ngủ là bản thân mình đã chìm trong vô thức ,nên cái thức của mình nó đi theo cái biết của nó ,và sẽ gặp những cái thức của nhiều người khác trong không gian ,.
Và cứ đi diễn hoạt do thức tự diễn ,nhưng nếu thức loạn ,thì nó sẽ loạn không có cái gì rõ ràng ,nghĩa là tùm lum ,còn người tu ,có định lực thì thức nhẹ nhàng rõ ràng ,sáng sủa như ban ngày ,đi là mình biết đi đâu làm gì ,nghĩa là làm chủ được trong thần thức ,thức giác trong vô thức
Trên các bài viết đã chứng minh ,đường tu của mọi người trong hết thảy đều có hữu vi và có vô vi nương nhau tương tác .
Và không mơ hồ ảo tưởng ,có tương sanh trong hữu vi và vo vi rõ ràng không phải bát bỏ được ,còn các pháp môn tu để lên cao để loại bỏ danh sắc ,các bực thiền thì M Đ đã trình bày rất nhiều trong các bài KIẾN TÁNH ,THẤY ,BIẾT VÀ NGỘ ,HOẶC CHƠN TÂM PHẬT TÁNH trong mục đạo phật
Chính có sự chấp nhận ,có linh hồn bên kia thế giới ,có thiên đàng địa ngục ,và có vô vi cho nên khi PHẬT còn tại thế cũng đã thuyết nhiều kinh để cứu độ chúng sanh.
Kinh A DI ĐÀ để vãng sanh ,KinhĐỊA TẠNG,kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA,v....v....rất nhiều các kinh khác nhằm cứu độ chúng sanh ,kinh nào cũng vãng sanh ,nếu thuyết không có thiên đàng địa ngục chẳng lẻ mình phá tất cả những cái hiện thực hữu vi ,.
Không có đau khổ thì không có cần tu ,không cần tu thì đâu cần có chùa chiền,không cần lễ lạy ,vì có lòng tin ở vô hình nên mới có sự tu hành ,lễ lạy và dùng các phương tiện để tầm đường giả thoát .
Có đến 84000 pháp môn tu ,12 nhân duyên ,37 pháp trợ đạo ....tất cả các đạo đều tin rằng có thiên đàng địa ngục,có nhân có quả nên mới có sự mong cầu pháp giải thoát ,trong lòng ai cũng có một niềm tin vào có hữu vi và có vô vi nên có một điểm tựa tu đến giải thoát,nếu không tin thì sẽ hụt hẩng không biết mình tu vì cái gì ,chỉ khi đạt đến sự buông xã thì không chấp vào những cái hữu để đạt vào tâm không chấp chứ không nghĩa là không có .
Nhiều người tu đã hiểu sai ở từng bực không .
Không ,không nghĩa là không phải hoàn toàn không ,vì mình không chấp hữu nên gọi là không ,chứ không phải không còn cái gì hết đây là cái sai lầm của rất nhiều người tu ,khi trí tuệ chưa thể thấu triệt rốt ráo đừng bắt chước những vị tiền bối nói không không mà cái hiểu biết chưa tới thì sẽ hoang mang khùng loạn với cái thuyết đó ngay.
Cảnh giới HỮU SẮC là cảnh giới có sắc ,tất cả mọi sắc trong trần gian thấy ,biết ,nghe ,rờ chạm ,cảm thọ đều là thọ sắc ,nếu như ngang nhiên ta dụng câu sắc bất dị không,không bất dị sắc ,ắc sẽ chết ngay .
Như ông bà cha mẹ đang ngồi trước mặt mình nói thấy như không,không như thấy ,ông bà nổi quậu liền ,la lên; cái đồ bất hiếu ,hoặc đứng thắp nhang cúng PHẬT nói sắc bất dị không ,không bất dị sắc ,xem PHẬT như không có ,mà có như không ,vậy PHẬT nói :đã xem như không có mắc gì thắp hương cầu đây ,người cúng cầu an ,cầu siêu ,rồi tu hành ,mọi cái thấy trong trần gian này từ chùa chiền ,nhà cửa vật chất ,đau buồn phiền não,thất tình đều là sắc ,đều là hữu sắc .
VẠN PHÁP DO TÂM SANH
Nếu như không có ai ở tù ,không có ai chém. Giết ,không có ai buồn phiền thì đây có phải là NIẾT BÀN trần gian ko ?nếu trần gian an vui không ốm đau bịnh hoạn ,không có đau khổ triền miên thì đây chính là NIẾT BÀN .
Đã là NIẾT BÀN thì đâu có ai xuất gia tu ,đâu có chùa chiền lễ bái cầu xin lòng vị tha ,nếu không có ai làm nên tội lỗi thì không có bị tù đày,bị người ta đánh đuổi ,tất cả những sự hiện diện đó đều có ,người tu tin vào có đấng siêu hình cứu rỗi nên tất cả đạo đều có lễ lạy cầu xin ,và có giới luật tu nghiêm chỉnh ,
Cũng như không có giới luật thì ai muốn giết ai cũng được,muốn bắt ai cũng được ,không có giới thì loạn hết ,xã hội cũng loạn ,trong tu hành cũng loạn ,chùa chiền loạn hết ,nam nữ lộn tùng phèo hết ,thà tu chỉ có một mình thì đâu nói gì ,mà đây cả tập thể mà ,nam nữ chung chạ lung tung .
Nhớ ngày xưa DIỆU ĐỊNH từng đọc qua quyển sách truyện nói thời xưa ,quan quyền lộng hành hễ đến nhà người nào có vợ đẹp là đem về làm vợ của mình ,nên xã hội không có giới nghiêm trị thị loạn .
Muốn không bị ở tù ,không bị đánh thì đừng phạm giới ,như vậy GIỚI LUẬT ra vì có nhiều người làm những chuyện sai trái ,những ngục tù ,ĐỊA NGỤC là nơi can thiệp những người phạm giới ,.
Địa ngục trần gian xử những người phạm tội ở trần gian ,còn ĐỊA NGỤC âm phủ là xử những TÂM phạm tội ,những tâm tham,sân,si phạm mà ở dương gian không thể xử được ,đó là những tội phạm vi tế bằng linh hồn ,bằng thần thức sai trái mà hiện hữu không ai thấy mà xử được đây chính là nhân quả vô hình không ai thấy bằng mắt bình thường chính là ĐỊA NGỤC VÔ HÌNH
Nếu như những giới luật trên trần gian không xử được những cái TÂM tham,sân,si,thì chính TÂM của họ ,chính thần thức của họ sẽ bị loạn rối ,chính họ rơi vào địa ngục vô hình ,cho nên trong vô hình và hữu hình là hai thế giới đồng nhất lý ,có đủ TAM CỎI TƯƠNG ĐỒNG cho nên khi mình tu đạt ở bực nào ,thì khi viên mãn sẽ vào cỏi đó ở trong cỏi vô hình không gì sai chạy ,
Vậy pháp thiền nào để vò được quả vị ,gọi là loại hữu sắc ,xét cho kỷ hữu sắc bởi do TÂM THẤY mà có vậy làm sao để không thấy đây ,thấy từ nhãn ,thấy từ nhỉ ,thấy từ cái cảm thọ nhận biết nó ,bắt mình không được thấy ngoại trừ mình đui thôi chứ làm sao không thấy ,mà ngay hiện tại nhiều người vẫn bị sắc chi phối ,thâm nhập cải đúng sai ,đó là vẫn còn thấy sắc .
Cái hiện hữu TÂM của con người là thọ uẩn từ 5 thức uẩn mà sanh ra nếu muốn loại sắc phải NHẪN ,Tâm NHẪN chính TÂM nhẫn mới sanh pháp NHẪN thọ nhưng TÂM không thọ mà TÂM sanh pháp NHẪN .Thấy coi như không thấy ,bây giờ mới dám nói câu: sắc bất dị không , không bất dị sắc )mới đúng nghĩa của câu này ,tức xã hữu sắc trần bằng pháp NHẪN ,
TrưỚC khi nói đến nhẫn thì phải nói đến thấy ,quan trọng ở cái thấy từ TÂM của mình ,mà thấy cái gì đó là TÂM giả dối ,cái TÂM xảo quyệt ,Thấy không có thiệt ,TÂM vô thường hay biến đổi tham,sân,si của hết thảy mọi người và của chính bản thân ,cái thấy từ cạn cho đến sâu dần trong nội TÂM của từng cá nhân .
Có người tu TÂM nhưng không tu khẩu ,có người tu khẩu nhưng không tu TÂM ,một ngày vô số nhiều cái TÂM sanh khởi ,người bình thường hay nói đó là TÂM thấy bên ngoài lại không thấy TÂM bên trong ,những người tu chân thực thường sợ làm cho người buồn vì TÂM của người tu cảm nhận sự buồn của đối phương ,ngược lại TÂM người không thấy TÂM thì tha hồ tấn công cho hả lòng vì không sợ người buồn ,nếu như một ngày mình không an trú TÂM thì sẽ loạn sẽ cải cọ người này và người nọ ,chính an phận này mà sanh được cái TÂM NHẪN nhịn ,TÂM nhẫn nhịn quen dần và càng sâu thành KIÊN NHẪN dẫu cho bị tác động của cảnh trần ,mình vẫn thọ nhưng chỉ nhận rồi xã không vướn mắc TÂM không sanh ra những suy nghỉ ,không đau khổ bởi cái vô TÂM của trần tác động (TÂM không pháp)

Mà ngày nay người tu bị sai lầm ở cái TÂM nhẫn ,khi bị tác động lòng không xã được nên thường hay gây cải ,và luôn triền miên phiền não thật đáng tiếc
Đây M Đ chỉ nói rất gọn chưa rộng ra nếu không hiểu hỏi lại
Nếu người nào theo dõi kỷ từ đầu đến cuối và áp dụng được thì đã đi qua 2 từng thiền cỏi hữu sắc .
1= CỎI HỮU SẮC ,2= VÔ SỞ HỮU SẮC ,
1= XÃ NGOẠI SẮC là nhứt thiền ,xã được nội sắc gọi là nhị thiền,xã được nội lẫn ngoại sắc là tam thiền ,khi xã được đến tam thiền ,rồi diệt,thọ ,tưởng định HỮU SẮC là tứ thiền ,
Đi qua rồi đã vào được quả thánh DỰ LƯU ,quả thánh thứ nhất ,như vậy đã phá được 12 từng địa ngục rồi .

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 17/05/12 11:05 

Đường học để trở thành Thầy cũng gian nan vất vả...và nguy hiểm. Kể cả đi đúng và đi sai thì sau này kiểu gì cũng dính một chút mà ta tạm gọi là "Nghiệp xấu" nào đó vì dẫu sao chúng ta cũng là người bình thường, trong quá trình làm việc không phải không có lúc sai lầm...đụng chạm đến thế giới ben kia..lạm dụng quyền năng...

Riêng vo-dinh tu học không phải để làm thầy của ai,mà để giải thoát khỏi sự ràng buộc mọi những ân oán hay nghiệp tác động của cảnh trần ,sau đó dùng tha lực cứu người có thiện duyên ,dưới ánh mắt của vo-dinh là bình đẳng không phân biệt ,chữ thầy tự trong lòng của mọi người nhìn vo-dinh theo cách của họ mà thôi

Mọi hữu hình chỉ là mộng huyễn
Là bọt nước như ánh sương
Như ánh điện chớp giữa trời dông

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 17/05/12 10:54 


Thầy theo cách gọi trong Đạo Phật đó là những người hướng dẫn ..dạy bảo những người khác tu tập học hành theo con đường mà mình đã đi. Có thể có hệ thống "Thầy Tổ" nhưng đó là sự truyền thừa. thế nên dân gian gọi là Thầy Chùa.
Đấy là cách nhìn nhận của LHDP. dưới góc nhìn của Đạo Phật thì quan điểm cũng gần giống như của Vo_ dịnh

LIENHOADIEUPHAP thân mến! .
Tự mình xưng là thầy là TÂM bị ràng buộc rồi ĐH à ,mỗi con người đều có một bản năng sanh tồn riêng biệt ,chẳng qua họ tạm bị vô minh che thôi ,nếu mình đã xem mình là một bậc thầy nghĩa là mình đã buộc mình vào nghiệp riêng của từng người ,trong từng hoàng cảnh của mỗi chúng sanh ,mình chỉ là người chỉ đường ,.
Giống như mình dọn một mâm cơm ,mời họ ăn ,chuyện họ ăn cách nào đó là theo cách của họ,nếu như mình là thầy thì mình đã cầm tay từng người ,ăn theo cách riêng của mình rồi ,nếu như vậy PHẬT đâu cần đưa ra 84000 pháp môn tu ,chính PHẬT cũng không thể bắt chúng sanh tu theo cách của ngài được .
Và cũng nhiều người đã tu theo cách của họ cũng đạt theo từng sở năng riêng đạt thành từng bậc thánh khác nhau ,nên chữ thầy cũng chỉ là danh mà chúng sanh áp đặt nên TÂM người tu không ràng buộc thành nghiệp duyên

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 17/05/12 8:00 

Trí Minh nghĩ là đạo học thì không hề hạn chế ai tìm hiểu cả. Nhưng học để biết và học để làm Thầy lại là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nhiều đấy. Ví dụ cũng có người là Thanh đồng 10 năm, 20 năm, có Điện thờ riêng tại nhà là Thủ nhang Đồng điện nhưng tại sao lại chỉ đến thế thôi và không thể làm Thầy để cũng bái kêu cầu thay cho người khác. Thế mới có câu NGHIỆP LÀM THẦY. Các bạn hãy suy nghĩ và trả lời hộ Trí Minh nhé.
TRÍ MINH thân mến
Chữ nghiệp do người ràng buộc mà có ,chữ thầy cũng do TÂM chấp mới có ,không có cái gì để mình cho rằng nó thuộc của mình đủ duyên nó kết tụ bởi tâm chấp nên gọi là nghiệp ,trong thế gian này ai cũng có trí tuệ ai cũng có phương pháp để mưu cầu ,ai là thầy ,không ai là thầy của họ ,đó là tự nhiên .
Không ai là thầy dạy họ những cái khôn khéo ,nên không có cái gì gọi là nghiệp của thầy cả ,tỷ thấy cứu được sẽ cứu ,không cứu được thì buông xã ,không phải là nghiệp mà cũng không phải là thầy ,tự xưng ắc ràng buộc TRÍ MINH hiểu ý tỷ ko ?không hiểu hỏi lại nghen.
Duyên sanh cũng do TÂM chấp mới có không có cái gì tự nhiên sanh ,không có gì tự nhiên diệt tại chấp mới có sanh diệt mà thôi

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 17/05/12 9:06 

....Cuộc sống gia đình bé gái 'gây cháy' xáo trộn lớn
VnExpress.net – 23 phút trước....
Chia sẻEmailIn ra......
Mệt mỏi vì cả tháng nay đồ đạc trong nhà liên tục cháy, gia đình phải sơ tán khắp nơi bởi con gái "phát năng lượng", người bố nói rằng sinh hoạt cả nhà đang bị xáo trộn nghiêm trọng và "chỉ mong con trở lại bình thường".
Bố mẹ của bé Thùy đều làm việc trong lĩnh vực hàng không. Một tháng qua kể từ khi xuất hiện các vụ cháy "bí ẩn" mà nguyên nhân được cho là Thùy "phát ra năng lượng", cuộc sống gia đình bị xáo trộn nhiều. Vợ chồng anh Vũ (bố cháu bé) đã theo nghe lời khuyên từ nhiều người đưa cháu đi du lịch, tắm biển để "hạ hỏa". Song tình hình vẫn không khá hơn, thậm chí hiện tượng cháy còn xảy ra ở những địa điểm nghỉ mát.

"Cho cháu ra tắm biển ngâm chân dưới cát để xả bớt điện ra ngoài, nhưng trong thời gian gia đình ở Vũng Tàu lại xảy ra 3 lần cháy ở khách sạn", người bố cho biết. Sau khi cháy công tắc điện, gia đình phải chuyển sang khách sạn khác ở được một ngày thì chiếc điện thoại trong toilet bốc cháy. Tiếp tục chuyển sang phòng khác nữa thì vẫn xảy ra cháy điện thoại tương tự. "Cũng may nhân viên bảo vệ phát hiện sớm nên không xảy ra hỏa hoạn lớn", anh Vũ uể oải trình bày.


Những vệt cháy loang lổ khắp tường nhà, toàn bộ các thiết bị điện đã được tháo bỏ để tránh hỏa hoạn. Ảnh: T.T.

Để phòng hỏa hoạn, trong nhà lúc nào cũng đặt sẵn 5 chiếc bình chữa cháy, một thùng nước và một chiếc mền nhúng nước sẵn. Chìa khóa cửa lúc nào cũng cắm trong ổ phòng hờ sự cố bất ngờ thì mọi người kịp thoát ra ngoài. Mấy chiếc xe máy phải để ngoài cửa hoặc gửi hàng xóm, vì các vụ cháy nhỏ mà gặp xăng sẽ bùng lên. Bản thân bé Thùy cũng được đặt vào "vòng kiểm soát" nghiêm của người lớn, đặc biệt lúc nào cũng có một cô giúp việc theo sát em.

Toàn bộ đồ đạc trong nhà đều được mang đi gửi ở nhà người quen, duy nhất chỉ còn một chiếc chiếu và cái quạt cùng 2 bộ bàn ghế bằng gỗ là chưa cháy. Ngôi nhà lớn 3 tầng thiếu đồ đạc trở nên trống trải. Các bóng điện, ổ điện trong nhà cũng đã bị tháo bỏ nên trong nhà khá thiếu sáng. Khắp tường nhà ám những vệt cháy đen là nơi trước đây có những ổ cắm hoặc cầu dao điện phát cháy, một số chỗ thiết bị được tháo ra để lại những vết loang lổ trên tường. Cả những chiếc áo cháu Thùy mặc trên người cũng bị cháy luôn.

Điều kỳ lạ là trong những vụ cháy, bé Thùy đều không hề hấn gì, da của em cũng không bị bỏng. Điều bố mẹ lo nhất hiện nay là tinh thần của bé. Sợ con lo lắng buồn phiền ảnh hưởng đến việc học hành, vợ chồng anh đã trấn an tư tưởng cho bé ngay từ đầu là "không sao đâu, mọi việc đều bình thường". Gia đình anh cũng cố duy trì một số nếp sinh hoạt như bình thường.

Đùa giỡn trong nhà, lâu lâu lại đến bên nghe ngóng người lớn bàn chuyện về khả năng bí ẩn của mình, cô bé 11 tuổi dáng người cao ráo, mái tóc dài đen óng vẫn vui vẻ trò chuyện. Khi được hỏi "em có thấy lo sợ không", bé Thùy lắc đầu bảo: "Bố đã nói với em là đừng lo lắng, chuyện này bình thường thôi nên em không còn lo nữa".

Khi hiện tượng cháy vượt ngoài tầm kiểm soát của gia đình, anh Vũ đã gửi email đi khắp nơi để cầu cứu. Trong bức tâm thư gửi các nhà khoa học, bác sĩ trong và ngoài nước, anh Vũ tha thiết nhờ can thiệp để giúp con anh được trở lại cuộc sống bình thường.


Bức tâm thư của người bố gửi cầu cứu các nhà khoa học. Ảnh: T.T.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: NỤ CƯỜI DƯỚI ĐÁY MỘ
Đã gửi: Thứ 6 18/05/12 15:02 

NỤ CƯỜI DƯỚI ĐÁY MỘ

Do cư sĩ DIỆU ĐỊNH hạ bút



TÂN là người sống bằng nghề đào mộ, hôm nay lại mới có một đám ma mới chôn. Tân
hay đào những ngôi mộ thuộc nhà giàu để hôi của, không phải dễ dàng lấy được vì
họ cho người canh gác rất cẩn thận. Hôm nay, có một đám ma cũng thuộc nhà giàu nghe
đồn người này trúng 5 tờ vé số đặc biệt. Ngôi mộ được chôn gần nữa tháng, coi bộ
thấy ko ai léo hánh nên họ không canh nữa.


Tân sống chỉ một mình trong ngôi nhà ọt ẹc gần khu nghĩa trang nằm đối diện với
những ngôi mộ và hằng ngày thường chứng kiến nhiều đám ma. Tân sống bằng cách hôi
của người chết, ăn thừa những thức ăn cúng mộ. Cha mẹ không còn, người thân
cũng ko, Tân chỉ sống lũi hũi một mình. Người mà Tân để ý đó là một cô xóm trên
thường đi làm ngang qua khu này. Người gì sao mà dễ thương, xinh xắn quá. TÂN thầm
nghĩ và ước mình sẽ giàu có, cất một ngôi nhà và cưới cô gái mà mình yêu thích.
Bổng TÂN nghỉ đến những tờ vé số, giá như mình có được nó .


Vào một đêm trăng tròn…….


Hôm nay là 13 âm lịch, trăng cũng đã đủ sáng để TÂN thực hiện
ý đồ. Mang theo cái cuốc, TÂN cuốc từng cuốc lên ngôi mộ mới chôn chưa đầy tháng âm thanh phát
ra phụt, phụt... Mồ hôi bắt đầu chảy, khi hết lớp đất là đến nắp quan tài, bụp
…két….nắp quan tài được mở ra ,mùi hôi thúi từ trong xác chết bốc lên. Từ trong
lồng ngực TÂN cảm thấy như ngạt thở, mùi hôi xông thẳng vào mũi, mọi thứ trong
ruột của TÂN như trào lên ọe …ọe …..Nhưng phải nhanh chóng TÂN lần vào túi áo của
người chết và lôi ra. A!...đây rồi 5 tờ vé còn nằm trong túi áo đây ,TÂN mừng rỡ
rút nhanh, bổng TÂN nhìn thấy gương mặt của người chết nhe răng cười ,dưới ánh
trăng phản xạ TÂN có cảm giác như vậy, nổi ám ảnh này làm cho TÂN sởn tóc gáy .


Nhanh chóng TÂN bỏ chạy một mạch về nhà. Ngày hôm sau, người nhà phát hiện ngôi
mộ bị đào bới. Họ la ó rồi mướn người lấp đất và cúng kiến lập bia. Còn TÂN cầm
5tờ vé số còn thời hạn đi lãnh tiền và cuộc sống giàu sang bắt đầu mới mẻ. Với số tiền đó, TÂN xây nhà, mướn người ở rồi
kinh doanh và cưới vợ (người vợ mà TÂN hằng ao ước). Một cuộc sống huy hoàng
hay một cuộc sống địa ngục đang chờ đợi Tân đây ta phải theo dõi xem sao ??………
TÂN là con một mà gia đình lại nghèo ,nên ko được đi học nhiều,cha mẹ qua đời quá sớm ,cuộc sống thiếu trước hụt sau nên khi cầm đồng tiền từ 5 tờ vé số trúng đặc biệt thì quả là vượt khỏi sự mơ ước của bản thân . Tân làm mọi thứ để cho bản thân được sung sướng .

Trong khi đó người mà TÂN yêu mến là một cô gái vừa đẹp người lại thông minh ,có học thức ,khi thấy TÂN giàu có nhưng lại dốt thì ưng liền để dễ lợi dụng, thế là đám cưới được tiến hành long trọng ,cô mặc chiếc áo cô dâu tuyệt đẹp như một nàng tiên,lộng lẫy bước vào căn nhà biệt thự ,một cuộc sống sang hoa chờ đón cô.
cô trở thành cô chủ ngôi biệt thự ,vì cuộc sống giàu có thờigian trống vắng cô buồn nên mở ra một nơi kinh doanh buôn bán vải .


Mọi giao tiếp buôn bán rất thuận,lắm người thường mê cô vì tài ăn nói giao tiếp ,càng lúc cô được nhiều anh chàng đẹp trai ,lịch lãm bao quanh.Mỗi khi đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ thấy vợ đi đi về về ,cười nói với nhiều người lòng của TÂN như lửa đốt ,máu trong người cứ sôi lên sùng sục ,nhưng TÂN vẫn phải cam chịu,sự cam chịu càng lúc càng dâng lên,TÂN trở lên một con người ác độc và hung tợn .


Tân cản ngăn không cho vợ buôn bán nữa,và mọi kinh doanh hàng hóa sang hết cho người khác ,và ngấm ngầm mướn giang hồ thanh toán những người mà TÂN tình nghi là tình nhân của vợ mình, và những thãm kịch luôn xảy ra ,người vợ của TÂN đã không chịu nổi trước làn sóng căm hờn của người chồng ,cô bị người chồng giam lỏng nơi biệt thự ,hằng ngày chỉ có người ở dâng cơm ,từ đó danh tiếng gọi là vợ chồng nhưng không hề gặp nhau .


Tân cũng âm thầm nhốt mình trong phòng và không còn nói chuyện với ai ,ngoài người ở mướn ,cơm nước mọi thứ đều do người ở mướn lo toan ,thỉnh thoảng người vợ được bác tài xế chở đến ngân hàng,xong chở cô về ,cuộc sống trôi đi lặng lẽ được 1 năm ,thì một hôm TÂN đứng trước gương soi mình ,thì TÂN la lên Á! Một hình bóng kinh hoàng ,mà không thể nào TÂN tin được,khi trước mặt mình một hình ảnh ghê rợn xuất hiện .

Tân đưa hai bàn tay xương sẩu của mình sao mà ốm như da bọc xương ,rờ vào gương mặt nhợt nhạt xanh xanh như da người chết đôi mắt sâu thẳm,đôi gò má hốc hác ,nhìn vào cái đầu của mình như cái đầu lâu ,Tân ngắm mình trong gương rồi nhe hàm răng ra cười ,TÂN bổng nổi da gà ,nhìn mình bây giờ nhưcái xác nhe răng cười lúc TÂN lấy 5 tờ vé số .

Tân nghỉ đến hình ảnh đó thì toàn thân run lên ,nổi ám ảnh cứ bám theo Tân trở nên như bị ma ám ,không muốn gặp ai ,kể cả người ở ,cơm chỉ được đưa qua kẻ cửa ,người ở đặt mâm cơm xuống đất trước cửa phòng rồi giơ tay gõ cốc ..cốc… rồi bỏ đi ,chỉ còn thấy cánh tay thò ra nhận mâm cơm ,khi ăn xong TÂN lại đẩy mâm và chén bát ra,quần áo dơ cũng đẩy ra cho người ở giặt.

Người vợ thấy sự kỳ lạ của chồng mình mới tò mò không biết chuyện gì xảy ra ,muốn lén lút dòm qua khe cửa ,thấy bóng dáng của người đi qua đi lại nhưng không thấy mặt chồng,một hôm nhìn qua khe cửa gương mặt người chồng cũng đang quay về hướng cô ,nên cô nhận ra sự biến đổi của gương mặt ,Trời ơi!bây giờ nhìn TÂN như bộ xương biết đi,ghê sợ quá cô phát hoảng bỏ ngôi biệt thự âm thầm trốn khỏi .

Ngay người ở củng kinh hoàng lo sợ ,rồi cũng trốn khỏi ngôi biệt thự ,bỏ lại một mình TÂN ,nổi ám ảnh nụ cười dưới đáy mộ luôn theo sát Tân buồn bả viết vài tờ di chúc tài sản cho người vợ của mình rồi tự sát ,sau này cô vợ hay tin thì quay về ,nhận tài sản của người chồng để lại,bán hết lấy tiền để cứu trợ cho người nghèo.
Đời là như vậy,có vay có trả ,Tân vay bao nhiêu thì đến lúc phải trả hết cho đời ,ngày nay những ai chưa thấy quả ,đừng nghỉ quả không đáo lai,khi quả trổ rồi thì nghiệp trả trở tay không kịp

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Cô gái biến thành cây xương rồng
Đã gửi: Thứ 6 18/05/12 21:52 



Narine đang dần biến thành cây xương rồng.

Ở Yerevan, Armenia, một cô gái 18 tuổi tên là Narine Aivasyan đã làm các bác sĩ sốc nặng với căn bệnh cực kỳ lạ lùng của mình: Ở chỗ vết thương trên tay cô bỗng mọc ra rất nhiều gai xương rồng.

Căn bệnh lạ của Narine được phát hiện khi cô đến viện với một chỗ áp xe ở cổ tay do vết thương từ lâu. Khi bác sĩ tháo băng rô cánh tay Narine, họ nhìn thấy hai bụi gai rất mỏng mọc trên cổ tay cô.

Narine kể một lần đang tưới cho những chậu cảnh trong nhà, một số gai xương rồng đâm vào cổ tay cô. Cha mẹ cô liền sát trùng vết thương nhưng nó vẫn mưng mủ và ngày càng lan rộng. Narine miễn cưỡng đến viện. Các bác sĩ dễ dàng lấy đi vật lạ trên cổ tay cô, nhưng nhiều gai xương rồng khác ngay lập tức lại mọc lên ở chỗ cũ.

Người đứng đầu trung tâm nghiên cứu về virus và miễn dịch của Armenia, Tigran Davtya cho biết y học thế giới chưa bao giờ biết đến loại tế bào thảo mộc lại có thể mọc và ký sinh trên cơ thể người hay vật. Nghiên cứu sâu hơn về những gai xương rồng lấy ra từ cổ tay cô gái đã xác nhận nguồn gốc thực vật của chúng.

Cách duy nhất cứu cô gái là tiến hành phẫu thuật cắt đường rò để ngăn xương rồng ký sinh trên khắp cơ thể. Bốn năm trôi qua, vết thương đã kín miệng sau khi phẫu thuật và nó không gây rắc rối cho cô nữa.

Nhưng đến một ngày, cổ tay Narine lại sưng tấy và cô kinh hãi cảm thấy cánh tay mọc lên một cành xương rồng. Lần này đường rò xuất hiện ở gân. Mỗi ngày bác sĩ phải lấy đi từ 70 đến 100 gai xương rồng từ cánh tay cô. Nhưng ngay sau đó chúng lại xuất hiện. Các bác sĩ ở nhiều quốc gia vào cuộc nhưng vẫn không thay đổi được gì.

Khi họ nghiên cứu sâu hơn về những gai xương rồng lấy từ cô gái, một kết luận đưa ra rằng chúng không còn nguồn gốc thực vật nữa. Đây là một kết quả của sự đột biến, bệnh nhân có những tế bào mới chưa từng được biết đến, một số tế bào là loại lai giữa người và thực vật. Nói cách khác, cô gái trẻ đang dần biến thành cây xương rồng.

Các chuyên gia tin rằng sự biến hóa khủng khiếp này là cảnh báo đối với loài người. Tigran Davtya nói: “Sự tiến hóa phá hủy nghiêm trọng hệ thống miễn dịch của con người. Con người trở nên dễ bị những virus và ký sinh trùng tấn công hơn”.

Giờ đây cô đã 26 tuổi. Nhưng cô sống mà như không vì chẳng còn biết trông chờ vào phép màu khoa học nào vì y khoa đã bó tay.

Trong khi đó, ở Kazakhstan, một phụ nữ ở vùng sâu đã sinh hạ đứa con trai thứ ba không bình thường. Mình đứa bé phủ đầy lông từ đầu đến chân. Chỉ tiếng khóc là giống một đứa bé bình thường. Ayaulym, mẹ em không từ chối con mình. Bà mang cậu bé về làng nuôi. Tới khi năm tuổi, bà mới mang em tới bác sĩ.

Ban đầu họ tưởng bà mang một con khỉ tới chữa bệnh. Tuy nhiên căn bệnh này còn có một số cách chữa trị. Các chuyên gia giải thích hiện tượng này có quan hệ gần gũi với các khu vực thử nghiệm hạt nhân, có 19 khu vực như vậy ở Kazakhstan.

Các nhà nghiên cứu đang gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng, khoa học có tiến triển nhưng không thể nào theo kịp những biến đổi của tự nhiên, một phần do tác động của chính con người, như thử nghiệm hạt nhân, thực phẩm biến đổi gien... Đến một lúc nào đó, con người và tự nhiên sẽ đổi chỗ cho nhau không chừng.

Theo Công an TPHCM/Sự thật

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Tiếng nói của muôn loài
Đã gửi: Thứ 7 19/05/12 18:48 

NGÔN NGỮ MUÔN LOÀI
Hôm nay DIỆU ĐỊNH dùng topic nhân quả luân hồi để nói lên tiếng nói của muôn loài ,Phật nói muôn loài đều có pháp tánh để chứng minh muôn loài có pháp tánh ,có tiếng nói riêng của nó .
Trước tiên nói đến con chó ,vì con chó có một trí tuệ ,có tiếng nói ,có pháp tánh tỏ rõ ai cũng có thể nhìn thấy mà bất kể con chó nào cũng có tánh đó .
Khi mình đem một con chó nhỏ về nuôi ,khi còn nhỏ ai nó cũng vui cũng mừng dễ dạy ,dễ huân tập như một đứa trẻ ,cho gì ăn nấy ,nhưng do ngay từ đầu mình huân tập thì mỗi con chó có một cái tánh ăn uống khẩu vị khác nhau ,cái đồ đựng thức ăn của con chó không thay đổi ,và thậm chí giờ ăn phụ thuộc đúng giờ như ăn trưa hay ăn chiều cứ đúng giờ đó con chó sẽ ngồi chờ chủ cho ăn .
Khi con chó lớn lên nó phân biệt được đâu là chủ đâu là khách ,con chó thông minh là nó phân biệt rõ như vậy ,khi có người lạ nó sủa tưng bừng báo hiệu có người lạ đến nhà ,còn người quen ,là chủ thì nó ngoắc đuôi mừng khi gặp mặt ,một con chó khi đã quen người nuôi nó dẫu vắng đi 10 năm xa cách ,khi gặp lại nó vẫn nhận ra và ngoắc đuôi .
Nếu như là con chó cái thì nó có tình mẫu tử thiệt là cao ,nó thà chết để bảo vệ đàn con ,chỉ có chủ mới có quyền bắt con của nó ,được thăm và xem con của nó ,khi người chủ cho chó con để người khác nuôi ,mình không để ý chứ con chó nó cũng có cái vẽ buồn và lo lắng ,khi biết con của nó vắng đi bao nhiêu đứa thì nó lăng xăng ,lo lắng ,chạy ra chạy vào ,chậy tới chạy lui,thậm chí nó cố tìm cách dấu con của nó ,từ khi nó đẻ tự nó xé nhau ,chăm sóc con của nó ,là một tình mẫu tử bất kể kẻ thù mạnh cở nào nó cũng không sợ .
Đặc biệt là nó có thể ăn cái gì cũng được nhưng nó không ăn thịt đồng loại ,có thể tranh dành cướp đoạt thể hiện sức mạnh của loài chó ,nhưng nó có đặc điểm không ăn thịt chính đồng loại của nó .
Thịt chó mà bỏ một miếng trước mặt nhiều con chó có tánh tự bỏ đi và nằm im lặng như buồn bã rên rĩ như khóc ,loài chó có một thính giác tuyệt hảo ,người bắt chó hay người ăn thịt chó chỉ đi cách xa cả 10 m ,nó đã sủa tưng bừng rồi ,mình không phân biệt được người giết chó hay ăn chó ,,nhưng chó nó lại có bản năng phân biệt tài tình.
Chó là loài thông minh dễ huấn luyện nên đã có nhiều người nuôi để giữ nhà ,và nó có bản tánh trung thành ,thà chết chứ không bỏ chủ ,nếu như nó biết mình sắp chết ,hoặc bị điên lập tức nó rời khỏi nhà ,ngoại trừ nó bị bịnh không thể đi nổi .
Những câu chuyện về chó là nhiều vô cùng ,thậm chí ca ngợi về loài cẩu trung thành này ,mà người đời ai cũng biết ,Khi có xương ,thức ăn dư thừa ,nhiều con tự chôn cất ,khi buồn ,hay đói nó tự tìm chổ đã cất chôn xương đào lên để ăn ,đặc biệt là khi bị chủ mắng là nó cụp đuôi im lặng bỏ đi ,nghĩa là nó biết sự không bằng lòng của chủ .
Vậy mà hiện nay cũng có nhiều người dùng thịt chó để ăn nhậu ,chó khi biết rằng mình sắp phải vào lò mổ nó run sợ nằm rạp xuống ,bốn chân bấu móng chặc xuống mặt đất ,tiếng rên rĩ của nó thật đau lòng ,nó cũng sợ chết ,nó biết đau biết buồn ,nếu chúng ta quan sát kỷ loài chó nó có ngôn ngữ vô cùng hay

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Bức thư bên kia thế giới
Đã gửi: Thứ 3 05/06/12 8:26 

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới
Font Size: Tác Giả: Truyện Ma

Tìm Kiếm bằng Tựa Đề:
Bác sĩ Alizabeth Kubler Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết: "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".
Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:
Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con". Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.
Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:
Các con thân mến,
Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội.
Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mõi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.
Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.
Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặc câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.
Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.
Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.
Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....
Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.
Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.
Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kế hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.
Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên các nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sực của nó. Cũng như sống biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu! Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.


Kết Thúc (END)
Bài sưu tầm

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: LINH HỒN LÀ GÌ?
Đã gửi: Thứ 3 05/06/12 7:19 

hồn mà linh thì mới nên gọi là linh hồn, còn ko thì gọi là vong hồn

Vậy cuối cùng LINH HỒN là gì?do gì cấu tạo nên LINH HỒN

Vậy cuối cùng tâm ở đâu? Chính vì có lục căn,=nhãn ,nhỉ ,tỷ ,thiệt ,thân ,và ý tiếp súc với cảnh trần nên mới ,sanh ra 6 thức =nhỉ thức ,nhãn thức ,tỷ thức thiệt thức ,và thân thức , thọ cảm ấm ,lạnh ,oán ,thù .
Cảnh trần muôn màu muôn vẻ,có vui ,có buồn ,có hận ,,từ nhãn nhìn thấy ,và nhỉ nghe ,mắt thấy tai nghe mới Thọ cảm ,nếm trãi phân biệt, và so sánh ,hơn thiệt mới sanh tâm ,vậy tâm khởi bởi tác động do mọi cảnh trần tác động mà sanh khởi
Nếu nơi ý THỨC đây khởi thiện thì TÂM ta cũng thiện nhưng vì 6 thức đều không có chủ tể ,như 5 ngón tay mình một ngón co thì 4 ngón kia có thể xòe ,hoặc co hai ngón ,và 3 ngón kia vẫn có thể duổi, ý xuất nhưng khẩu chưa xuất ,khẩu xuất nhưng hành chưa xuất Vậy 6 thức của mình cũng như vậy cái này khởi cái kia chưa khởi ,.
Mình chính là ông chủ của 6 căn 6 thức ,là ông chủ của của thân khẩu ý đó ,nếu ta tự đều khiển nó theo ý muốn của mình ,thì mình đã làm chủ cái TÂM rồi ,liệu mình làm chủ nó không?nó phụ thuộc vào những tác động của cảnh trần mà phản xạ .
Mỗi chúng ta ai cũng có một suy nghỉ ,một ý thức ko ai giống ai , vì mỗi người một hoàn cảnh tác động khác nhau ,mỗi người tuỳ theo cách nhiễm của sắc trần mà biến chuyển ,thân ,khẩu ,và ý trưởng thành nhờ sự nếm trãi, nó không có cái ta ,nó không tự ngã ,TÂM là duyên khởi của tất cả nhãn , nhỉ , tỷ thiệt ,thân ý,tạo ra ,nếu nó đứng riêng lẻ thì không tạo nên duyên khởi ,ví dụ:tai nghe mà không nhờ nhãn thấy thì không thể tạo nên sắc ,có sắc mà không nếm thì không thể biết mùi vị ,không có mùi vị thì không thể thọ cảm ,nếu không thọ cảm thì không sanh TÂM ,TÂM không sanh thì đâu tạo nghiệp .
Tất cả là một kết cấu hoàn hảo làm nên .
Tâm là chất ngấm dần vào hạt giống , của quả chín trên cây nuôi hạt đó cho già và biến thành tánh ,khi hạt trong quả đã chín già thì luân chuyển TÁNH đó là chủng tử của luân hồi
Tâm còn gọi là trung tâm ,ở giữa ,ý là đầu ,tâm là thân ,khẩu là chân rồi mới qua hành vi ,người phàm ý ,thân khẩu mới không đồng còn sanh cái này cái nọ ,mới có pháp này pháp nọ ,như người bệnh này uống thuốc này người kia bệnh kia uống thuốc kia ,chứ người tu chỉ có một đường là tu tâm đồng nhất ,Tâm chính là trụ của ba phần ý, thân, khẩu ,người tu biết làm chủ thì mới trụ được ý, thân, khẩu, chánh chơn ,Tâm người phàm còn lăng xăng chứ phật trụ thì tâm ko còn lăng xăng nữa ,muốn biết tâm ,mình cứ xem chúng sanh nói gì? hành cái gì? qua hành vi để phân biệt ,tâm của chúng sanh ,đó là ta đang nhìn vào cái tâm của chúng sanh ,tâm của trời thì THIỆN tâm của ma thì ÁC tâm của QUỶ thì xảo quyệt ,tâm của PHẬT thì chơn ,tâm chính là cốt lõi của sự biết ý thức của con người tự sửa từ xấu đến hoàn thiện .
Đó chính là nơi để biết kết quả tu trì của người chân tu.
Nói chung ý khởi ,tâm sẽ khởi theo thiện hay ác của ý ,tâm là quyết định của ý ,khẩu và hành là quyết định của tâm ,tâm KHỞI ác khẩu và hành sẽ ác ,tâm khởi thiện khẩu và hành sẽ thiện ,người tu lấy tâm làm gốc trước tiên phải biết tu ý và tâm rồi khống chế khẩu và hành đó mới là quan trọng trong đường tu.

-TÂM PHÀM -TÂM PHẬT
-Khi những ý nghỉ đầu tiên từ cảnh trần tác động ,ta luôn nghỉ mà sanh vọng tưởng ,phân tích sanh ra nhiễm yêu thích ,nếu ko được thì hận ,oán ghét ,sân si, đau khổ ,u buồn lòng luôn có ý trả thù ,gây phiền não ,ko một ngày an vui .
-Khi TÂM phàm luôn ăn sâu từ đời này qua đời khác ,như người ghiền khó thay đổi ,TÂM tham luôn toan tính hơn thiệt ,từ trong mọi mặt đều có sự toan tính ,TÂM SÂN ganh ghét kẻ hơn mình ,si mê ngu muội tham đắm chuyện trần gian gây nên tội, lỗi đó là Tâm phàm phu ,còn Tâm phật biết xã đoạn những gì cảnh trần tác động và ko chấp vào nó để bình thản thanh tịnh ko rối ,ko loạn tâm ,tâm chư phật và bồ tát biết tâm vô thường của thế gian ,tâm dễ thay đổi của thế gian nên ko say đắm ,ko lầm mê muội luôn cao thượng xã đoạn ,ko hơn thua ,cảnh giả tạm đó là tâm của chư phật và chư bồ tát như trong .
TÂM có thể biến đổi tuỳ theo hoàng cảnh tác động , qua thức ,nó cũng phụ thuộc một phần do bản tánh lâu đời của mình mà thay đổi ,
LINH HỒN
TÂM cũng là linh hồn là sự nhận biết , ý thức , là trung tâm điều khiển toàn bộ mọi biến chuyển , hành vi ,thân xác ,tạo tác ác hay thiện ,vậy linh hồn ở đâu ?
Hể mình nhìn vào đâu ,là linh hồn mình đang hướng ở đó ,ta nghỉ ở đâu linh hồn ở hướng đó ,ý của mình chuyển vào điểm nào là linh hồn cũng chuyển ,linh là biết ,hồn là động,sự nhận biết và chuyển động gọi là linh hồn .Xác thân mình mà ko có linh hồn ,ko có tâm ,thì coi như cái xác di động ko có điều khiển ,linh hồn là chủ toàn bộ từ ý , thức ,và mọi thức của lục căn ,
Muốn cho linh hồn ko bị chết , mình phải học , phải tìm tòi ,tìm hiểu , nếu nhìn vào lỗ kim thì linh hồn bó nhỏ như lỗ kim , nhìn vào vũ trụ linh hồn sẽ rộng mở như vũ trụ ,tuỳ theo cái nhìn mà linh hồn nhận biết về hướng đó .
Chỉ tu an định ,thì linh hồn mới hội tụ ,an tịnh tâm ,và thống nhất được ý thân khẩu ,và điều khiển đươc cái tâm ko bị vọng động của thế gian ,mới là chơn tâm
TÂM của mỗi người mỗi khác ,kẻ hiền thì có tâm hiền ,kẻ ác có tâm ác ,kẻ dữ có tâm dữ tuỳ theo tâm người mà biến chuyển ,muốn trở thành đắc đạo tu tâm là rất cần thiết vì tâm chính là cốt lõi thành phật ,thành giác chơn .

Vậy linh hồn có phải là TÂM không?Tâm= là thân khẩu ý =Thâm nhập gọi là TÁNH
Ý thức là giác chơn nơi thành PHẬT

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: LINH HỒN LÀ GÌ?
Đã gửi: Thứ 2 11/06/12 7:43 

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Linh hồn, trong tư tưởng tín ngưỡng và triết học, là bản chất tự nhận thức bản thân đặc trưng cho một sinh vật nào đó. Theo những tư tưởng này, linh hồn sát nhập bản chất bên trong của mỗi sinh vật, và là cơ sở thật sự cho trí tuệ. Nhiều nền văn hóa và tín ngưỡng tin rằng, linh hồn là sự thống nhất của ý thức về đặc tính của một cá thể.

Khái niệm về linh hồn có những liên hệ chặt chẽ với những ý niệm về cuộc sống sau khi chết, nhưng có nhiều ý kiến rất khác nhau, thậm chí của cùng một tôn giáo nào đó, về những gì sẽ xảy đến với linh hồn sau khi cơ thể chết đi. Nhiều người theo những tôn giáo, triết lý nhất định cho linh hồn là phi vật chất, trong khi có người khác lại cho rằng linh hồn có thể có một thành phần vật chất nào đó, và một vài người thậm chí đã cố tìm khối lượng (trọng lượng) của linh hồn. Linh hồn thường (nhưng không luôn luôn, như được giải thích ở dưới đây) được cho là bất tử.

Những người hoài nghi về linh hồn viện dẫn những hiện tượng như suy giảm hoặc mất khả năng nói, viết và hiểu ngôn ngữ ở dạng nói hay viết do thương tổn, bệnh tật ở các trung tâm não; và bệnh Alzheimer là những bằng chứng chứng tỏ đặc tính của một cá thể là vật chất, và hơn nữa được cấu tạo từ những thành phần đơn lẻ, trái với triết lý cho rằng linh hồn là bất tử, và thống nhất.

Tuy nhiên vẫn còn một số hiện tượng mà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp thích đáng. Đó là trường hợp những người có Bộ não gần như 'rỗng' ( Não bị teo lại gần như biến mất) vẫn có năng lực tư duy như người bình thường.

Đến ngay nhà khoa học chưa có câu trả lời nên mình phải thận trọng khi đưa ra quyết định ,tư tưởng luận về linh hồn cho hợp lý

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: LINH HỒN LÀ GÌ?
Đã gửi: Thứ 2 11/06/12 10:55 

VẤN ÐỀ LINH HỒN DƯỚI CÁI NHÌN CỦA KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO
05.01.2011 luongtamconggiao Để lại phản hồi Go to comments
LTCG (05.01.2011)
Cho đến nay, mặc dù đã có sự tiến bộ vượt bậc của khoa học – kỹ thuật và của tinh thần duy lý, “linh hồn” (của vạn vật nói chung và của con người nói riêng) vẫn luôn là một trong những vấn đề bí ẩn nhất và vẫn không ngừng trở thành một “đối tượng khảo sát” của nhiều giới, đặc biệt là giới khoa học.
Trái với dự báo của một số người, khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tìm hiểu và chứng nghiệm về linh hồn không những không bị giảm đi, trái lại, còn trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Quan niệm cho rằng không nên lẫn lộn giữa hai lĩnh vực nghiên cứu : trong khi đối tượng nghiên cứu riêng biệt của khoa học là vật chất thì “linh hồn” hoặc “thế giới phi vật chất” nói chung chỉ nên là “đối tượng” của niềm tin tôn giáo hoặc một sự xác tín triết học cũng không còn đứng vững nữa. Trong giai đoạn hiện nay, sự hợp tác giữa khoa học và tôn giáo trong việc tìm hiểu về vấn đề này là một điều cần thiết, và trong sự hợp tác này triết học có một vai trò trung gian cần thiết và quan trọng.
Theo một cách hiểu thông thường nhất, linh hồn là một nguyên lý hay một phương diện phi vật chất (immaterial principal or aspect) mà cùng với thể xác, kiến tạo nên một thực thể con người hoặc sinh vật hữu cơ hoàn chỉnh. Ở đây, có ba danh từ khác nhau được tạo ra; nếu “linh hồn” được dùng để chỉ phần linh thiêng nhất trong thế giới tinh thần của con người, thì ở các động vật khác, nguyên lý phi vật chất này được gọi là “sinh hồn” (âme sensitive) và ở thế giới thực vật, đó là “giác hồn” (âme végétative). Sự phân chia nói trên xuất phát từ thuyết tiến hoá của linh hồn, một thuyết đã từng là một trong những giáo lý căn bản của Aán Ðộ giáo từng được truyền bá rộng rãi trong nhiều thế kỷ vừa qua cùng với thuyết luân hồi. Theo quan niệm của các thuyết này, linh hồn con người vẫn còn sau khi thể xác chết, và sau nhiều cuộc luân hồi, chuyển kiếp, với sự tu tập không ngừng, linh hồn sẽ tiến hoá đến mức cao nhất và trở thành “một tâm thức thiêng liêng hoàn toàn khai mở” (theo C.W. Leadbeater). Cũng theo thuyết này, có hai giai đoạn lớn trong lịch trình tiến hoá của linh hồn; trong giai đoạn đầu tiên, trên “con đường ra đi”, linh hồn còn ở trình độ thấp và chủ yếu hoạt động hướng ra ngoài nhằm thỏa mãn các dục vọng của mình. Trong giai đoạn thứ hai, trên “con đường trở về”, linh hồn bắt đầu hướng về đời sống tâm linh, hiểu được mục đích và ý nghĩa tối hậu của cuộc sống.
Bắt đầu từ Homère,vấn đề “linh hồn” đã được đề cập đến trong lịch sử tư tưởng – triết học của loài người, kể từ thế kỷ thứ VII trước Tây lịch,với nhiều quan niệm và nhận thức khác nhau. Cho đến khi nền văn minh cổ Hy Lạp tiếp xúc với đạo Saman (Chamanisme), một loại hình tôn giáo sơ khai phổ biến ở Siberia và các vùng lân cận, thường tổ chức các cuộc tiếp xúc với linh hồn người chết, thì do ảnh hưởng của đạo này, một số tác giả Hy lạp, trong đó có Pythagore, Empédocle cho rằng trong con người tồn tại một linh hồn hay một “cái ngã” có nguồn gốc thần thánh, mà bằng các phương pháp và kỹ thuật thích hợp, có thể tách rời linh hồn ra khỏi thể xác, cũng như linh hồn luôn tồn tại trước khi có thể xác và vẫn tiếp tục tồn tại sau khi thể xác tan rã (giống với quan niệm ở phương Ðông: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”). Ðó là nguồn gốc đầu tiên của thuyết nhị nguyên luận (dualisme) về linh hồn và thể xác, một thuyết cho rằng linh hồn và thể xác có thể tồn tại độc lập với nhau và cả hai thường được đặt trong một thế đối lập có tính chất căn bản. Ðiều này thường được thể hiện bằng một hình ảnh phổ biến là “linh hồn ở trong thể xác cũng giống như con ngừơi ở trong ngục tù” (Gorgias, 525a). Những quan niệm sơ khởi về linh hồn nói trên cũng chính là những tín ngưỡng phổ biến nơi dân gian.
Trong số các tác giả Hy Lạp cổ, có lẽ Platon, cùng với Aristote, là những triết gia đã đưa ra được một lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về linh hồn và có thể được xem như là một “tâm lý học” sơ khởi về vấn đề này. Chịu ảnh hưởng sâu xa từ học thuyết nhị nguyên luận. Platon cho rằng linh hồn có thể hiện hữu một cách độc lập đối với thể xác và nó chỉ ở trong một trạng thái “thuần khiết” khi nào nó được giải thoát ra khỏi ngục tù – cơ thể. Platon cũng đã đưa ra nhiều luận chứng khác nhau để chứng minh về sự “bất tử” của linh hồn (như tất cả mọi sự thay đổi không phải chỉ xảy ra theo một chiều hướng nhất định mà còn theo cả chiều hướng ngược lại, do đó, không phải chỉ sự biến đổi từ trạng thái sống qua trạng thái chết mà còn có cả sự biến đổi ngược lại từ chết qua sống và điều đó chứng tỏ sự trường tồn của linh hồn là vĩnh cửu…) và học thuyết về ý niệm của ông ám chỉ rằng trước khi thể nhập vào một thân xác, linh hồn đã cư ngụ và chiêm ngưỡng trong thế giới thuần khiết của tri thức. Platon cũng đã đưa ra một lý thuyết về “cấu trúc linh hồn” với ba thành phần : thành tố cao nhất của linh hồn là một thành tố “thuần lý (rationnel) và nó đóng vai trò như một người điều khiển tối cao, yếu tố thứ hai được xem là nguồn gốc của hành động và một số tình cảm đạo đức, và yếu tố thứ ba thuộc hàng thấp nhất, có tính chất dục vọng. Sự đối lập giữa tính thuần lý (của yếu tố thứ nhất) và tính phi lý (của hai yếu tố còn lại) cũng là một dạng thức khác của học thuyết nhị nguyên luận về linh hồn của Platon. Trong Phèdre, Platon có nhắc đến một huyền thoại so sánh linh hồn như một người đánh xe với hai con ngựa khác nhau : một con ngựa tốt và một con ngựa xấu. Sự tịnh hóa và thuần khiết của linh hồn chỉ có thể đạt được sau khi con người trải qua nhiều kiếp sống khác nhau và chính yếu tố “thuần khiết” này mới có khả năng “đồng nhất linh hồn với thần thánh”. Dưới cái nhìn có tính chất duy tâm này, “con người, đó chính là linh hồn” (l’homme, c’est son âme, Alcibiade, 130c).
Với một cái nhìn có tính chất cơ giới hơn và phần nào thoát ra khỏi ảnh hưởng của nhị nguyên luận, Aristote cho rằng linh hồn kết hợp với thể xác cũng giống như “hình thức” (forme) kết hợp với “chất thể” hoặc “vật chất” (matière) và “linh hồn chính là hình thức hoặc là tác thể (acte) của thể xác mà từ đó tạo ra bản chất của sự sống”. Quan niệm của Aristote về linh hồn xuất phát từ lý thuyết chất hình (hylémorpaisme), theo đó, một vật dù có thay đổi như thế nào thì vẫn giữ được tính chất cơ bản của nó (gọi là “prime matter”) và sự thay đổi diễn ra trong một hình thức có tính chất chất thể (substantial form). Nói cách khác, với lý thuyết này, Aristote quan niệm linh hồn là “hình thức chất thể” của thể xác, và đó là nguồn gốc duy nhất của tất cả các hiện tượng sống và tinh thần. Quan niệm này của Aristote đã ảnh hưởng nhiều đến quan niệm của Thánh Thomas và trường phái kinh viện sau này về vấn đề linh hồn.
Trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, vấn đề linh hồn cũng đã được đề cập trở lại, dưới ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hy Lạp, đặc biệt là học thuyết Platon và Aristote. Hầu hết các giáo phụ cho rằng linh hồn là một “chất thể tâm linh” (spiritual substance) được cấu tạo bởi Thượng đế và có tính chất bất tử. Theo niềm tin Thiên Chúa giáo, trong ngày phán xử cuối cùng, linh hồn của người chết sẽ “nhập thể” và sự phục sinh sẽ được thực hiện. Con người, theo quan niệm của Thánh kinh, được cấu tạo bởi ba yếu tố : 1. Néfesh : theo Thánh Paul, “néfesh” là nguyên lý đời sống có khả năng tạo ra sự sống cho cơ thể (nghĩa đen của “néfeste” là cơ quan hô hấp), 2. Basar : là sự biểu hiện cụ thể của “néfeste” là chính cơ thể hiểu như một công cụ biểu thị tình cảm của “néfeste”, 3. Ruah : là yếu tố quan trọng nhất, bảo đảm sự hiện hữu của cả “néfeste” và “basar”, là sợi dây liên hệ nối liền con người với Thượng đế, là chính sự hiện diện của Thượng đế nơi con người.
http://luongtamconggiao.wordpress.co...c-va-ton-giao/
bài sưu tầm

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: QUAN ÂM ĐẤU TRÍ VỚI CHUỘT TINH
Đã gửi: Thứ 3 19/06/12 8:14 

15 - Quán Âm Đấu Trí Với Chuột Tinh - Quán Âm Truyền Thuyết (Tuyển Tập)

Posted by Trần Nhật Thành on May 28, 2008 at 12:38am
View Blog

Tương truyền rằng đời xưa, ở dưới lòng đất có một con chuột đã thành tinh, biết rằng trên nhân gian năm nào gặt hái cũng trúng mùa, nghĩ đến cuộc đời lạnh lẽo vắng teo của mình thì bèn lén tìm đến nhân gian, hy vọng có cách nào sống một cuộc sống ăn không ngồi rồi cho nó khoẻ !

Nhưng lên đến trần gian thì người nào thấy nó cũng miệng la tay đánh. Tuy con chuột này có phép thần thông, nhưng nó cũng biết là nếu làm cho dân chúng ghét thì nó sẽ bị bất lợi nhiều hơn là thắng lợi, vì thế nó cứ phải trốn chui trốn nhủi, có khi suýt phải mất mạng. Con chuột tinh càng nghĩ càng oán hận, nên mới tìm ra một độc kế để giết chết hết loài người trên trần thế mới đã nư !

Một hôm, con chuột tinh biến thành một thanh niên có cái mồm nhọn hoắc, đến chỗ Long Vương ở Đông Hải xin mượn đòn quang gánh với hai thùng nước biển để gánh đi bán trong nhân gian.

Nó có phép thần thông nên tuy nói là chỉ một có một đòn quang gánh mà thôi, nhưng thật ra nó đã múc phân nửa số nước biển Đông đựng trong hai thùng nước rồi, chờ khi nào bán xong nước thì thế giới này sẽ bị đại hồng thủy làm cho ngập lụt và loài người sẽ chết hết không còn một ai sống sót.

Vừa khéo, Quán Âm Đại sĩ đi vân du bốn biển mới về tới, chỉ đảo mắt nhìn là Ngài thấy xuyên thấu bụng dạ tâm can của con chuột tinh. Ngài bèn bỏ ý định trở về Triều Âm Động, mà âm thầm tìm đến gặp nó.

Trở lại con chuột tinh, xiêng xiêng vẹo vẹo gánh đôi gánh nước đi từ thôn này xuyên qua làng khác, vừa đi vừa rao hàng. Gánh nặng sưng cả bả vai, rao hàng đến khàn cả tiếng mà không có một ai thèm mua nước biển của nó.

Hôm ấy nó gánh nước đến một ngã ba đường, đứng trước một mái nhà tranh đặt gánh xuống rao hàng. Trong nhà có một bà cụ đang ngồi xe chỉ dệt vải, nghe nó rao bèn vỗ vỗ áo, phủi phủi quần, gù lưng bước ra cửa nói rằng :

- Tôi đang muốn làm dưa cải muối đây, ông bán nước biển thật là vừa khéo ! Gánh tới đây, tôi mua hết cho !

Con chuột tinh mừng thầm trong bụng, hỏi :

- Lu nước đâu ?

Bà lão cười tươi như hoa, chìa ra một cái bình nhỏ trả lời :

- Đổ trước vào đây đầy bình cho tôi !

Con chuột tinh cảm thấy buồn cười, nghĩ bụng rằng :

- Cái bà già ăn mày này đến lạ, cái bình cỡ này thì chứa được bao nhiêu giọt nước ?

Vừa nghĩ, nó vừa tiếp lấy bình đổ nước vào. "Ọc ọc, ọc ọc…" đổ nửa thùng nước vào bình rồi mà sao bình vẫn chưa đầy ? "Ọc ọc, ọc ọc…", nửa thùng nước còn lại đã đổ vào nốt mà bình hãy còn trống. Con chuột kinh hoàng hỏi :

- Cái bình này là bình gì vậy ?

Bà lão chỉ cười mà không đáp. Con chuột tinh lại nghĩ :

- Bình gì thì bình, trước sau gì bà cũng sẽ là người chết chìm trước !

Nó khiêng thùng nước kia đổ tiếp vào bình. Chỉ nghe tiếng nước róc rách mà vẫn chưa thấy nước tràn ra ngoài. Con chuột phát hoảng, đứng đực người ra.
Bà lão cười nhạt một tiếng, nhẹ nhàng lấy bình về và quát :

- Nghiệt súc ! Còn chờ gì mà chưa nhận tội ?

Con chuột tinh định thần nhìn kỹ, thấy người cầm tịnh bình đứng trước mặt nó không còn là bà lão lưng gù mà lại là Quán Âm Đại sĩ ! Nó sợ hãi thất sắc, vội quay đầu chạy trốn.

Chạy, chạy, chạy thôi là chạy, chạy một đỗi thì con chuột tinh cảm thấy vừa đói vừa khát, may quá đầu đường có một quầy hàng trà bánh, đúng lúc ấy có rất nhiều người đang đứng đấy uống trà ăn bánh.

Con chuột oán hận quá gây gổ ngay :

- Giỏi cho bọn bây ! Ông thì phải trốn chui trốn nhủi, còn bọn bây thì ở đây mà tiêu dao tự tại !

Bất cần mọi sự, nó đưa tay tính chộp lấy trà bánh nhưng cô chủ quầy không bằng lòng bán chịu, bắt nó phải trả tiền trước rồi mới được ăn. Trong mình đã không có một đồng một xu, vừa đói lại vừa khát, con chuột thẹn quá hóa khùng, trong nháy mắt bỗng nghe "chít chít" loạn xạ, và vô số chuột không biết từ đâu chui ra ùn ùn trèo lên quầy tranh ăn. Nào ngờ cô chủ quầy phóng ra mấy chú mèo và cười ha hả :

- Mèo bắt chuột ! Mèo bắt chuột !

Đàn chuột sợ hãi chạy trốn tán loạn, trong chớp mắt không còn một con.

Con chuột tinh không chịu thua, tính trút cơn giận lên đầu cô chủ, nhưng nào ngờ mới nhìn lên thì rõ ràng trước mặt mình lại là phạm tướng của Bồ Tát Quán Thế Âm ! Con chuột tinh như bị điện giật, vừa lăn vừa bò ra chạy trốn.

Chạy, chạy, chạy thôi là chạy, chạy một đỗi thì con chuột tinh cảm thấy vừa mỏi vừa mệt, bèn nhủi vào một quán ăn nhỏ nghỉ chân. Ông lão chủ quán đến hỏi nó muốn ăn gì, nó thấy rằng mì nước vừa làm cho no bụng vừa giải khát bèn gọi một tô mì nước.

Làm sao nó biết được lão chủ quán cũng chính là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân ! Đang lúc nó xì xà xì xụp húp tô mì nóng đến nỗi mồ hôi tuông đầy đầu, lão chủ quán nhẹ đưa ngón tay lên quẹt mặt bàn một cái là từng sợi từng sợi mì biến thành từng sợi dây sắt khiến nó nghẽn họng như thể mắc xương cá, đau quá lăn đùng xuống đất, lăn tới lăn lui mấy lần thì hiện nguyên hình con chuột to màu xám, kêu chít chít loạn xạ, khẩn cầu Quán Âm tha mạng.

Quán Âm vốn từ bi, chỉ giam nó vào trong một động đá không đáy, khiến nó vĩnh viễn không thể ra ngoài nhiễu hại chúng sinh nữa.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 01/07/12 7:10 

Nguồn gốc và ý nghĩa chiếc áo cà sa của đạo Phật

Không như pháp phục của những tôn giáo khác, chiếc áo cà sa của đạo Phật không thuần túy chỉ là chiếc y che mình mà đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu trưng của Phật giáo. Chiếc áo cà sa là biểu tượng của đạo pháp, của nhà tu hành, do đó cũng tượng trưng cho những gì trân quý, cao cả và thiêng liêng nhất. Chiếc y cà sa cũng là biểu tượng của phạm hạnh, đức độ, là ánh đạo vàng, biểu trưng cho sự giác ngộ toàn năng nên được tứ chúng phật tử tôn xưng và kính ngưỡng. Đối với hàng phật tử xuất gia, được khoác trên mình chiếc y cà sa để hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sinh là một hạnh duyên thù thắng mang lại nhiều hạnh phúc, an lành và thành tựu.

Cà sa - dịch từ tiếng Phạn là kasaya tên đầy đủ là cà sa duệ, theo nghĩa đó, kasaya không có ý nghĩa là y áo, y phục mà có nghĩa là bạc màu, cáu cặn hay hư hoại. Sách chữ Hán dịch kasaya là đạm (màu nhạt), trọc hay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch chữ này là hoại sắc, bất chính sắc, hư nát, dính bẩn… Tóm lại, chiếc áo cà sa của người Phật tử xuất gia tượng trưng cho những gì nghèo nàn, thô sơ, giản dị và khiêm nhường nhất.

1. Nguồn gốc của chiếc y cà sa:

Cà sa là tên gọi chung các loại y phục dành riêng cho hàng Phật tử xuất gia. Sở dĩ có sự khác biệt về chiếc y cà sa giữa các tông môn, hệ phái Phật giáo là do tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, khí hậu, phong tục, tập quán… ở các khu vực khác nhau nên chiếc y cà sa cũng có những thay đổi cho phù hợp. Điều này chúng tôi xin được trình bày ở phần sau.

Theo Luật tạng, chiếc y cà sa do đức Phật chế, được hình thành do lúc ban đầu, Tăng đoàn của Phật y áo không khác biệt gì với những người tu hành thuộc các truyền thống tôn giáo khác. Vì thế vua Tần-bà-sa-la (Bimfbisara) của nước Ma-kiệt-đà[i] (Magadha), một đệ tử của đức Phật, mới đề nghị với Phật xin cho các đệ tử được ăn mặc khác hơn để mọi người dễ nhận ra. Vào thời điểm ấy, Phật và người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà[ii] (Ànanda) đang du hành phương Nam để thuyết giảng, Phật thấy những thửa ruộng lúa hình chữ nhật, chia cắt bởi những đoạn bờ thẳng tăm tắp. Phật liền bảo A-nan-đà cứ theo mẫu ấy mà may áo cho Tăng đoàn. Vì thế, chiếc y cà sa mang hình những thửa ruộng, được chắp nối vào nhau bằng những mảnh vải như hình những thửa ruộng được ngăn cách bởi những đoạn bờ. Cũng vì thế trong kinh sách tiếng Hán, chiếc áo cà-sa còn được gọi là cát triệt y, điền tướng y tức là áo hình thửa ruộng.

Nguồn gốc chiếc y cà sa còn được giải thích bằng một cách khác, đó là xưa kia, theo truyền thống Phật giáo, các nhà sư phải tự đi nhặt những mảnh vải vụn, những tấm khăn đắp hay liệm người chết vứt bỏ ở những nơi hỏa táng, nghĩa địa hay những đống rác, rồi đem về tự mình nhuộm màu, chắp nối và may lấy áo để mặc. Bởi vậy. chiếc y cà sa mới mang hình của các mảnh vải vụn được ráp nối với nhau. Ngày nay, tại một số tu viện lớn ở Srilanka hay Mianma vẫn còn giữ được truyền thống đó. Điều đó cho thấy chiếc áo cà sa là biểu tượng của những gì khiêm tốn, đơn sơ và giản dị nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Nhưng đồng thời điều đó cũng toát lên một ý nghĩa hết sức lớn lao của chiếc áo cà sa trong đạo Phật, đó là để nhắc nhở các nhà tu hành Phật giáo về tấm thân vô thường của họ tại thế gian.

Chiếc cà sa của đạo Phật ngoài tác dụng để che thân còn có tác dụng như một tấm chăn đắp hay dụng cụ để ngồi, vì vậy, chiếc y cà sa còn có tên gọi là phu cụ (dụng cụ để đắp) hay tọa cụ (dụng cụ để ngồi). Kinh Bát nhã có kể chuyện Phật cùng với các đồ đệ sau khi khất thực về, ăn xong, Phật tự lau rửa bình bát, sau đó tự tay xếp áo cà-sa làm tọa cụ và ngồi lên đó để thuyết giảng. Có khi các đồ đệ lấy áo của mình xếp chồng lên nhau để Phật ngồi thuyết pháp.

Y cà sa được may theo hình chữ nhật, chia ra làm ba loại là tiểu, trung, đại. Tiểu y gọi là y An-đà-hội (Antaravasaka) là y mặc bên trong. Y An-đà-hội chỉ có 5 mảnh nên còn gọi là y ngũ điều, cả tấm y gồm mười miếng, cứ 1 miếng dài, 1 miếng ngắn ráp lại vào nhau theo chiều dọc gọi là một điều. Trung y gọi là y Uất-đa-la-tăng (Utarasangha) là y mặc ở trên y An-đà-hội. Y này gồm 7 mảnh nên còn gọi là y thất điều, cả tấm y gồm 21 miếng, cứ 2 miếng dài thì 1 miếng ngắn ráp lại thành một điều. Đại y gọi là y Tăng-già-lê (Sangati) là y đắp ngoài của chư tăng. Y này gồm 9 mảnh nên còn gọi là y cửu điều. Cả tấm y gồm 27 miếng, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn ráp lại gọi là một điều. Luật Phật cũng quy định, tùy theo cấp bậc và đạo hạnh mà chiếc y Tăng-già-lê có thể có từ 9 đến 25 điều. Những vị càng đạo cao đức trọng càng có tấm y Tăng-già-lê nhiều điều.

Màu sắc của chiếc y cà sa không nhuộm hẳn bằng một màu nào cả, tránh không dùng năm màu chính là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen, vì vậy, chiếc y cà sa được pha trộn nhiều màu để tạo ra một màu sắc thật giản dị, đúng theo ý nghĩa nguyên thủy của chữ kasaya trong tiếng Phạn. Áo gồm nhiều mảnh, có thể mỗi mảnh một màu, vì đó là những mảnh vải nhặt được và khâu nối với nhau. Ngày nay tùy theo truyền thống của từng pháp phái, địa phương, phong tục, khí hậu… mà chiếc áo cà-sa cũng phần nào có sự cải biến, từ cách may cho đền màu sắc. Ở Ấn Độ và các nước theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy nhuộm y màu vàng; ở Việt Nam, Trung Quốc y cà sa nhuộm các màu vàng, lam, nâu, nâu đỏ; ở Hàn Quốc y cà sa nhuộm màu lam; ở Nhật Bản y cà sa nhuộm màu đen hay nâu đen (màu trà); ở Tây Tạng, y cà sa nhuộm màu vàng nghệ hay nâu đỏ… Nói chung có ba màu chính gọi là như pháp cà sa sắc tam chủng (ba màu sắc của áo cà sa theo phép quy định) gồm màu gần như đen (màu thâm, màu bùn đất), màu gần như xanh (màu rỉ đồng) và màu gần như đỏ (màu hoa quả).

Như trên đã nói, y cà sa xuất phát từ Ấn Độ là xứ nóng nên ngoài 3 y tiểu, trung, đại như đã đề cập không còn loại y nào khác và do đó, y cà sa cũng là y thường phục của chư tăng theo Phật giáo Nguyên thủy. Khi Phật giáo được du nhập vào các quốc gia khác như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… do đây là những xứ lạnh nên y cà sa đã có sự thay đổi để phù hợp với điều kiện môi trường cũng như phong tục, tập quán của từng quốc gia. Ở Việt Nam, Trung Quốc… y phục của tăng đoàn mang nhiều ảnh hưởng của truyền thống may mặc dân tộc, áo ngắn cài khuy làm bằng vải ở giữa, áo dài cài khuy vải ở bên hông, quần may rộng rãi để tiện trong các sinh hoạt… Y cà sa của Phật giáo Bắc tông được khoác trùm lên các y áo trên và chỉ khoác cà sa trong những dịp tổ chức các nghi thức Phật giáo trang trọng, tôn nghiêm chứ không phải là thường phục của tăng ni. Một điều chú ý là đối với hệ phái Phật giáo Bắc tông, chỉ những vị tỳ kheo và tỳ kheo Ni mới được phép mang y cà sa, còn những vị khác không được phép mang y cà sa.

Chiếc y cà sa là biểu tượng cho đạo Phật, cho sự màu nhiệm của Phật pháp chính vì vậy, cũng được gắn cho rất nhiều tên gọi cũng như các công dụng khác nhau, mặc dù ban đầu, chiếc y cà sa chỉ được dùng để che thân, làm chăn đắp hay dùng để ngồi. Theo sách Phật chế tỳ kheo lục vật đồ[iii] thì y cà sa có 12 tên gọi là: 1.Cà sa; 2.Đạo phục (áo của người tu hành theo đạo Phật); 3. Thế phục (áo của người xa rời thế tục); 4.Pháp y (áo theo đúng pháp quy định); 5.Ly trần phục (áo của người thoát tục); 6.Tiêu sầu phục (áo có khả năng tiễu trừ phiền não); 7.Liên hoa phục (áo như hoa sen không nhiễm bùn); 8.Gián sắc phục (áo không dùng năm màu chính để nhuộm); 9.Từ bi phục (áo của người thực hành đức từ bi); 10.Điền tướng y (áo theo hình thửa ruộng); 11.Ngọa cụ (dụng cụ để ngồi); 12. Phu cụ (dụng cụ dùng để đắp).

Trong kinh Tâm địa quán[iv] thì nêu lên 10 lợi ích của chiếc y cà sa, đó là: Che thân khỏi thẹn ngượng; tránh ruồi muỗi, nóng rét; biểu thị các tướng của sa môn; sinh phúc cõi phạm thiên[v]; nảy sinh bảo tháp tướng diệt mọi tội; màu không rực rỡ không làm nảy sinh lòng ham muốn; vĩnh viễn đoạn trừ phiền não; tiêu trừ tội lỗi, nảy sinh điều thiện; như nơi đất tốt có thể làm nảy sinh lòng bồ đề; như giáp trụ, mũi tên độc phiền não không làm hại được. Hay như trong kinh Bi hoa[vi], nêu lên 5 đức của y cà sa là: Trong tứ chúng, những điều sai trái nặng nề mà biết một lời tâm niệm kính trọng cà sa thì liền được thụ ký tam thừa[vii]; thiên long nhân quỷ nếu cung kính cà sa thì cũng được đắc tam thừa; quỷ thần cũng như mọi người nếu có được một phần nhỏ của chiếc cà sa cũng sẽ được ăn uống no đủ; chúng sinh mắc điều sai trái mà tâm niệm cà sa thì cũng sẽ nảy sinh lòng từ bi; giữa nơi chiến trận, có được mảnh nhỏ cà sa, cung kính tôn trọng vật báu đó thì luôn được chiến thắng.

Chiếc y cà sa, từ tác dụng ban đầu là vật thiết yếu của mỗi người tu sỹ trong cuộc sống tu hành, dùng để phân biệt người tu sỹ Phật giáo với các tôn giáo khác, đã được hình tượng hóa và mang một ý nghĩa thiêng liêng, biểu tượng cho những gì trân quý, cao cả nhất của Phật pháp và giáo pháp. Chiếc y cà sa không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà đã chuyên chở các ý nghĩa tinh thần, trở thành pháp bảo độ trì cho những người con Phật tu hành theo đúng chánh pháp.

2. Ý nghĩa của chiếc y cà sa:

Xét theo góc độ ý nghĩa vật chất, chiếc y cà sa được may bằng cách ráp nối những mảnh vải vụn lượm lặt lại với nhau, theo cách này sẽ tận dụng và tiết kiệm vải rất nhiều và có thể thay các miếng khác nhau khi có miếng nào bị rách, hỏng. Và hơn thế, khi chư tăng nhận phẩm vật cúng dàng của phật tử, tùy khả năng của phật tử cúng dàng những mảnh vải lớn hay nhỏ, đều được sử dụng, mang lại lợi ích và không lãng phí. Đó cũng là sự đúc kết kinh nghiệm của các hành giả tu lâu năm trong các tu viện thanh tịnh phải tự lo lượm vải khâu may y phục cho mình. Điều đó cũng nói lên ý nghĩa khiêm nhường và giản dị của chiếc y cà sa. Tăng đoàn chủ trương không có giáo sản, chỉ sống bằng sự bố thí của tín chủ nên không đòi hỏi và sẵn sàng sử dụng những gì được phật tử dâng cúng.

Những người xuất gia tu hành mặc y cà sa hoại sắc cốt để che thân chứ không phải nghiêm sức để chau chuốt cho mình. Tăng đoàn, hoặc là mặc y cà sa chắp vá được từ các mảnh vải thừa nhặt được, hoặc là thụ nhận mọi loại vải dù là thô xấu cúng dường từ thiện tín rồi nhuộm đi để may mặc, cốt sao có y mặc mà thôi chứ không bận lòng phân biệt tốt xấu. Mỗi lần nhìn thấy chiếc y cà sa của mình vị tỳ kheo đều nhớ biết mình là người xuất gia mà lo tinh tấn với đạo nghiệp, nếu bỏ qua điều đó sẽ làm uổng phí đời sống xuất gia, uổng phí thiện tâm của đàn thí.

Người xuất gia khoác lên người chiếc áo cà sa cũng là để tự kiểm chứng bản thân mình, giúp họ luôn giữ giới, nhắc nhở họ không được tà dâm, sát sinh, trộm cắp, không sân si, bám níu… Chiếc áo ấy đem đến sự an lạc, giúp họ phát lộ lòng từ bi, giúp tăng trưởng trong tâm thức sự can đảm, tinh tấn, sức mạnh và trí tuệ để vượt qua những chướng duyên trên con đường tu tập.

Chiếc y cà sa có nhiều mảnh cũng là sự biểu trưng cho con đường tu tập hướng đến giác ngộ có nhiều thứ lớp, giai đoạn. Đức Phật đã trải qua vô lượng kỳ kiếp để đạt đến chứng quả Bồ đề. Mỗi hành giả đời sau phải liên tục tích lũy công đức, tạo phúc, sửa chữa lỗi lầm, làm cho tâm trong sạch, bảo vệ tăng đoàn trước những nghiệp chướng, biết chờ đợi đủ nhân duyên, đúng thời kỳ mới có được thành tựu. Bởi vậy, các vị tăng ni cao tăng, thạc đức thì mặc đại y đến 25 điều vì các vị đã tích lũy được nhiều công đức còn những vị mới thụ giới thì chỉ mặc đại y 9 điều thôi. Nhìn vào đại y mặc trong những lúc hành lễ cũng có thể nhận biết được phẩm trật thứ lớp trong tăng đoàn.

Tăng đoàn mang trên mình bộ y cà sa như một sự nhắc nhở phải luôn nhớ đến công ơn sâu dày của đàn tín. Các nhà tu hành được thụ thí từ sự cúng dường của phật tử để thanh thản, an tâm lo tu học đó là nhờ công lao khó nhọc biết bao người. Vậy mỗi tỳ kheo phải luôn niệm tưởng và làm sao cho xứng đáng với công ơn đó.

Chiếc y cà sa mang những giá trị tâm linh, là biểu tượng của đạo pháp do đó cũng trở nên nhiệm màu và linh thiêng. Hàng phật tử xuất gia đủ hạnh duyên được khoác lên mình chiếc y cà sa sẽ có thêm sức mạnh để ngăn ngừa những tội lỗi, đoạn trừ những phiền não, làm cho những điều xấu không thể xâm nhập vào thân thể, đồng thời chiếc y cà sa đó cũng khiến cho nhà tu hành không bị tham sân si cám dỗ, tác động, làm nảy sinh trong lòng những điều thiện và sự từ bi. Đó cũng chính là những giá trị tinh thần tốt đẹp mà đạo Phật đang vun bồi và hướng tới.

Trong Phật giáo, chiếc y cà sa còn mang một giá trị truyền thống hết sức ý nghĩa, đó là truyền thống trao truyền y bát, tức y cà sa và bình bát đựng phẩm vật. Người được thụ nhận y bát sẽ là người kế tục sự nghiệp lãnh đạo tăng đoàn của đức Phật. Truyền thống này xuất phát và được phổ biến trong Phật giáo Thiền tông. Sách Liên đăng hội yếu[viii] có thuật lại tích này như sau: Trong một cuộc hội ở trên núi Linh Thứu[ix], Đức Thế tôn giơ cành hoa ra trước mặt đại chúng mà không nói lời nào. Mọi người đều im lặng không hiểu gì, chỉ có Ngài Ma-ha-ca-diếp[x] (MahàKac’yapa) là mỉm cười. Đức Thế tôn liền nói: “Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn[xi] nay trao lại cho Ma-ha-ca-diếp”. Sau đó Phật đã trao truyền lại y bát cho ngài Ma-ha-Ca-diếp.

Truyền thuyết này gọi là Niêm hoa vi tiếu (Cầm hoa mỉm cười), nêu lên khái niệm về sự tinh tế và cao siêu của sự giác ngộ không thể trình bày hay diễn đạt bằng lời nói được. Yên lặng tượng trưng cho sự quán nhận trực tiếp, vượt lên trên ngôn từ và sự hiểu biết quy ước của chúng ta. Đây cũng là một đặc thù của thiền tông, vì thế ngài Ma-ha-ca-diếp được xem là tổ thứ nhất của Thiền tông trên đất Ấn Độ. Ngài Ma-ha-ca-diếp sau khi nhận y bát của Đức Phật đã lãnh đạo tăng đoàn khi đức Phật nhập diệt.

Ngài Ma-ha-Ca-diếp về sau lại trao y bát của mình cho ngài A-nan-đà. Tục lệ truyền thụ này kéo dài ở Ấn Độ cho đến tổ thứ 28 là Ngài Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma, 470 - 543), tức gần một ngàn năm sau khi Phật tịch diệt. Khi ngài Bồ-đề-đạt-ma sang truyền đạo ở Trung Quốc, ngài trở thành vị tổ thứ nhất của Thiền tông trên phần đất này. Tục lệ truyền y bát tiếp tục trên đất nước Trung Hoa cho đến tổ thứ sáu là ngài Huệ Năng (638-713), tức được thêm khoảng hai trăm năm nữa. Tổ của ngài Huệ Năng là ngài Hoằng Nhẫn (601-674) trao chiếc áo cà sa tượng trưng sự lãnh đạo tông phái cho ngài Huệ Năng, vì Huệ Năng là người thấu hiểu sâu xa hơn hết về thiền học trong số các đệ tử của tông phái. Ngài Huệ Năng kính cẩn tiếp nhận chiếc áo cà sa cao quý ấy và đồng thời cũng hiểu rằng chiếc áo tượng trưng cho lãnh đạo và uy quyền này rồi sẽ gây ra sự ganh tỵ và tranh chấp trong tăng đoàn. Ngài Hoằng Nhẫn cũng ý thức được điều ấy nên khi trao chiếc áo cho ngài Huệ Năng đã khuyên Huệ Năng bỏ trốn về phương Nam và từ đó về sau không truyền thụ y bát nữa.

Truyền thuyết trên đây có thể mang nhiều yếu tố hư cấu nhưng điều đó đã chứng tỏ sự quan trọng của chiếc y cà sa trong Phật giáo. Người được thụ nhận y cà sa và bình bát tức là đã được thụ nhận, lĩnh hội tâm pháp và sự màu nhiệm của đạo pháp để kế tục sự nghiệp của tăng đoàn. Và khi đó, y bát cũng không còn chỉ là vật dụng thông thường mà đã trở thành những giá trị tinh thần tối cao và linh thiêng của Phật giáo.

Chiếc áo cà-sa qua thời gian, không gian đã có những thay đổi để phù hợp với điều kiện môi trường khí hậu, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi vùng đất nhưng những biến đổi đó không làm mất đi những giá trị biểu trưng, những hình tượng tiêu biểu của đạo Phật. Chiếc áo cà sa vẫn luôn luôn giữ được truyền thống và phong cách hàng ngàn năm của Phật giáo, từ những tục lệ xa xưa của Phật giáo Nam tông cho đến những cải cách về hình thức của Phật giáo Bắc tông. Tất cả đều không đi ra ngoài đạo pháp và hơn thế càng làm cho hình ảnh Phật giáo trở nên thân thuộc, gần gũi, gắn bó mà vẫn trang trọng, tôn kính và thiêng liêng.

bài sưu tầm
sắp tới sẽ nói ý nghĩa thờ phượng
__________________

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 30/06/12 15:43 

Bước chân người chứng đạo .
Đã gọi là người được chứng là người trãi nghiệm tất cả những pháp của thế gian ,là người nhìn thấy thật tướng pháp đã có cách nhìn bằng trí tuệ ,ánh mắt của người có trí tuệ rất thoải mái thanh thản không hề ẩn chứa những suy tư .
Ánh mắt đưa đến đâu đều là hàm chứa lòng từ bi hỷ xã ,khi đã chứng đạo thấy biết vạn pháp rồi ,thấy thật tướng rồi thì khi bước tới người chứng đạo biết rõ ràng bước tới có lợi ích gì ,hay thụt lùi có lợi ích gì .
Trong bước tới hay thụt lùi đều có hai chữ từ bi ,người chứng đạo hoàng toàn không nói gì cả ,không thí pháp một cách lung tung ,biết rõ ràng người đứng trước mặt đang cầu pháp hay không mong cầu pháp .
Người chứng đạo là người đã ra trường rồi không còn nói pháp ,không còn so sánh này nọ nữa ,không còn lăng xăng chê khen gì ,nghĩa là không còn chạy theo cái TÂM VỌNG ĐỘNG .
Mỗi bước chân luôn luôn thong thả không vội vàng ,mọi cử chỉ lời nói luôn khoang dung ,nụ cười hành động luôn hàm chứa bởi lòng từ bi .
Khi mình còn tu tập thì còn nhiều pháp để hành trì ngược lại người chứng đạo là sàng lọc tất cả tinh túy chỉ thấy nguyên chất thật tướng của TÂM trong sáng không tạp nhiễm .
Muốn nhìn ra một người chứng đạo phải có quá trình tiếp xúc gần gũi ,và theo sát tu tập mình sẽ thấy sự sinh hoạt từng ngày của người đó trong cuộc sống ,vì những vị chứng đạo chỉ hành hai chữ từ bi có trí tuệ mà thôi

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Ýnghĩa pháp bảo của lễ nghi
Đã gửi: Thứ 7 30/06/12 12:37 

BÀI DO CƯ SĨ DIỆU ĐỊNH hạ bút

Nhang vừa đốt ,mùi thơm của hương trầm nhang bay là đã nghe lòng thanh thản ,những ngày rằm ,các chùa và nơi thờ cúng luôn tỏa hương suốt ngày .
Những buổi tụng công phu ,hoặc đám ma ,chay đàn ,những ngày tết …v..v…không hề vắng mặt những nén hương lòng ,hương khói nhang là liên kết giữa con người và những đấng vô hình .
Những lời khấn mong cầu theo hương khói bay tỏa khắp mười phương ,trong không gian ,ai cũng muốn sự mong cầu ,hay lời khấn nguyện sẽ được bề trên hoặc đấng vô hình nghe và chấp nhận với tấm lòng thanh cao tinh kiết ,nơi nào có hương nhang nơi đó đang dậy lên sự linh thiêng .
Ngoài ra nhang còn có một ý nghĩa trong đạo lý LÀM NGƯỜI mà không ai biết ,khi nhang còn cháy là hơi nóng trong con người vẫn còn ,ngọn lửa đó cháy bốc khói đó là sự hao mòn theo năm tháng ,theo thời gian ,sự bắt đầu đốt là sanh ra sự sống ,và theo thời gian con người cũng tàn lụi dần ,khi nén hương tàn cũng là chấm dứt sự sống ,một nén nhang là giới hạn của sự sống của con người ,một khi đốm nhang tắt giống như hơi khói không còn hơi thở .
Xác thân tứ đại của con người tan rã những tro tàn nhang ,nhìn vào lư hương mình thấy gì toàn là tro đó là xác nhang để lại ,tăm nhang chín là TÂM ,.
Tâm con người vững chắc hay mềm yếu ,cứng cỏi hay gẩy đều nằm trong ý nghĩa của tăm nhang .chỉ còn TÂM làm hành trang cho mình trong lúc lâm chung mà thôi .
Vì vậy trong hương khói của vô hình là những tư tưởng ,những ý nghĩa ,của con người lan tỏa ,giả dối ,thành thực ,tham cầu ,ảo vọng …đều từ TÂM khấn theo làn gió bay tỏa khắp trần gian .
Khi mình cầm nén nhang với tất lòng thành đừng cắm nhang như cho là hình thức ,trong ý nghĩa thắp nhang nói lên tất cả tính cách ,đạo hạnh của một con người ,một đạo hạnh của bậc chân tu
Nhang là làm từ hương liệu bột trầm hương từ thân cây có xạ hương xay trộn nhào với keo bột ,rồi xe từng cọng nhang ,phơi khô đốt ,từ ngày xưa nghi lễ PHẬT pháp đàn đã dùng hương thơm để xông .
Ý NGHĨA đốt nhang .
Một PHẬT tử hay một người thắp nhang chỉ cần đốt nhang và lạy ,mình nhìn là biết người đó có thành kính hay không .hoặc cách tu tin tấn hay không .
Thói quen có người cầm cả hai tay cung kỉnh dâng hương ,có người chấp tay kẹp hương vào giữa ,trước bàn PHẬT hay TAM BẢO ,mình quỳ và dâng hương ,khi hai tay dâng hương là mọi ý khấn nguyện đã đặt mọi niềm tin và nén hương lòng ,người tại gia những ngày thường chỉ nên thắp 1 nén hương (1 cây nhang)nghĩa là nhất TÂM chí nguyện .
Người thờ TAM BẢO thắp 3 nén hương(3 cây nhang) nghĩa là chí nguyện TAM BẢO CÚNG NGOÀI TRỜI TỪ 5-đến 7 NÉN,nghĩa là tỏa rộng khắp bốn phương 8 hướng ,vì hương nhang có ý nghĩa sâu rộng của sự tu nên người cầm nhang thắp lên rất là quan trọng không phải là chuyện đùa trong việc tu của mình
Tiếp theo sẽ là bài Ý NGHĨA gõ chuông
Chuông có các loại chuông ,1=chuông dành cho người tu tại gia ,chuông lớn dành cho TAM BẢO ,ĐÀN TRÀNG ,tiểu hồng chung ,đại hồng chug
Bài kệ Chuông Nguyên Hán bản:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác. (0).
Văn chung thinh phiền não khinh
Trí tuệ trưởng Bồ Đề sanh,
Ly Địa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật độ chúng sanh,. (0).
Aùn Gìøa Ra Đế Gia Tóa Ha (Ta Bà Ha). 3L (0).

Sơ khấu :
Hồng chung sơ khấu, Bảo kệ cao âm, Thượng triệt thiên đường,
Hạ thông địa phủ. (0). *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu Khổ Bổn Tôn, Cứu Bạt Minh Đồ,Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

Nhị khấu :
Hồng chung nhị khấu : ….(giống như Sơ khấu (0).
Hồng chung Tam khấu :.… (giống như Sơ khấu ….(0).

Ngưỡng nguyện :
Thượng chúc Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển, Phong điều võ thuận, Quốc thới dân an, Xứ xứ hưởng thái bình chi lạc.(0),
-Phổ nguyện :
Tam giới tứ sanh chi nội, các miễn luân hồi, Cửu U thập loại chi trung tất ly khổ hãi. (0). Ngũ phong thập võ, miễn tao cơ cẩn chi niên, Nam mẫu đông giao, cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt, Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh, trận bại thương vong, cu sanh Tịnh Độ. (0). Phi cầm tẩu thú, La võng bất phùng, Lãng tử cô thương, tảo hoàn hương tĩnh. (0). Vô biên thế giới, địa cửu thiên trường, viễn cận đàn na, tăng diên phước thọ.(0). Sơn môn trấn tịnh, Phật Pháp thường hưng, Thộ địa long thần, an tăng hộ pháp. (0). Phụ mẫu Sư trưởng, lục thân quyến thuộc, lịch đại tiên vong, Đồng đăng bỉ ngạn.(0).

*Nam MôThanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. (0).
*Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. (0)
*Nam Mô Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. (0)
*Nam Mô Đương Lại Hạ sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật. (0)
*Nam Mô Cực Lạc Thế Giới Từ Phụ Tiếp Dẫn A Di Đà Phật. (0)
*Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thế Chư Phật. (0).
*Nam Mô Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đa La Ni. (0)
*Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ma Ha Tát (0).
*Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Từ Hàn Cứu Khổ Đai Bi Linh Cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát Ma Ha Tát.(0)
*Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. (0)
*Nam Mô Già Lam Thánh Chúng, Thiên Long Bát Bộ Nhứt Thiết Chư Vị Thiện Thần. (0)

Kệ:
Thập phương Tam Thế Thất Như Lai
Bát thập Bát Phật Tọa Bảo Đài
Lục đạo chúng sanh mông giải khổ
Cửu U thập loại thoát trần ai. (0).
*Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. 3L (0).

Thán :
Chung thinh cửu thập hựu lôi chùy
Tịnh diện tăng già đẳng đẳng tri
Tham phỏng tứ thời tuân khổ chế
Hạ đơn lưỡng bộ các oai nghi. (0).

(Đến đây hoàn chung, để tụng kinh : Tịnh-độ 8.00 tối./ Lăng nghiêm 5.00 sáng)

Kệ hoàn chung :
Bát bát chung thinh hướng Phật tiền
Thượng thông hạ triệt lạc vô biên
Lục đạo chúng sanh mông thoát khổ
Cửu u thập loại xuất khanh nhiên.
*Nam Mô Đăng Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (0000).
Chuông dùng để cảnh tỉnh TÂM con người dẫu cho người đang say mê với cảnh trần ,đảo điên bởi mọi danh vọng ,con người vẫn sinh hoạt với cái thân tứ đại ,vẫn vui đùa ,vẫn sống trong cảnh hồng trần nhưng TÂM con người nào ai biết mình đang trong ảo ,trong mê những cái hiện hữu đó rồi lại mất đi một cách vô thường .
Trong biển khổ trầm luân ,người thì giàu sang kẻ thì nghèo đói ,người thì chết lang thang ,người thì trôi sông lạc chợ ,giàu cũng khổ ,nghèo cũng khổ ,cái khổ của sanh già lão bệnh tử ,khổ vì 6 nẻo luân hồi ,thất tình lục dục .Tiếng chuông trổi là đánh thức lương TÂM ,đánh thức những ai còn mê .
Chuông gõ gọi người trên dương thế lẫn hồn trong địa ngục ,khi cúng mình thường gõ ba tiếng chuông ,hoặc ba hồi chuông cảnh tỉnh ,để đánh thức những chư vị gọi là báo động ,người có nhiều TÂM SỰ chỉ ngồi nghe tiếng chuông hồng chung thong thả nhã nhặt tự nhiên sẽ thấy lòng sực tỉnh như một giấc mơ qua ,mọi hận thù ân oán ,mọi phiền não tan biến theo tiếng chuông chùa .
Chuông phải được ngân ,càng xa càng tốt ,tiếng vọng của chuông làm tan biến mọi mệt mỏi tinh thần những con người đang lăn lộn giữa dòng đời .
Hãy thức tỉnh những ai còn tham,sân,si mê muội và lắng nghe tiếng chuông cảnh tỉnh đang vang lên từng hồi trong trí tuệ ,trong TÂM của con người
Sau là ý nghĩa tiếng mõ khi tụng kinh
Ý nghĩa tiếng mỏ .
Mỗi khi đi ngoài đường hay đi ngang nơi nào đó, xa xa chợt vang lên tiếng cốc …cốc….cốc hòa cùng tiếng tụng kinh nhã nhặt ,tôi không khỏi chạnh lòng ,sao mà êm ả thanh cao tinh kiết .
Những giây phút đó tôi thấy không có ô nhiễm của bụi trần ,không có sự sầu đau ,không có phiền não ,và nơi đó biết bao những tấm lòng từ bi và hỷ xã .
Người đọc kinh trước TAM BẢO ,nhất là người dẫn chúng phải có mỏ ,mỗi một câu kinh là một tiếng mỏ cốc cốc đều ,người đi theo tụng cũng phải lắng nghe tiếng mỏ để đọc ,nếu như không có mỏ thì người đọc không đều .
Người đọc sau phải biết nối kinh không cho giáng đoạn ,người này tiếp hơi cho người kia qua tiếng mỏ nhịp ,giống như nhịp đếm bước vậy 1,2….1,2,,…1,1…2,2….
Cách gỏ mỏ tùy theo kinh sám hay kinh văn ,vô kinh nhịp 1=1 tiếng chuông một tiếng mỏ,nhịp 2=1 tiếng chuông hai tiếng mỏ ,nhipj3= 1 chuông một tiếng mỏ ,nếu đi nhịp mỏ bát nhã phải gõ ba tràng hồi nhịp mới vào khai kinh .
Tiếng chuông và tiếng mỏ biết gỏ đúng nhịp thì người đọc không hề biết mệt mỏi và cùng nhau tụng hết kinh ,quả là rất lợi ích cho việc thanh tịnh định TÂM .
Người ngoài không biết cho đây chỉ là phong tục hay tục lệ nghi thức mà thôi nhưng đây lại là một phương tiện rất cao trong tịnh TÂM .
Ngày xưa người muốn định tâm cao thường nhịp nhẹ vào mặt bàn hay nhịp nhẹ vào nơi nào phát ra âm thanh nhỏ ,đó chỉ là bản năng hay thói quen khi cần suy nghỉ .
Mỏ cũng vậy gỏ vào đó là cộc mốc định TÂM cho mọi người nghe mà không ngủ gục ,không bị mê khi tụng kinh quả là có ý nghĩa đúng ko ?

Tiếp theo cô sẽ nói ý nghĩa của lễ lạy
Ngoài những pháp bảo có ý nghĩa như trên chuyện chấp tay hành lễ là nhìn ra nhiều phong cách cửa người lễ lạy ,mỗi người đều thể hiện rất nhiều ,nhìn vô người có tu và nhận ra tâm tư của người lễ lạy có một số bài nói về lễ lạy mình nên tham khảo .
ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA SỰ LỄ LẠY
0 Comments 23 March 2012

ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA SỰ LỄ LẠY
Lạt Ma Gendyn Rinpoche
Liên Hoa Việt dịch
* * *
Tại sao chúng ta Lễ lạy?
1. Sự Tịnh hóa tánh Kiêu mạn
Trước tiên, chúng ta nên biết tại sao ta lễ lạy. Ta không lễ lạy để được người khác yêu quý. Ta không lễ lạy vì Đức Phật. Những ý niệm như thế hoàn toàn sai lầm. Đức Phật không phải là một thần linh của thế giới này. Chúng ta lễ lạy để tịnh hóa mọi tình huống trong quá khứ khi ta không kính trọng người khác, bận tâm với những thỏa mãn riêng tư và bản thân ta làm nhiều hành vi bất thiện. Sự lễ lạy giúp cho ta nhận thức rằng có điều gì đó còn có ý nghĩa hơn bản thân ta.
Theo phương cách này chúng ta tịnh hóa tánh kiêu mạn mà ta từng tích tập trong vô lượng kiếp khi suy nghĩ: “Ta đúng,” “Ta tốt hơn những người khác,” hay “Ta là người quan trọng nhất.” Trải qua vô lượng kiếp chúng ta đã phát triển sự kiêu mạn là nguyên nhân của những hành động của ta và đã tích tập nghiệp là một nguồn mạch của những khổ đau và những vấn đề của ta. Mục đích của sự lễ lạy là để tịnh hóa nghiệp này và chuyển hóa tâm ta. Sự lễ lạy giúp ta nương tựa vào điều gì đó có ý nghĩa hơn sự kiêu mạn và chấp ngã của ta. Theo cách này, nhờ sự tràn trề lòng xác tín và sùng mộ, chúng ta thoát khỏi mọi sự ta từng tích tập do tánh kiêu mạn.
2. Sự Tịnh hóa Thân, Ngữ, và Tâm
Khi chúng ta lễ lạy ta tác động lên bình diện thân, ngữ, và tâm. Kết quả của việc thực hiện những lễ lạy là một sự tịnh hóa hết sức mạnh mẽ và triệt để. Sự thực hành này làm tan biến mọi điều bất tịnh, bất luận chúng thuộc loại nào, bởi chúng hoàn toàn được tích tập qua thân, khẩu, và tâm của chúng ta. Sự lễ lạy tịnh hóa tất cả ba bình diện. Qua phương diện vật lý (thân) của việc lễ lạy chúng ta tịnh hóa thân thể ta. Ta cúng dường thân ta cho Tam Bảo và tất cả chúng sinh, ước mong tất cả những nguyện ước của họ được hoàn thành.
Nhờ việc lập lại thần chú quy y và ý nghĩa chúng ta gán cho nó, chúng ta tịnh hóa ngữ của ta. Nhờ sự xác tín nơi Tam Bảo ta phát triển thái độ giác ngộ và lòng sùng mộ. Bởi chúng ta tỉnh giác về những phẩm tính toàn hảo của sự quy y (nương tựa) và cúng dường mọi sự cho nó, những ngăn che trong tâm ta biến mất. Khi thân, ngữ, và tâm ta được tịnh hóa ta nhận thức rằng điều mà lúc đầu ta cho là thân ta thì thực sự là một hiển lộ của sự Giác ngộ, là lòng bi mẫn tích cực. Điều mà lúc đầu ta nghĩ là ngữ của ta thì thực sự là sự biểu lộ của sự Giác ngộ trên bình diện của sự hỉ lạc; tâm ta là bình diện chân lý của sự Giác ngộ.
Chúng ta có thể nhận ra thực tại giác ngộ của thân, ngữ, và tâm ta – sự tràn đầy chân lý trí tuệ của chúng mà lúc ban đầu ta không ý thức được. Chúng ta nhận thức rằng thực hành này có thể dẫn dắt ta tới mục tiêu của ta là sự Giác ngộ, bởi ba bình diện biểu lộ trạng thái của một vị Phật xuất hiện tức thì sau khi ba bình diện của sự hiện hữu của ta – thân, ngữ, và tâm – được tịnh hóa. Chúng ta không phải kiếm tìm sự Giác ngộ ở nơi nào khác. Chúng ta không phải săn đuổi bất kỳ sự chứng ngộ viên mãn nào. Ba bình diện của sự Giác ngộ là những phẩm tính bẩm sinh chân thực của thân, ngữ, và tâm của chính ta.
Trước đây ta đã không nhận ra điều đó. Sự lễ lạy giúp chúng ta khám phá ra nó. 3. Những Lợi ích Vật lý của việc Lễ lạy Việc lễ lạy ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự quân bình và hài hòa trong thân thể ta. Những sự tắc nghẽn trong các kinh mạch năng lực của thân thể từ từ tan biến. Điều này giúp cho ta tránh được các bệnh tật, sự thiếu hụt năng lực, và những vấn đề khác. Tâm ta trở nên trong trẻo hơn, khả năng hiểu biết của ta tăng trưởng. Trạng thái của Tâm trong khi Lễ lạy Chúng ta nên lễ lạy với sự tràn trề lòng xác tín, hoan hỉ và động lực để làm lợi lạc cho người khác.
1. Sự xác tín Chúng ta nên có sự xác tín nơi những phẩm tính toàn hảo của Tam Bảo và tin chắc rằng sự ban phước của Tam Bảo có thể giải trừ những ngăn che của tâm ta. Sự ban phước có thể xuất hiện và sự tịnh hóa có hiệu quả khi lòng xác tín của ta nơi thân, ngữ, và tâm gặp gỡ những phẩm tính chuyển hóa của thân giác ngộ, ngữ giác ngộ và tâm giác ngộ – những nguồn mạch của sự quy y. Nếu chúng ta không có sự xác tín và không thể mở lòng ra đối với Tam Bảo thì những sự lễ lạy sẽ chỉ là một trò phô diễn.
2. Động lực làm Lợi lạc Người khác Khi chúng ta lễ lạy ta nên thấu hiểu rằng những thiện hạnh là suối nguồn hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Lễ lạy là một điển hình tốt đẹp của sự thật này. Khi ta thực hành với thân, ngữ và tâm ta, ta cúng dường năng lực của ta cho người khác khi ước muốn nó mang lại cho họ hạnh phúc. Ta nên hoan hỉ về sự thật này và thực hành lễ lạy với sự hỉ lạc.
Ba ni cô trên Quốc lộ Thanh Hải-Tây Tạng. Các cô đã lạy 600km và còn lạy150 km nữa thì tới Thánh ĐịaLhasa (Tây Tạng)
Thực hành Đúng đắn
1. Quán tưởng Cây Quy y
Ta quán tưởng toàn thể cây quy y trong không gian trước mặt chúng ta. Trước tiên ta quán tưởng Đức Dorje Chang (Kim Cương Trì) – vị Lạt Ma tượng trưng cho mọi suối nguồn của sự quy y.
Ta quán tưởng Lạt Ma là trung tâm của cây quy y. Ta nên hoàn toàn tỉnh giác rằng Dorje Chang là vị Thầy của ta và Ngài là tâm của Lạt Ma của ta. Ta nghĩ tưởng về Dorje Chang để quả quyết rằng sự hiển lộ của bản tánh của tâm không bị ô nhiễm bởi những tư tưởng quen thuộc của ta. Để giúp ta duy trì cái thấy thanh tịnh, cái thấy của trí tuệ, chúng ta quán tưởng thân tướng thanh tịnh toàn hảo này.
Cùng lúc đó ta duy trì sự tỉnh giác rằng Dorje Chang là tâm của Lạt Ma của ta. Mọi sự xuất hiện trong không gian trước mặt ta thì giống như một cầu vồng hay một sự phản chiếu của một tấm gương; nó không phải là một sự vật. Nếu ta gặp khó khăn trong việc quán tưởng toàn thể cây quy y thì ta nên có sự xác tín rằng tất cả các đối tượng quy y thực sự ở trước mặt ta cho dù ta không thể lưu giữ các đối tượng ấy trong tâm ta.
2. Sự Tỉnh giác về Bản thân ta và Những Người khác
Chúng ta không đơn độc trong khi thực hành. Ta được vây quanh bởi toàn thể chúng sinh đầy khắp toàn thể vũ trụ. Ta quán tưởng cha ta ở bên phải và mẹ ta ở bên trái ta. Khi ta đứng giữa cha mẹ ta trong đời này ta nhận thức rằng mỗi một và mọi chúng sinh không loại trừ ai từng là cha mẹ của ta trong đời trước nào đó. Điều này giúp ta nhớ lại thiện tâm của tất cả cha mẹ của ta, tất cả chúng sinh, là những người đã giúp đỡ ta suốt trong vô lượng kiếp. Ta quán tưởng những người ta coi là những kẻ thù của ta ở trước mặt ta, giữa cây quy y và chúng ta.
Ta nghĩ về những người gây ra cho ta những vấn đề và làm trở ngại việc thực hiện những chương trình của ta. Tất cả những người này rất quan trọng bởi họ giúp ta phát triển những phẩm tính như sự nhẫn nhục và lòng bi mẫn. Chúng ta thường muốn tránh những người như thế. Ta cố giữ một khoảng cách với họ. Ta không muốn nghĩ về họ. Việc đặt họ ở trước mặt ta giúp cho ta không quên họ.
Việc đối xử với những kẻ thù theo cách như thế bảo vệ cho ta không bất kính đối với họ. Chúng ta tập trung sự chú tâm vào cây quy y. Ta tin tưởng rằng sự quy y có thể giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi đau khổ của sinh tử và có thể che chở ta khỏi bị phiền não mà nỗi khổ này gây ra. Trong một tâm thức như thế, được vây quanh bởi tất cả chúng sinh, chúng ta bắt đầu lập lại thần chú quy y. Mọi sự quanh ta bắt đầu rung động. Ta kinh nghiệm ánh sáng mạnh mẽ phát ra từ cây quy y. Ánh sáng chiếu sáng chúng ta do bởi lòng sùng mộ của riêng ta. Điều này làm tâm thức chúng ta rộng mở hơn nữa. Sau đó ta bắt đầu lễ lạy. Chúng ta là những Đạo sư của buổi lễ và hướng dẫn toàn bộ sự thực hành.
Việc lễ lạy của ta lập tức gây cảm hứng khiến tất cả chúng sinh bắt đầu thực hành tương tự. Ta nghe tất cả chúng sinh lập lại thần chú và thực hành lễ lạy. Những sự rung động này đầy ngập toàn thể vũ trụ. Việc duy trì một thị kiến như thế thay vì chỉ tập trung vào bản thân ta mở rộng hoạt động của ta. Ở một mặt nó mang lại cho ta sức mạnh, ở mặt khác nó cho ta động lực để thực hành. Tất cả chúng sinh cùng lễ lạy với chúng ta mang lại cho ta sự khích lệ. Khi kinh nghiệm lượng năng lực khổng lồ từ tất cả chúng sinh đang lễ lạy, chúng ta cảm thấy tin tưởng và sùng mộ Tam Bảo hơn nữa. Cảm giác “cưỡi ngựa cùng đám đông” giúp chúng ta nhanh chóng hoàn thành việc lễ lạy và trải nghiệm hạnh phúc lớn lao trong thời gian thực hành.
3. Ý nghĩa Tượng trưng của Mỗi Yếu tố trong Hành vi Lễ lạy
Để mang lại cho việc thực hành của ta một tầm kích tối thượng chúng ta nên chú ý tới ý nghĩa tượng trưng của một lễ lạy. Khi đôi bàn tay chắp lại của ta chạm vào trán, ta khẩn cầu các đối tượng quy y ban phước của thân các ngài. Đồng thời ta quán tưởng rằng sự ban phước của thân giác ngộ của các ngài chiếu tỏa vào ta, xuyên qua thân ta và làm tan biến những che chướng của nó. Sau đó đôi bàn tay chắp lại của ta chạm vào cổ họng.
Chúng ta khẩn cầu sự ban phước của ngữ. Đồng thời ta nghĩ tưởng rằng sự ban phước của ngữ giác ngộ của các ngài phát ra từ những đối tượng quy y và tịnh hóa mọi che chướng mà ta từng tích tập qua ngữ của ta. Trong phương cách như thế ta thoát khỏi những che chướng này. Khi đôi bàn tay ta chạm vào tim ta khẩn cầu các đối tượng quy y ban phước của tâm giác ngộ của các ngài. Nó giúp ta thoát khỏi mọi ngăn che và những tà kiến trong tâm ta.
Ta tin tưởng rằng mọi ước muốn xấu xa ta chất đầy tâm thức ta từ vô thủy hoàn toàn được tịnh hóa. Ta nên nghĩ rằng ta đang nhận sự ban phước trọn vẹn của thân, ngữ, và tâm giác ngộ từ Tam Bảo. Nhờ năng lực của sự ban phước này, mọi ngăn che, nghiệp xấu, và những khuynh hướng tiêu cực trong thân, ngữ, và tâm ta được tịnh hóa. Chúng ta hoàn toàn thanh tịnh và bất khả phân với thân, ngữ, và tâm của Lạt Ma và Tam Bảo. Khi năm điểm (hai đầu gối, hai bàn tay, và trán) của thân ta chạm mặt đất ta nên nhận thức rằng năm cảm xúc phiền não – tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị – ra khỏi thân ta và biến mất trong trái đất. Theo phương cách như thế chúng ta kinh nghiệm sự tịnh hóa trọn vẹn.
Hai phương diện của sự lễ lạy, việc làm tan biến những độc chất của tâm và nhận sự ban phước của Tam Bảo, tạo nên sự chuyển hóa tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị thành năm trí tuệ tương ứng. Ta nên xác tín rằng sự chuyển hóa thực sự xảy ra, tin rằng ta có khả năng bẩm sinh, tự nhiên để phát triển những trí tuệ này. Phương diện tượng trưng này của sự lễ lạy sẽ chỉ làm việc nếu ta có sự xác tín. Sự xác tín của ta có thể mang lại cho ta sự tịnh hóa vĩ đại này. Việc thực hành mà không có sự xác tín thì giống như bài tập thể dục nhịp điệu.
4. Sự quan trọng của Lòng Sùng mộ
Càng lễ lạy thì lòng sùng mộ của ta sẽ càng tăng trưởng. Cuối cùng ta sẽ đạt tới chỗ không còn nghĩ rằng thân, ngữ, và tâm ta khác biệt với thân, ngữ, và tâm của Tam Bảo. Những sự lễ lạy mang lại một kết quả kỳ diệu; chúng là suối nguồn của một sự ban phước hết sức mạnh mẽ và một sự tịnh hóa lớn lao. Ta không nên nghĩ rằng việc lễ lạy chỉ bao gồm một hoạt động của thân thể ta. Sự ban phước và tịnh hóa xuất hiện chủ yếu là bởi lòng sùng mộ.
5. Sự Tăng trưởng Sức mạnh của việc Thực hành
Ta thực hành với một tâm thức mở trống. Ta không nên nghĩ rằng ta là người duy nhất lễ lạy. Tất cả chúng sinh đang thực hành lễ lạy cùng chúng ta. Ta không phải giới hạn tư tưởng khi chỉ nghĩ tới bản thân ta. Ta không nên tự khẳng định bằng cách nghĩ: “Tôi đang lễ lạy.” Nếu nghĩ như thế ta tích tập tiềm năng tốt lành tương ứng với hành động đang lễ lạy. Nếu ta nghĩ rằng tất cả chúng sinh đang thực hành lễ lạy cùng ta, tiềm năng tốt lành mà ta tích tập sẽ còn to lớn hơn nữa. Khi đang thực hành lễ lạy ta nên nghĩ rằng một trăm hóa thân của ta đang lễ lạy cùng với ta. Nếu ta có thể quán tưởng thì thực hành của ta sẽ mạnh mẽ hơn. Ta không nên tính thêm các lễ lạy nếu ta quán tưởng có thêm chúng sinh đang lễ lạy cùng ta. Đây chỉ là một trong những phương pháp đặc biệt của Kim Cương thừa trợ giúp thực hành của ta được mạnh mẽ.
6. Sự Nối kết Lễ lạy với việc Làm An định Tâm
Sau một lát thân thể ta sẽ mỏi mệt. Đây là giây phút ích lợi để thực hành an định tâm. Khi thân và tâm mệt mỏi, sự tham luyến tăng trưởng. Nếu ta ngưng lễ lạy một lát thì tâm ta tự nó sẽ an tĩnh một cách tự nhiên mà không cần phải dụng công. Sau một lát thân và tâm ta lại cảm thấy muốn nghỉ ngơi, tâm ta trở nên xao động. Đây là dấu hiệu bắt đầu lại việc lễ lạy.
Khi chúng ta luân phiên thay đổi sự lễ lạy và an định tâm thì ta có thể thực hành không ngừng nghỉ.

Tiếp cận nỗi Khổ đau
Đôi khi ta có thể kinh nghiệm những khó khăn trong việc thực hành lễ lạy. Sự đau đớn và mệt nhọc sẽ xuất hiện trên đường đi của ta. Luôn luôn có một vài mối quan tâm: đau đớn ở đầu gối, khuỷu tay, lưng dưới, mọi nơi. Không có lý do gì phải nhụt chí bởi điều đó hay mất sự xác tín ở việc thực hành.
Ta cũng không nên làm mạnh mẽ thêm cảm xúc bằng cách tự nói: “Tôi đau đớn quá, tôi cảm thấy rất yếu.” Nếu làm thế chúng ta hoàn toàn tự làm ngăn trở mình. Ta mất đi khả năng hành động. Khi sự đau đớn được cho phép “có quyền,” nó có thể trở thành một chướng ngại thực sự trên con đường thực hành xa rộng hơn nữa của ta. Ta nên sử dụng mọi kinh nghiệm khó chịu, dù là thuộc tinh thần hay thể xác, như một phương tiện để giác ngộ. Những kinh nghiệm như thế nên khích lệ chúng ta hướng tới nỗ lực to lớn hơn trên con đường của ta. Mọi sự ta kinh nghiệm phụ thuộc vào trạng thái tâm của ta. Nếu ta muốn kinh nghiệm những sự việc một cách khác biệt thì ta phải thay đổi trạng thái tâm.
Nếu ta sắp xếp để chuyển hóa một cách hiệu quả nỗi đau khổ của ta thành một kinh nghiệm tích cực và lợi lạc thì nỗi khổ sẽ hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết nào. Điều này sẽ cho ta thêm hạnh phúc và hỉ lạc. Việc lễ lạy là một phương cách tích tập tiềm năng thực sự tốt lành. Đó là một phương pháp dễ dàng và hiệu quả để tịnh hóa những hành vi tiêu cực của chúng ta trong quá khứ. Ngược lại, nếu vì đau đớn và mệt nhọc mà chúng ta tiếp tục lễ lạy trong sự chán nản thì sự tịnh hóa đích thực không xảy ra.
Những Kỹ thuật để Làm việc với những kinh nghiệm khó chịu
1. Sự giảm bớt nghiệp
Chúng ta không nên nghĩ rằng đau khổ là một điều hết sức trầm trọng. Ta nên nhớ rằng đau khổ chỉ là nghiệp, nó vô thường như mọi sự khác. Đau khổ có lúc chấm dứt. Khi nghiệp của ta chín mùi ta nên an trụ thư thản và chú ý tới dòng chảy tự nhiên này của những sự việc. Nếu chúng ta sắp xếp để làm đầy thực hành của ta với sự hiểu biết về lẽ vô thường của nghiệp thì tự nó sẽ tan biến. Nghiệp không phải là cái gì chúng ta phải chấp nhận hay từ bỏ. Nó giống như việc ta bắt buộc phải thanh toán hóa đơn là điều tự động xuất hiện. Khi ta đã trang trải những món nợ của ta, nghiệp tự nó biến mất và không có gì phải từ bỏ.
2. Sự Tịnh hóa Nghiệp bằng Sự Khó chịu Thể xác
Sự thực hành Pháp tiệt trừ những ngăn che và ô nhiễm là kết quả của những hành vi trước đây của ta. Ta nên nhận thức sự khó chịu thể xác mà ta kinh nghiệm trong khi thực hành là kết quả của lòng bi mẫn của Tam Bảo. Nỗi đau khổ nhỏ bé tương đối này giải tan nghiệp tương lai khiến nó không chín mùi. Vì lý do này ta nên kinh nghiệm nỗi đau khổ này với sự hỉ lạc và xác tín. Những kinh nghiệm khó chịu như thế cho thấy sự thực hành đang vận hành. Việc sử dụng những phương pháp tịnh hóa có thể dẫn tới nhiều kinh nghiệm khó chịu trên bình diện thân, ngữ và tâm. Đồng thời ta đang thoát khỏi những khó khăn và ngăn che trong tâm thức ta. Khi ta kinh nghiệm sự tịnh hóa như một kết quả của việc thực hành của ta, sự xác tín của ta nơi Tam Bảo tăng trưởng. Ta cảm thấy một sự biết ơn sâu xa bởi những điều bực bội nhỏ bé tương đối này giúp giải thoát ta khỏi những điều kiện mà nếu để chúng chín mùi thì nỗi đau khổ còn to lớn hơn thế.
3. Ý thức về Sự Chấp Ngã nhờ Đau khổ
Ta nên coi mỗi đau khổ là một pháp đối trị cho sự chấp ngã. Việc kinh nghiệm nỗi khổ của riêng ta tự nó là một bằng chứng của thái độ quy ngã của ta đối với mọi hiện tượng. Đồng thời, những tình huống như thế (nơi ta kinh nghiệm đau khổ) mang lại cho ta khả năng thoát khỏi sự chấp ngã. Nếu ta không có ảo tưởng-bản ngã thì ta có thể kinh nghiệm không đau khổ (không trải nghiệm đau khổ.) Ta cũng nên thấu suốt nguyên nhân nỗi khổ của ta: ta kinh nghiệm nó do bởi những hành vi trước đây của ta là là kết quả của sự chấp ngã. Bởi quá chú trọng vào bản thân, ta gieo trồng nhiều chủng tử nghiệp mà giờ đây chín mùi thành sự đau khổ. Ta có thể coi đau khổ như một giáo lý chỉ rõ cho ta kết quả của những hành vi là hậu quả của việc chú trọng vào bản thân. Từ vô thủy sự chấp ngã này đã là nguyên nhân khiến chúng ta bị vướng kẹt trong vòng luân hồi sinh tử.
4. Quan sát Bản ngã của ta Bản ngã muốn được thỏa mãn trong mọi lúc.
Chừng nào mà mọi sự tốt đẹp thì bản ngã của ta hài lòng và cố gắng duy trì trạng thái này. “Bản ngã” của ta bám dính vào sự hài lòng này và tâm ta bị đau khổ với sự ham muốn – tham độc. Khi những hoàn cảnh tốt đẹp ra đi, bản ngã vẫn bám dính vào chúng bởi nó muốn được hài lòng và càng có thêm sự tham luyến và ham muốn xuất hiện trong tâm ta. Nếu xảy ra những tình huống khó chịu thì bản ngã phản ứng bằng sự giận dữ và thù ghét. Nó cố gắng né tránh những tình huống khó chịu ấy và thay thế chúng bằng những kinh nghiệm dễ chịu. Theo cách này tâm ta phiền muộn và không vui. Chúng ta có thể nhận ra tác động liên tiếp của bản ngã trong mọi tình huống. Nó không ngừng phân loại những kinh nghiệm là dễ chịu hay khó chịu. Nếu chúng ta tuân theo bản ngã thì ta tích tập nghiệp mà không sớm thì muộn sẽ chín mùi như những loại đau khổ khác nhau.
5. Những Kinh nghiệm Khó chịu như một sự Kiểm tra tánh Kiên trì của ta
Ta nên nhớ tới hứa nguyện của ta là sử dụng thân, ngữ, và tâm ta để làm lợi lạc người khác. Khi biết rằng ta làm việc vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh ta nên giữ gìn hứa nguyện ấy, điều phục những khó khăn nội tại của ta, và tiếp tục việc thực hành.
Lạt Ma Gendyn Rinpoche
Lễ Phật và cách lạy Phật
02.07.2008 01:30

Với những bận rộn trong cuộc sống, không giây phút nào tâm ta ngừng nghỉ và chính vì thế chúng ta phải cố gằng dừng lại vài phút đồng hồ trong ngày, để bồi dưỡng thân tâm ta và để tỏ lòng tôn kính Đức Phật và nhất là đoàn sinh GĐPT, hằng ngày ta phải Lễ Phật và Lạy Phật.
Sau đây là những cách thức đúng cách, xin click vào bên trong:

Trước khi lạy Phật, thân tâm ta phải trong sạch, nghĩa là chúng ta phải tắm rửa cho sạch sẽ, nếu sáng sớm dậy, chúng ta phải đánh răng, rửa mặt, tay, chân, tóc chải gọn gàng, ăn mặc sạch sẽ, nếu có áo tràng phải mặc vào rồi mới lễ Phật.

Khi lạy Phật, đứng ngay ngắn chỉnh tề trước bàn Phật, hai tay chấp ngay trước ngực, xá 3 xá rồi mới lạy.

Còn nếu ta nguyện hương, đốt 3 cây hương rồi thỉnh 3 tiếng chuông, quỳ xuống lấy hương, hai tay cầm 3 cây hương đưa ngang trán để khấn nguyện, mỗi nguyện một xá, nguyện xong xá 3 xá rồi cắm hương vào lư hương.

Trước khi lạy, chúng ta đứng thẳng người, hai tay chấp ngang ngực, xá 3 xá rồi quỵ hai gối xuống đồng một lượt, sau đó để hai bàn tay xuống, lật hai lòng bàn tay ngửa lên, kéo rời ra một chút cho có khoảng trống, rồi cúi đầu xuống, trán chạm xuống nền nhà chỗ khoảng trống giữa hai bàn tay, gọi là "ngũ thể đầu địa" tức là 2 tay, 2 chân và đầu chạm đất. Hai bàn tay lật ngửa ra cũng như ngày xưa Phật còn tại thế, người ta lễ Phật là cúi người xuống, hai bàn tay nâng bàn chân Phật rồi hôn lên đó. Khi đứng lên, ngẩng đầu và nâng thân mình lên rồi lật úp hai bàn tay lại, dùng hai bàn tay chống xuống sàn nhà để nâng cả thân mình lên cùng lúc, khi đã đứng ngay thẳng rồi thì xá 1 xá, lạy thứ ba xong xá ba xá. Lạy hay xá đều phải làm từ tốn, chậm rãi để tỏ lòng cung kính. Trong khi lạy, tâm chúng ta thành kính tưởng nhớ Đức Phật , đừng nghĩ tưởng chuyện gì khác, đó là tâm ta trong sạch, trong ý nghĩa thân tâm ta trong sạch.

Trong khi lạy Phật có chuông, khi nghe tiéng chuông đánh, chúng ta lạy xuống, khi nghe tiếng chuông dập (dùi chuông đánh vào và giữ lại ở miệng chuông), chúng ta mới cất đầu và đứng lên, nhất là Lễ Phật khi tụng Kinh, chúng ta phải lạy xuống, đứng lên nhịp nhàng theo tiếng chuông, làm như vậy mới được trang nghiêm.

Lễ Phật còn có ý nghĩa chúng ta tôn kính, phục tùng Đức Phật, dẹp bỏ tánh ngã mạn, kiêu căng trong lòng chúng ta, có như vậy chúng ta mới tu học tinh tấn được.


Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát!

cô sẽ nói đến BƯỚC CHÂN CỦA NGƯỜI chứng đạo

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: Tu tập để làm gì?
Đã gửi: Thứ 4 04/07/12 8:33 

TU TRƯỚC KHỔ SAU VUI
HT Thích Thanh Từ

Có nhiều người đi chùa thấy cảnh sinh hoạt cuả Tăng Ni trong chùa, nào thức khuya dậy sớm để tụng kinh ngồi thiền. Sáng ngày phải lao động chấp tác, chiều đến phải học kinh luật. Ăn thì ăn cơm hẩm với tương rau đạm bạc, mặc thì mặc vải thô nhuộm màu hoại sắc. Nhứt là thấy mấy cô trẻ, tuổi mười lăm hai mươi cũng có học hành, gia đình cũng không đói thiếu, thắc mắc tại sao lại giam mình chịu khổ như vậy ? Lại cũng có người thắc mắc : người ta đi tu là vì thất tình thất chí, mấy người này không có những chuyện đó, tại sao cũng đi tu ? Đây là những vấn đề cần phải giải thích, để cho mọi người thấy rõ lợi ích của sự tu hành.

Nếu chúng ta chỉ nhìn qua hình thức bên ngoài thì không thể hiểu giá trị của sự tu. Những cái mà tôi tạm gọi là cái khổ ban đầu của người tu là : Người đời ở tuổi thanh xuân, đầu tóc đen nhánh được xông ướp nước hoa thơm, vắt nơ cài hoa thật đẹp. Khi vào chùa đầu cạo nhẵn bóng, hủy hình chẳng còn gì là xinh đẹp. Mặc thì người đời mặc hàng lụa mịn láng màu sắc sặc sỡ, áo này quần nọ, vô chùa phải mặc phải mặc vải thô nhuộm hoại sắc lem luốc. Còn ăn thì ở đời cao lương mỹ vị, muốn ăn lúc nào thì ăn, vào chùa thì sáng trưa cơm rau, chiều cháo chay lạt qua ngày. Đó là ba cái khổ ban đầu của người tu. Song, còn cái khổ ngặng nề nữa là khi chưa tu, có ai nói làm sai trái thì dám la rầy hay cãi lại. Khi tu rồi dù có bị người lấn hiếp chửi mắng, cũng phải lặng lòng nhẫn chịu. Như vậy người tu chịu nhiều thiệt thòi, vừa thiệt thòi về ăn mặc, vừa thiệt thòi về trang sức, thiệt thòi cả sự nhẫn nhục nữa. Thiệt thòi như thế quả thật là khổ. Tại sao khổ mà người ta lại chấp nhận ? Có phải do mê mờ mù quáng chấp nhận, hay trong sự tu hành có cái gì an lạc cao cả mà họ đã thấy, nên mới dám đánh đổi cái khổ cực để nhận lấy cái an lạc cao siêu?

Sau đây là những cái đánh đổi rất gần mà ai cũng thấy. Các cô ni trẻ nếu không đi tu, ở nhà sẽ có gia đình, có con, mang nặng đẻ đau, làm lụng vất vả nuôi con, con lớn thì có cháu lo cho cháu. Con cháu mà có hiếu còn đỡ, nếu phải con cháu bất hiếu, mất dạy làm nhiều chuyện xằng bậy, di hại cho nó và người xung quanh thì khốn khổ vô cùng. Cả cuộc đời khổ vì con vì cháu cho tới già chết, đó là không khổ vì chồng bất lương, chỉ khổ vì con cháu bất hiếu. Nếu gặp ông chồng thiếu đạo đức rượu chè cờ bạc mèo mỡ, không chịu làm ăn, cảnh nhà nghèo túng, đi thì thôi, về nhà là chửi bới đánh đập vợ con, cảnh nào khổ bằng cảnh này ? Khi mới lập gia đình, ai cũng mơ ước ngày mai mình sẽ được hạnh phúc, nhưng khi đối diện với thực tế thì nếm đủ mùi đắng cay. Khi mới lập gia đình thấy như là hạnh phúc lắm, nhưng về sau khổ này chồng chất lên khổ kia không thể kể xiết. Các thầy tăng trẻ nếu không đi tu ở nhà thì có vợ có con, tay bồng tay dắt, cả đời làm lụng vất vả để nuôi vợ nuôi con. Nếu gặp người vợ đoan chính biết phụ lo cho gia đình thì còn đỡ. Nếu gặp phải người vợ trắc nết, hư hèn chồng đi làm cực nhọc, ở nhà cứ ăn chơi tiêu pha tiền của thỏa thích. Việc nhà không trông nom, con cái không chăm sóc dạy dỗ, mặc cho việc nhà ra sao thì ra, con nên hư thế nào cũng được. Các thầy không tu ở nhà gặp cảnh gia đình vợ con như thế thì khổ hay vui ? Vô cùng khổ sở. Khổ sở dai dẵng suốt cả cuộc đời.

Lại nữa người phát tâm tu theo đạo Phật, thấp nhất là cư sĩ qui y thọ năm giới. Vì có tiếng là Phật tử nên phải giũ tư cách của người tu, ai lấn hiếp chèn ép mình cũng phải rán nhịn chịu. Không nhịn chịu như người xuất gia, chớ cũng phải chịu lép để cho người ta hơn mình. Đó là một cái thua thiệt của người tu. Tuy nhiên, trước bị thua thiệt, sau lại được an vui. Trong năm giới điều mà người Phật tử đã thọ khi qui y. Giới thứ nhâùt là không sát sanh.

Người không biết tu, không giũ giới sát sanh, mỗi khi bị ngưới ta hãm hại, lòng sân giận nổi lên đánh đập hoặc chém giết, hoặc bỏ thuốc độc cho người ta chết để thỏa lòng sân giận. Song, khi biết tu, tuy có nổi nóng nhưng không dám nghĩ tới hâi người. Mình không hại người thì người không hại lại, và cũng không bị tù tội. Nhờ biết tu, trước chịu thua thiệt người, nên tránh được cái khổ sát hại và thân được yên ổn.

Giới thứ hai không trộm cắp. Người chưa biết tu thấy của người để hời hợt dễ lấy, liền khởi lòng tham lấy làm của mình, khi được của tiêu xài hỷ hạ với vợ con không chút lo buồn. Nhưng khi công an phát giác bắt bỏ tù năm năm, mười năm... lúc đó nỗi khổ kéo dài lê thê. Đó là người không tu, sống trước vui sau khổ. Người biết tu thấy của người không tham, thấy của rơi không lượm. Vì nghĩ rằng làm ra của cải phải khó khổ, nhọc nhằn lao thần tổn sức, chớ không phải bổng dưng mà có. Tiền của mình làm ra có khi giữ còn không được huống là tiền của người ! Thế nên không tham lam, sống đời hiền lương. Tự đem công sức lao động tạo cho mình một cuộc sống lương thiện, thấy như bị thiệt thòi, nhưng được bình an, không sợ công an, không ngại người đời nghi mình bất chánh. Đó là trước khổ sau vui của người giũ giới không trộm cắp.

Giới thứ ba không tà dâm. Người có gia đình rồi, tức là có vợ hay có chồng, mà đi ngoại tình với kẻ khác thì gọi là tà dâm. Nếu trong gia đình chồng hay vợ đi ngoại tình với người ngoài, thì gia đình đó có hạnh phúc không ? Ban đầu thả mình chạy theo lạc thú tưởng chừng như vui sướng lắm. Nhưng khi bị vợ hay chồng phát giác thì có sự ghen tức ngăn chặn, rồi sanh ra gây cãi đánh đập nhau,đưa đến ly thân ly dị khiến cho con cái bơ vơ khổ sở. Đó là người không tu, trước thấy như vui nhưng sau lại khổ. Còn người biết tu, sống một vợ một chồng, thấy như ràng buộc, chấp trước, không hào hoa phong nhã. Song, nhờ vợ chồng biết sống chung thỉ với nhau nên bảo vệ được hạnh phúc gia đình, con cái được an vui, êm ấm. Đó là trước khổ sau vui của người giữ giới không tà dâm.


Giới thứ tư là không nói dối. thói thường người không biết tu làm ăn buôn bán, muốn lời nhiều là phải nói dối. Hàng giá 5000 đồng nói 8000 để được lời 3000 đồng. Đó là nói gạt người ta, không lương thiện. Người biết tu chịu thiệt không nói dối, lời ít; hàng 5000 đồng nói 5000 đồng bán ra 5200 lời 200 thôi. Người không tu thấy làm ăn thật thà như thế là thiệt thòi. Nhưng thực tế thì không thiệt thòi mà còn lợi ích. Người bán kông thách nói chắc giá, lần đầu người mua chưa tin, họ đi dọ giá nhiều nơi thấy người này bán không thách, thật thà, họ tin và có cảm tình, từ đó về sau họ sẽ đến mua hàng và giới thiệu nhiều người đến mua. Trước, người bán gạt người mua nói giá cao, người mua chỉ mua vài lần là không mua nữa. Khách hàng thưa dần, bán ế. Nay, người bán chân thật, lời ít nhưng có uy tín, nhiều người mến, đến mua và giới thiệu nhiều người mua, khách hàng càng ngày càng đông. tuy lời ít mà bán được nhiều nên lợi nhuận nhiều và còn được lâu bền nữa. Đó là trước bị thiệt thòi sau được lợi ích của người giữ giới không nói dối.

Giới thứ năm không uống rượu. Người uống rượu khi mới ngồi vào bàn tiệc thì ai cũng vui cười hỷ hạ. Nhưng khi tiệc nửa chừng thì “rượu vào lời ra”, nói bàn chuyện phiếm huyên thuyên. Khi đã ngà say nói nhiều không kiểm soát được lời nói, nên phát ngôn bừa bãi làm mích lòng bạn bè. Bình thường tỉnh táo chỉ mích lòng một, khi ngà say nó tăng lên năm mười, sân giận tăng cường, đá bàn đạp ghế tại buổi tiệc không ai nhường ai. Từ cái vui dẫn đến cái khổ của người không biết tu. Đó là giai đoạn thứ nhất. Qua giai đoạn thứ hai, là đối với những người không có khả năng kềm chế được mình, khi ngồi vào bàn tiệc thì người này mời ép người kia, người uống một ly, mình cũng uống một ly. Cứ đua nhau mời ép uống, một lát sau thì say túy lúy, chân đi
xiên bên này, chân ngã bên kia, về tới nhà nằm dật ra ụa mửa đầy đất, hôi hám cả nhà, lại còn chửi bới vợ con, khổ ơi là khổ ! Tới cái khổ thứ ba : Uống rượu là cái nhân gây ra bệnh hoạn, như chai gan, đau dạ dày là những chứng bệnh kinh niên khó trị, làm cho kinh tế gia đình suy giảm. Lúc đó thân đau bệnh mà lại nghèo túng không tiền thuốc thang thì khổ không ít. Cái khổ thứ tư nữa là uống rượu làm cho trí tuệ mê mờ, nó tác dụng mạnh trên thần kinh khiến cho thần kinh suy yếu thì người thông minh sáng suốt hóa ra đần độn. Quí vị thấy những người sáng say chiều say có mấy ai thông minh sáng suốt ? Tự bản thân đã mê mờ tăm tối, và khi sanh con cái cũng lây đần độn ngu si nữa. Người uống rượu tự mình đã chuốc khổ vào thân, lại còn gây tác hại cho gia đình xã hội không ít. Khi mới uống thì thích khẩu vui miệng, nhưng sau đó thì khổ này chồng lên khổ kia. Đó là không tu, vui trước khổ sau. Còn người đã qui y thọ giới, biết uống rượu gây tác hại cho bản thân, cho gia đình cho xã hội, nên nhịn không uống. Tuy bị bạn bè chê cười là kẻ hèn nhát, bỏn xẻn, thờ bà thờ cô... Song người biết tu cam chịu chê cười không uống, nên
thân không bệnh hoạn, không nghiện ngập, trí tuệ sáng suốt minh mẫn, có tư cách, mọi người nể trọng, biết làm ăn nuôi dưỡng vợ con, biết giáo dục gia đình, đóng góp sự lợi ích cho gia đình cho xã hội không nhỏ. Đó là trước khổ sau vui của người giữ giới không uống rượu.

Người mới biết tu chỉ giữ năm giới là đã bớt được bao nhiêu thứ khổ. Khi mới khép mình vào giới luật thấy như khó khổ, nhưng khi đã quen rồi thì nhận được lợi ích rất lớn. Đó là “Tu trước khổ sau vui” của người cư sĩ.

Sau đây người xuất gia tu trước khổ sau vui. Theo quan niệm người đời thì xuất gia coi như bỏ hết mọi hạnh phúc thế gian, hay bỏ cả cuộc đời để sống một cuộc sống nghèo thiếu cực khổ; về phần thân xác thì ăn uống kham khổ, ngủ nghỉ thiếu thốn. Nhưng tại sao họ lại sẵn sàng hy sinh chấp nhận như thế ? Như tôi đã nói cái nhẹ nhàng gần nhất của người xuất gia là không bị cột trói bởi gia đình, không bị ràng buộc bởi chồng hay vợ, không bị kéo níu bởi con cháu. Sống một cuộc sống trọn vẹn cho mình cho đạo. Nói thế quí vị sẽ nghĩ rằng người xuất gia không có con, nhưng có đệ tử cũng phải bận rộn nhọc nhằn lo cho đệ tử. Chẳng hạn như tôi đệ tử quá đông, đôi khi cũng khổ vì đệ tử vậy ? Làm thầy lo cho đệ tử có khác với cha mẹ lo cho con. Cái khác thứ nhất là thầy bảo đệ tử làm việc, thì đệ tử làm với niệm tu hành, làm vì cầu đạo giải thoát, chớ không phải ích kỷ làm vì danh lợi. Thế nên làm trong hài hòa vui vẻ, không tranh quyền không tranh danh, không tranh lợi, thì đâu có sự cãi rầy hơn thua với nhau. Hơn nữa, người đệ tử khi vào chùa họ đã chấp nhận sống kham khổ, nên làm ít ăn ít, làm nhiều ăn nhiều không đòi hỏi. Còn con của quí vị lớn lên biết chưng dọn hình dáng bên ngoài, không cho nó những món đồ tùy thuộc thì nó xin xỏ đòi hỏi; chẳng hạn như con gái độ 17, 18 tuổi không sắm bông tai, vòng xuyến... thì nó đòi hỏi xin xỏ. Con trai 17, 18 tuổi thì đòi đồng hồ, honda cub... không sắm cho nó là nó buồn có khi giận nữa. Còn các vị đệ tử Phật xuất gia rồi, chấp nhận sống đời đạm bạc nên không đòi hỏi cái gì hết. Như vậy chúng tôi có gì đâu lo nhiều ? Mặc dù chúng tôi phải có chương trình giảng dạy hướng dẫn cho tu hành, lo chỗ ở, chỗ ăn... cho Tăng Ni. Tuy thấy như là bận rộn, nhưng chúng tôi không có lo nhiều. Hơn nữa, người nào chịu sống theo giới pháp của Phật, theo lời dạy của tôi thì người đó được ở trong chùa để tu, người nào không chịu tuân theo, thì ra khỏi chùa đi nơi khác hoặc hoàn tục, tôi không có trách nhiệm với vị đó nữa. Tôi không có từ, mà người đó không chịu tuân theo giới pháp Phật, người đó tự thấy không xứng đáng là đệ tử Phật, thì họ tự xin xuất chúng. Còn con của quí vị lỡ bất hiếu ngỗ nghịch tjì quí vị tính sao đây ? Làm thế nào xử nó ? Đuổi nó, nó không đi, hoặc đi rồi về, lại phá phách lung tung thì quí vị làm sao ? Lỡ có một đứa con bất hiếu ngỗ nghịch, khổ dài dài ! Để thấy rằng người tu tuy có đệ tử nhiều, song không bận rộn khổ sở như người tại gia năm mười đứa con. Đó là nói về hoàn cảnh.

Sau đây là nói đến bản thân của người tu. Nếu còn là người đời, bị người ta nói nặng một câu là trả lời bằng hoặc hơn mới vừa ý. Chớ còn nhịn thua hoặc trả lời nhẹ hơn thì cảm thấy bức rứt khó chịu, ăn không ngon ngủ không yên. Bây giờ là người tu thì tất cả lời nặng nhẹ khen chê đối với mình không thành vấn đề. Người ta khen không giúp cho mình thành Phật, người ta chê không làm cho mình có tội. Cái mà mình cần phải lưu tâm đó là giữ đúng đạo lý tu hành. Có khen cũng tốt, có chê cũng không sao, không để tâm buồn giận. Chẳng hạn đi ra đường mấy đứa trẻ trêu chọc : “Đầu thầy chùa nấu canh chua, ba tháng còn chua”. Hoặc dùng đất đá ném trên thân trên đầu... Người đời chắc chửi hoặc đánh nó. Nhưng với người tu thì im lặng đi, vì thấy chúng nó là kẻ ngu khờ, không biết giá trị của sự tu hành. Mặc tình nó nói gì thì nói, làm gì thì làm, đó là kẻ ngu khờ dại dột đáng thương. Chính những lời nói xúc não đó là cơ hội để mình tỉnh giác, tu, vun bồi thêm công đức lành. Nếu bị nói xúc não liền buồn phiền đó là chưa tu. Thế nên, đối với người tu không sợ những lời nói trêu chọc, cũng không sợ những lời nói oan ức ở bên ngoài, chỉ sợ mình tu mà không khéo phản tỉnh, không hết phiền não, còn nhiều thói hư tật xấu. Đó là cái đáng sợ. Người đời thì sợ dư luận lắm; dư luận mà khen thì vui tươi hớn hở; dư luận mà chê thì buồn rầu không an. Nhưng mà dư luận khen chê có đúng lẽ thật không ? Ví dụ : Người tửu lượng ít khen người tửu lượng nhiều là giỏi, người ghiền rượu chê người không uống rượu là dở. Thậm chí họ còn dùng lời cay độc để khiêu khích như : Hèn nhát, thờ bà, sợ bà, cho nên không dám uống rượu. Họ cho rằng đàn ông mà không uống rượu là đàn bà, rồi gán cho cái tên là Nguyễn thị Đàn Bà... Thật là những lời châm biếm cay độc. Do vậy mà nhiều chú thanh niên giàu tự ái, không làm chủ được mình rồi cũng uống. Thế là đua nhau mà nghiện ngập. Người biết tu có trí tuệ có can đảm, xét thấy uống rượu mặt nào cũng có hại nên không uống. Không uống rượu là người tốt mà dư luận chê xấu, đó là dư luận xấu chớ mình đâu có xấu ! Vậy quí vị hãy sáng suốt nhận định, người không uống rượu là người tốt hay người xấu trong xã hội ? Nếu là người tốt, mà dư luận chê xấu thì mặc dư luận, có quan hệ gì tới mình mà cho là nhục nhã ? Vậy mà người đời đang tốt, khi bị chê xấu liền biến thành xấu, bằng cách tự ái tức giận làm theo cái xấu của người ta. Cho nên xấu cả số đông. Dư luận có khi đúng có khi sai, nên khi nghe chê, mình xét lại, nếu mình có lỗi, lời chê đó đúng, thì mình sửa, nếu không đúng, chỉ cười thôi không bận tâm. Như vậy mới là người tu có trí tuệ có khả năng tự chủ. Nếu để dư luận chi phối, cứ theo cái đà lôi cuốn người này hư kéo người kia hư theo, không ai có sức tự chủ cả.

Người tu là xả bỏ lòng tham lam, tíng nóng giận và tâm si mê, và khi tham lam nóng giận si mê hết thì khổ không còn, hết khổ tức vui. Con người có khổ là do tham, nhìn thấy người vật, nếu vừa lòng thích ý thì muốn chiếm đoạt về mình, muốn mà không được thì buồn khổ. Chẳng hạn người ta có tiền đi xe Honda cub, mình nghèo cứ chạy xe đạp cọc cạch, muốn có chiếc xe cub mà không có tiền mua lòng ray rứt buồn tủi cho số phận, như vậy là khổ. Còn người tu an phận trong nếp sống thanh bần, thấy người đi xe tốt là việc của họ, mình đi xe đạp là hạnh của mình, không khởi tâm so sánh đua đòi, thì tâm bình thản an ổn. Nên người biết tu sống ở cảnh nào cũng vui, cũng an. Còn người không biết tu sống ở cảnh nào cũng khổ, có xe cub chạy rồi, thấy người ta đi xe hơi, thì muốn mình có xe hơi. Có được chiếc xe hơi đời cũ, thấy người chạy xe hơi đời mới êm nhẹ thì muốn mình có xe hơi tân thời êm nhẹ... Cứ như thế mà tham muốn không dừng; càng tham càng khổ, tham nhiều thì khổ nhiều.

Sân cũng vậy, khi tham muốn cao độ mà không được thỏa mãn thì sân giận nổi lên, lòng bực tức, nóng nảy, mắt mặt đỏ hoe, miệng nói lời thô tục hung dữ, tay chân đấm đá, tất cả đều hiện ra tướng xấu. Một ngày 12 giờ đồng hồ, nổi sân một lần, chờ cho lắng dịu ít nhất cũng hết vài giờ, tâm thần mới tỉnh táo an vui trở lại. Như thế đã thiệt thòi quá lắm rồi. Nếu một ngày mà để nổi sân chừng vài ba lần, thì tướng xấu hiện hơn nửa ngày, làm sao an vui ? Khi nổi sân, tướng xấu hiện, lúc đó mình là người hay quỉ quái ? Ngày nào cũng tập thói quỉ quái đó, người ta thương mến thân cận hay ghét bỏ xa lánh mình ? Kẻ mà bị người đời ghét bỏ xa lánh mình ? Kẻ mà bị người đời ghét bỏ xa lánh thì rất khó sống, khổ sở vô cùng. Người biết tu thường xuyên phản tỉnh nội tâm mình, khi đối duyên xúc cảnh thấy tâm ray rức khó chịu, biết sân giận đang hiện khởi, liền biết mình đang sân giận, thì sân giận từ từ lóng lặng, miệng không nói bậy, tay chân không hoạt động phi pháp, thì mình hết phiền não sân giận, người cũng không bị ảnh hưởng xấu do sân giận của mình gây nên, đó là tu.

Si là cái gốc gây nên khổ đau cho con người. Do simê nên không giản trạch được pháp nào là chánh, pháp nào là tà; việc nào là thiện, việc nào là ác; điều nào là phước, điều nào là tội. Vậy nên nói càn làm bậy, gây nhiều tội lỗi mà không biết không hay. khi đã tạo nghiệp ác rồi thì quả khổ ắt sẽ đến, không tránh khỏi. Người tu có tỉnh giác, có sáng suốt biết rõ pháp chánh pháp tà, việc thiện ác tội phước, nên theo pháp chánh bỏ pháp ta, làm việc thiện mà tránh điều ác. Do làm lành nên được an vui. Chẳng những an vui trong đời này mà đời sau cũng được an vui. Trong kinh A Hàm, Phật có dạy : Người không biết tu khi chết khổ cả hai phần, người biết tu chỉ khổ một phần. Tại sao ? Vì người không biết tu khi sắp chết thân thể bại hoại, co giựt đau nhức, khổ về xác thân. Kế đó họ không biết mình chết sẽ ra sao, đi đâu ? Mờ mịt một mình bơ vơ, lại còn thương con thương cháu anh thương em... tình cảm buộc ràng, hơi thở sắp ngừng mà tình thì không dứt, hai cái dằng co làm cho tâm khổ sở. như vậy thân tâm cả hai đều đau khổ. Còn người tu biết khi sắp chết thân này rã rời bại hoại thì nó phải đau đớn, nhưng biết cuộc đời giả tạm, ai tới rồi cũng phải đi, có ai sống mãi đâu ? Lẽ thật của cuộc đời là sanh già bệnh chết không ai cưỡng được. Biết được lẽ thật như vậy thì cái chết đến sẵn sàng đón nhận không sợ. Thứ nữa, người biết tu hằng ngày làm lành, không gây tội lỗi, biết chắc sau khi mình chết sẽ đi tới chỗ lành, nên tâm không lo sợ, được an ổn. Giống như người có chiếc xu cũ hư, trong tủ họ đã có để giành sẵn một số tiền, để mua xe mới thay cho xe cũ. Khi xe cũ không còn xài được, họ liền sắm xe mới đẹp có giá trị hơn, thay cho xe cũ một cách dễ dàng thoải mái, còn người nghèo có chiếc xe cũ hư mà không có tiền để thay xe tốt; bỏ xe cũ thì không thể bỏ, muốn có xe tốt, không biết làm sao mà được, nên lòng lo buồn khổ sở. Như vậy người biết tu hằng ngày làm lành, tự khắc phục thói hư tật xấu của mình, và giúp đỡ mọi người chung quanh, như thế là phước lành đã được tích lũy, biết chắc chỗ mình sẽ đến là tốt thì không có gì lo sợ. Giống như người có sẵn tư lương, đi tới đâu cũng no ấm không đói khổ, thường được an vui. Người biết tu hiện đời ít khổ khi chết cũng không khổ nhiều, qua đời sau lại được an ổn hơn. Nhờ tu mà các vị Thiền sư khi sắp chết, từ giả mọi người, rồi cười ra đi một cách nhẹ nhàng. Còn người đời khi sắp chết thì lo sợ hoảng hốt khóc la kinh hoàng khổ sở vô cùng.

Người biết tu là người tìm an vui hạnh phúc chân thật, đó là người biết lo xa. Thói thường người đời không biết lo xa, hằng ngày không chịu tu nhân lành tích phước đức, mặc tình nghĩ nói làm tội lỗi. Khi gần chết rước Tăng Ni tới đônmg tụng kinh đưa về Cực lạc. Có đưa được không ? Chắc đưa không nổi. Tại sao? Vì việc mình thường làm trở thành thói quen đó là nghiệp. Mà đã là nghiệp thì tự mình chuyển chớ không ai chuyển thế được. Chẳng hạn người tập hút á phiện lâu ngày họ ghiền. Bao nhiêu tiền của trong nhà đều hết sạch, cảnh nhà nghèo khó, tới cơn ghiền không tiền hút, chảy nước dãi ngáp dài ngáp vắn... Người láng giềng thấy thế thương xót muốn giúp cho họ hết ghiền, đến chùa rước Tăng Ni tới tụng kinh cầu nguyện cho người ấy hết ghiền. Tăng Ni có ai dám hứa tụng kinh cho người ấy hết ghiền không ? Chắc chắn là không. Muốn hết ghiền tự người ấy phải cai hút, gan dạ từ bỏ không hút nữa, thì mới hết, chớ người ngoài không làm cho họ hết ghiền được. Cũng vậy, thói quen do làm lành hay làm ác đã thành nghiệp, thì nghiệp lành dẫn người tạo đến cõi lành, nghiệp ác dẫn người tạo đến cõi ác. Lúc đó Tăng Ni không
thể thế hay cầu nguyện cho mình thay đổi được. Tăng Ni tụng kinh cầu nguyện chẳng qua là trợ niệm thêm sức cho đi nhanh vậy thôi. Giống như thuyền xuôi dòng nước, lại có gió xuôi thì thuyền đi mau hơn một chút. Đừng ỷ lại bình thường tôi hay đi chùa, quen biết các thầy các cô nhiều, khi chết mời các thầy các cô đông, tụng kinh cầu nguyện cho tôi sanh về cõi lành. Điều này không bảo đảm, mà phải tự mình tu, làm cho tham sân si càng ngày càng mỏng càng mòn, nghiệp ác không tạo nữa, nghiệp lành siêng năng phát triển. Như thế mới thật là tu, và mới hết khổ trong hiện đời, hết khổ trong mai sau. Nếu không như vậy thì chưa phải tu theo đạo Phật, chỉ là người đi chùa ăn chay mà chưa biết tu.

Quí vị nhớ tu là phải tu cho đúng, chớ đừng qua hình tướng bên ngoài. Có nhiều vị lần chuỗi cốt lần cho nhanh để được nhiều chuỗi đem trình với thầy, thầy khen mình tu giỏi. Khi buông xâu chuỗi xuống thì la rầy chửi rủa con cháu, phải quấy hơn thua với xóm giềng... Tu như thế là tu sai, lần chuỗi niệm Phật là phải thong thả từ từ, miệng niệm tai nghe rõ danh hiệu Phật, một danh hiệu Phật là một hạt chuỗi, nhiếp tâm không cho nghĩ bậy, niệm Phật như thế tâm mới an định. Niệm Phật để tính công trả nợ, thói hư tật xấu không sửa không chừa thì không được lợi ích. Ở chùa thỉnh thoảng cũng có mấy ông đạo tu để trả nợ, tối khuya hai thời công phu, nhất là tụng chú Lăng Nghiêm, gỏ mõ thật nhanh tụng cho mau rồi, thay vì tụng một giờ, tụng rút chừng 45 phút xong, đặng xuống ngủ lại. tu như thế là tu cho ai chớ đâu phải tu cho mình, nếu thật tu cho mình là phải tụng đàng hoàng chậm rãi, đọc đúng lời đúng chữ nương câu kinh để tâm được an định mới được lợi ích. Nếu tụng kinh để trả nợ thì tâm cứ xao xuyến loạn động hoài. Mà bây giờ người ta hay có cái tật tu để trả nợ. Đó là những điều mà tôi nêu để quí vị biết ý nghĩa chân chánh của sự tu hành.

Quí vị nghiệm lại xem có phải tu là trước khổ sau vui không ? Nếu phải, thì hãy cố gắng tu hành, trước tuy có thiệt thòi khó khăn một chút, nhưng sau được an vui, chẳng những an vui trong đời
hiện tại, mà đời sau cũng được an vui nữa. Muốn được lợi ích lớn trước phải hy sinh chấp nhận mọi khó khổ, sau đó mới thành tựu quả tốt, không phải ngẫu nhiên mà được vui. Chẳng hạn muốn mọi người thương mến mình, thì ít ra mình cũng phải vui vẻ lưu tâm giúp đỡ người, chớ gặp người khổ mình làm lơ họ đâu có cảm tình với mình. Thế nên tất cả cái tốt đến với mình là do ban đầu mình chịu hy sinh, chịu thiệt thòi mà có, đừng đòi hỏi tu là phải sung sướng từ trước tới sau. Đa số người tu bây giờ đòi hỏi quá đáng, đi chùa cúng Phật một thẻ nhang, hoặc bó hoa hoặc dĩa trái cây, cầu xin cho gia đình người già được mạnh khỏe, người trẻ thì làm ăn phát đạt, trẻ nhỏ thì thi đâu đậu đó. Quí vị nghĩ đưa ra có một thẻ nhang, một bó hoa, dĩa trái cây mà đòi mấy việc như vậy có tham không ? Đi chùa như thế là để tăng trưởng lòng tham chớ đâu có tu. Phật dạy tu là bớt tham, vậy mà Phật tử đi chùa tham quá chừng, cho nên không hết khổ. Đi Chùa với tâm niệm tham muốn như vậy, nếu không được toại nguyện, cha mẹ đau yếu hoài, làm ăn thất bại, con cái thi rớt thì buồn, nghĩ Phật không thương không giúp, giận không đi chùa nữa. Người tu như thế thật đáng thương, không hiểu Phật pháp như thế nào cả, cứ mù mù mịt mịt làm theo lòng tham muốn của mình, chẳng được lợi ích gì cả. Tu là tự sửa mình, làm cho cạn mỏng tham sân si ở nơi mình thì mới hết khổ. Đó mới là người tu chân chánh thực hành đúng lời Phật dạy.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Tu tập để làm gì?
Đã gửi: Thứ 4 04/07/12 8:05 

(TG&DT) - Thường những gì động là vô thường sinh diệt. Thân động cho nên thân vô thường sanh diệt, tâm động nên tâm vô thường sinh diệt. Chấp thân vô thường sinh diệt là thân mình, chấp tâm vô thường sinh diệt là tâm mình, đó là sai lầm. Nếu buông hai thứ chấp đó, chỉ nhận cái không động, không sinh diệt, không có tướng trạng vô thường, hằng yên tĩnh sáng suốt đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.

Hôm nay, đạo tràng Thái Tuệ về Thiền viện Trúc Lâm cúng dường mùa an cư, quí thầy có ít lời nhắc nhở cho đạo tràng để quí vị tinh tấn tu hành.


Là người Phật tử, quí vị vừa lo sinh sống cho gia đình, vừa lo tu hành, đồng thời giúp đỡ huynh đệ chung quanh cùng biết tu, đó là duyên tốt. Vì vậy tôi sẽ nhắc nhở thêm cho quí Phật tử những điểm trọng yếu trong Phật pháp.


Ðức Phật Thích Ca khi sinh ra đời, một tay chỉ trời một tay chỉ đất, nói câu: "Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là hơn hết." Câu này quý thầy đã giảng rộng rồi, nhưng ở đây tôi nhấn mạnh lại trọng tâm. Người ta cứ nghĩ Phật nói thế là bản ngã hơn hết, nhưng sự thật không phải vậy. Với thâm ý của đạo Phật thì trên trời dưới trời chỉ có ta, tức con người là hơn hết.


Tại sao vậy? Vì trong vũ trụ, trời che đất chở nhưng trời đất vô tri, chỉ con người là có tri giác. Ðất chở đất nuôi chúng ta, nhưng đất có biết làm gì đâu, chỉ là hình tướng che chở giúp cho mình có sự sống. Còn trời là mây, mưa, mặt trời, mặt trăng, giúp cho ta đủ điều kiện sống trên thế gian này. Nên nói trời đất vô tri, chỉ có con người tri giác, như vậy tri giác là trên tất cả. Vì thế con người là trọng tâm của trời đất, chớ không phải thường.


Lâu nay chúng ta ai cũng như ai, hầu hết đều coi thường mình, chỉ kính trời trọng đất. Ðó là lỗi lầm rất to. Sợ trời phạt, mong trời thương, cầu thổ địa ủng hộ cho nhiều... tất cả những việc đó chỉ là phần phụ bên ngoài không đáng kể. Chính yếu là con người. Con người rất quan trọng đối với đạo Phật, nên đức Phật Thích Ca ra đời đã tuyên bố mục tiêu trọng yếu đó. Ngài ra đời là vì đề cao giá trị của con người. Ðó là trọng tâm, khác với các nhà khoa học hay triết học, luôn nghiên cứu tìm tòi bên ngoài, chinh phục vũ trụ mà quên xoay lại con người, chinh phục chính bản thân mình.


Quí Phật tử kiểm nghiệm lại trong đời sống của mình, xét xem chúng ta nhớ mình nhiều hay nhớ bên ngoài nhiều. Sáng thức dậy thì sao? Sửa soạn đi chợ hoặc đi làm công tác, luôn luôn nhớ những việc bên ngoài, chớ không nhớ mình. Lo điều này điều kia, mua sắm đủ thứ. Ngoài chợ có những món hàng mới lạ, nếu trong túi có tiền liền đi mua sắm. Chúng ta ưa thích những gì mới lạ bên ngoài, ít khi nghĩ đến con người mình. Quí vị có khi nào nghĩ mình là cái gì không? Chắc không! Cứ hài lòng với con người như vầy, sự sống như vầy là đủ rồi. Thêm nữa là sự ăn mặc, nhà cửa, xe cộ, lo bấy nhiêu đó mà quên nghĩ mình là cái gì.


Mình là gì không biết mà cái gì cũng lo cho mình. Sắm máy thu thanh, hỏi sắm cho ai, sắm cho mình. Mua chiếc nệm để làm gì? Ðể cho mình nằm. Cái gì cũng mình hết. Nhưng thử hỏi mình là gì thì không biết! Ðó là điểm chính yếu mà tất cả chúng ta quên, chúng ta lơ là.


Ðạo Phật không cho phép người Phật tử như vậy mà chúng ta phải biết mình cho rành rẽ, tường tận. Vật bên ngoài chỉ phụ thuộc, nghĩa là biết được bao nhiêu hay bấy nhiêu, trọng yếu là phải biết mình, vì con người là trọng tâm của vũ trụ. Biết tất cả mà không biết mình thì cái biết đó chưa thật biết. Tất cả tài sản mình được mà hỏi mình là cái gì cũng không biết. Như vậy, tất cả cái được đó đều không giải quyết tận cội gốc của con người. Sống mà không biết mình là gì thì cuộc sống hết sức rỗng, vô giá trị. Nếu chúng ta chỉ lo ăn mặc cho sung sướng, nhà lầu xe hơi, tức là chỉ lo thụ hưởng sung túc, mà mình là gì không biết thì ai hưởng thụ đây?


Ðó là vấn đề mà đức Phật hay người tu hy sinh cả cuộc đời, phăng tìm cho ra manh mối để giải quyết về thân phận con người. Ngày nay chúng ta tu theo đạo Phật cần phải hiểu vấn đề đó, không thể xem thường. Cứ lo ăn lo mặc, lo sống để chờ tới ngày chết, cuối cùng là tan rã. Ví như chúng ta cất cái nhà thật đẹp nhưng biết mai mốt nó sẽ tan nát thì còn quí nó không? Cái không bền, không lâu dài, chúng ta đâu có quí. Vậy thì thân này không lâu dài, tại sao mình lại quí, đó là mê hay giác? Ðó là mê.


Vì vậy đạo Phật dạy chúng ta phải giác, chớ không cho mê. Người mê thì không sáng suốt, không có trí tuệ. Mà không sáng suốt, không trí tuệ thì sống như chết, không có giá trị gì hết! Ý nghĩa quan trọng là phải biết được mình thì cuộc sống mới có giá trị. Dù sống nghèo hay sống thiếu thốn vẫn có ý nghĩa như thường. Còn không biết mình là gì thì cuộc sống hoàn toàn vô nghĩa.


Nhưng muốn biết mình là gì phải làm sao? Chính điểm này tôi muốn hướng dẫn cho quí Phật tử ứng dụng tu tập để tìm lại xem mình là cái gì? Bao nhiêu người dù trí thức hay bình dân đều nghĩ mình luôn luôn hiện tiền, nhưng hỏi mình là gì thì không trả lời được. Như vậy, cái hiện tiền đó cũng chỉ là ảo tưởng thôi. Chúng ta phải tìm ra lẽ thật mình là gì chớ không thể tưởng tượng được. Chúng ta tu không phải tìm cái gì xa xôi ở bên ngoài mà phải xoay lại soi sáng chính mình để tìm xem mình là gì? Cái gì là thật mình? Nếu tìm ra được cái thật mình là ngộ đạo. Ðừng tưởng ngộ đạo là chạy lên non, lên núi, lên mây, lên trời, mà ngộ đạo là tìm ra được cái thật mình. Tìm được cái thật mình rồi thì ngang đó giải quyết xong dòng sinh tử. Không tìm ra được cái thật mình thì luôn luôn sống trong dao động, biến chuyển. Mà dao động biến chuyển là tướng sinh diệt vô thường. Nếu chấp giữ tất cả hình tướng tâm niệm vô thường là mình thì mình là một dòng biến chuyển. Chuyển biến nơi này tới nơi kia không dừng, Phật gọi đó là luân hồi. Ðã luân hồi thì chỉ có giải thoát luân hồi mới là vui.


Tôi thường nói thân này không phải thiệt mình. Nhưng ai cũng bám vào nó, cũng nghĩ nó là mình. Nếu thân này thật mình thì nó nguyên vẹn, nhưng nếu ở trong da thịt chúng ta chỗ nào bị ung nhọt thì có mủ hôi hám. Mủ hôi hám đó là mình chăng? Ðã từ da thịt mình loại ra thì nó đâu phải mình. Nếu là mình thì chúng ta phải mến nó chứ, ngược lại mình rất gớm nó. Như nước bọt ở trong miệng có phải là mình không? Nếu là mình thì khi nhổ ra rồi, mình lấy lại được; nhưng chúng ta có làm như vậy không? Kể cả máu huyết là thiết yếu của sự sống, nhưng chúng ta chích ra chừng một chung máu, rồi bảo uống lại có dám uống không? Nếu thật mình thì đâu nỡ bỏ; đằng này buông ra rồi, chúng ta gớm nó thì làm sao nói mình được. Nếu thân này là mình thì khi thiếu máu, mua máu của người khác đem vô, máu người khác thì đâu phải của mình, nhưng khi đem vô rồi lại nói máu mình. Lạ chưa! Từ bản thân mình loại ra thì chúng ta gớm, còn của người khác đem vào thì nhận là mình. Thật vô lý! Cho nên từ đó mới thấy rõ ràng thân này không thật là mình.


Trong kinh, đức Phật kể lại: Có một người đi sang làng khác, giữa đường gặp sa mạc. Trời tối, ông thấy cái chòi cũ không có người ở, nên vào nghỉ tạm qua đêm. Ðang nằm, có tiếng động bên ngoài, ông trỗi dậy nghe ngóng. Bỗng cánh cửa bị xô vô, thì ra một con quỷ to tướng đang vác cái thây người chết liệng xuống đất. Ông hoảng sợ quá đứng nép sau vách. Bỗng có con quỷ thứ hai chạy vào, dành ăn với con quỷ thứ nhất. Ðứa này nói cái thây của tao, đứa kia nói cái thây của tao, hai đứa giành nhau rồi cãi lộn.


Lúc đó chúng chợt thấy ông đứng bên vách. Con quỷ thứ nhất nói từ đầu tới cuối có ông này làm chứng, nếu ông nói của đứa nào thì đứa đó ăn. Nghe vậy ông run quá, nếu nói của thằng này thì thằng kia bẻ cổ mình, nhưng thôi kệ thà chết chớ không nói dối. Nên ông bảo: "Khi nãy tôi thấy rõ ràng anh A đem cái thây vô quăng ở đây." Thằng kia tức giận quá liền giựt ông một cánh tay. Con quỷ thứ nhất thấy vậy thương, bèn xé cánh tay của thây chết ráp vào cho ông. Vừa ráp xong thì con quỷ thứ hai giựt cánh tay còn lại quăng ra. Con quỷ đầu xé cánh tay thứ hai của thây chết gắn vào. Rồi tới chân phải, chân trái. Hễ con quỷ này xé quăng ra thì con kia lấy chân của thây chết gắn vào. Cuối cùng mệt quá hai con quỷ ngưng cãi, chúng chia hai chân, hai tay của ông bị vứt ra và ăn.


Ông ta hoảng hốt tự hỏi mình là cái gì? Rõ ràng tay chân hiện giờ là của thây chết. Ông mới đi tìm gặp những vị sáng suốt để hỏi xem ông bây giờ là gì. Gặp được một vị A La Hán, đảnh lễ xong, ông thưa:


- Bạch Ngài, con bị hai con quỷ đem tay chân của thây chết ráp vào cho con, bây giờ cái gì là con?


Vị A La Hán nói:


- Tốt lắm! Như vậy là ông sắp ngộ đạo.


Câu chuyện tới đó hết. Quí vị thấy nếu vật tạm bợ hư giả mà chúng ta biết thắc mắc, tìm tòi, không tin nó thật, thì đó là sáng suốt, thấy được lẽ thật. Cuộc đời này có ai thấy được lẽ thật không, có ai thắc mắc mình là gì không? Hay cứ hài lòng. Ðã hài lòng rồi thì tìm mọi thứ cho nó thụ hưởng, chờ đến ngày bại hoại. Ðó là nỗi đau đớn của con người trong kiếp mê lầm. Chúng ta phải ý thức mình là gì, tìm cho ra cái mình đó chính là gốc của sự tu. Người biết quay lại tìm mình là người sắp thấy đạo.


Vì vậy tôi hướng dẫn Tăng Ni ở các Thiền viện cũng như Phật tử trong các đạo tràng khi tụng kinh thì đặt nặng kinh Bát Nhã. Trong kinh Bát Nhã câu đầu: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách." Chỉ cần soi lại thân năm uẩn này không thật thì tất cả khổ nạn qua hết. Quí vị có soi lại không? Nhiều khi đọc thì đọc mà không chịu soi lại. Cần phải soi lại thân năm uẩn này xem nó có thật hay không. Nếu thấy rõ ràng nó không thật thì tất cả khổ ách đều qua. Ðiều này hết sức cụ thể.


Thường chúng ta thấy thân này, vọng tưởng này là ta, nên những gì cung cấp cho thân này được khỏe, được sung túc mà người khác đoạt đi thì ta tức giận lên. Ta nghĩ việc gì đúng mà ai nói khác thì nổi giận. Như vậy khổ là do chấp thân, chấp tâm mà ra. Nếu biết thân này không thật, ý nghĩ không thật thì đâu còn chấp, đâu còn giận ai, nhờ thế mọi khổ ách đều qua hết. Người ta chửi, mình cười chơi thôi. Có gì thật mà phải khổ, phải giận, dành hơn, dành thua. Anh không thật, tôi không thật, cái chửi cũng không thật luôn nên chỉ cười vui thôi.


Ngược lại, nếu thấy thật thì động tới xác thịt liền đau tức, động tới ý kiến trái mình liền sân giận. Rõ ràng do chấp thân, chấp tâm mà mình khổ. Vì vậy kinh Bát Nhã nhắc cho chúng ta soi thấy năm uẩn là không thì qua hết thảy khổ nạn. Việc tu hết sức giản đơn, không phải cầu Phật hay cầu ai làm cho mình hết khổ, chỉ cần thấy rõ năm uẩn không thật là hết khổ.


Năm uẩn có sắc, thuộc về vật chất; thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm; cả hai đều không thật. Biết rõ như vậy thì khổ nạn nào cũng qua hết, chớ không phải Phật hay Bồ-tát, thần thánh nào cho mình hết khổ nạn. Hết khổ nạn là do trí tuệ của chúng ta soi thấy thân năm uẩn không thật. Kinh dạy một câu thôi chúng ta tu cả đời. Tu là phải soi lại chớ không phải phóng ra. Nhưng hiện nay đa số người tu cầu xin nhiều hơn soi lại.


Xét hai phần vật chất và tinh thần: Sắc là sắc chất tức thể xác không thật. Thọ, tưởng, hành, thức tức tinh thần cũng không thật. Thấy rõ như vậy là giác? Mê giác cách nhau chẳng bao xa. Thấy thân thật, cái suy gẫm thật là mê. Thấy thân không thật, cái suy gẫm không thật là giác.


Trong kinh Viên Giác có vị Bồ-tát thưa hỏi Phật:


- Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh?


Phật đáp:


- Chấp thân tứ đại duyên hợp là thật của mình, chấp tâm suy nghĩ lăng xăng là tâm thật của mình là vô minh.


Hết vô minh là giác. Như vậy mê giác như trở bàn tay thôi, gần một bên mà mình tu hoài không được, tại sao? Tại vì mê chấp thấm sâu lâu đời quá rồi. Ngày nay đọc kinh Phật, nghe quý thầy giảng chỉ mới lóe lên chút thôi, chưa hẳn là thấy nó không thật. Chỉ khi nào ngồi lại thấy thân không thật, tâm không thật, tất cả đều do duyên hợp tạm bợ, thấy rõ như vậy thì mọi khổ nạn qua hết.


Ðược vậy sống ở đây cũng giống như Cực Lạc, có gì buồn, có gì khổ. Chúng ta cũng ăn, cũng uống như mọi người, nhưng không chê khen buồn giận, không mê lầm chấp thân tâm là được. Muốn thế thì phải soi lại mình, không thể phóng ra ngoài nữa. Quí Phật tử cứ phóng ra, không biết quay lại, nên đi chùa hai chục năm vẫn không hết phiền não.


Bây giờ trở lại vấn đề tu tập, chúng ta ngồi thiền để làm gì? Ðể nhìn lại mình. Bởi vì chúng ta hướng ra thì mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, gió thổi xúc chạm... tiếp xúc các trần. Lúc đó dù chúng ta có tu vẫn bị ảnh hưởng bên ngoài nhiều. Chỉ khi ngồi yên, mắt nhìn xuống, gác hết năm trần bên ngoài, không cho nó lôi cuốn nữa. Nên giờ ngồi thiền là giờ ngồi để soi lại. Soi thế nào?


Phương tiện ban đầu, chúng ta dùng hơi thở hít vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai, ... như chơi vậy. Nhưng nhờ nhớ hơi thở ra hơi thở vô, hơi thở thì ở trong nên chúng ta mới phản quan. Thấy hơi thở vô, hơi thở ra đều đặn như vậy, nếu thở ra mà không hít vô thì chết. Rõ ràng thân tạm bợ phải không? Vừa khởi nghĩ việc gì liền buông, mình tự nhắc vọng tưởng hư dối không thật. Thân này do tứ đại hợp thành. Hơi thở là gốc, thở ra không hít vào là chết nên sự sống rất mỏng manh. Ðã mỏng manh lại cộng thêm cái tâm chợt có, chợt không là vọng tưởng hư dối. Tập soi sáng lại mình như vậy, gọi là tỉnh giác.


Ngài Ðạo Nguyên ở Nhật Bản nói: "Một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật." Tại sao? Giờ ngồi thiền là giờ giác, còn giờ ở ngoài là giờ mê. Trong một ngày, quí Phật tử có đủ thứ chuyện. Thấy chuyện này, nghe chuyện kia toàn là phóng ra ngoài, chớ không quay lại. Còn giờ ngồi thiền là giờ quay lại mình. Theo hơi thở, thấy vọng tưởng, buông; đó là nhìn lại mình, tỉnh giác rõ ràng, không bị mê lầm. Lúc tỉnh giác đó không phải là Phật là gì? Phật là giác. Chúng ta đang giác nên chúng ta là Phật.


Sở dĩ ngồi thiền ngủ gục bị đánh là sao? Bởi vì trọng tâm là phải giác. Chúng ta ngồi ngủ mê nên đánh cho tỉnh, không để mê nữa. Hiểu vậy mới biết tại sao nhà thiền khắt khe. Vì sợ mình mê theo cảnh, hoặc si mê không biết gì nên phải làm cho mình tỉnh, tỉnh đó là giác. Ðược vậy một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật, chớ ngồi ngủ khò khò thì làm Phật sao được.


Chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa quán hơi thở. Nhiều khi chúng ta thực tập mà không hiểu nên nắm không vững, tu như vậy sẽ không đi tới đâu. Hơi thở vô ra xem như chuyện tầm thường, nhưng nhờ nhớ hơi thở mà chúng ta quay lại. Nếu không nhớ hơi thở thì tâm mình chạy rong. Tu là phải quay lại soi sáng chính mình. Nhờ theo dõi hơi thở vô ra, lúc thở khì mà không hít lại là chết. Chỉ có mấy giây đồng hồ thôi, mới biết như vậy sự sống không bền, không thật. Bao nhiêu đó đủ để chúng ta chứng nghiệm được cuộc sống này.


Ðến vọng tưởng, niệm này nhảy ra niệm kia nhảy vô, chúng ta buông, nó mất; để thấy tâm này cũng không thật. Thấy thân không thật, thấy tâm cũng không thật, không phải tỉnh giác là gì? Nên giờ ngồi thiền là giờ tỉnh giác, giờ ngồi thiền là giờ tối quan trọng, chứ không phải tầm thường. Khi tỉnh giác được rồi, chúng ta mới thấy rõ được mình. Thấy thân này không thật, tâm này không thật thì mọi cố chấp theo đó rã tan. Chấp đã không còn thì khổ đau theo đó hết. Ðây mới chỉ là chặng số một thôi.


Tôi xin hỏi những vị tu hơi lâu một chút, khi ngồi thiền chừng năm ba phút, trong tâm không nghĩ nhớ gì hết, lúc đó chúng ta có biết không? Dạ có biết. Như vậy, có mình hay không có mình? Có mình.


Nếu cái nghĩ là mình thì khi không nghĩ là không có mình. Không nghĩ mà có mình thì cái nghĩ không phải là mình rồi. Bấy nhiêu đó đủ chứng minh cái suy nghĩ không phải là mình, vì nó chợt có chợt không. Những thứ lăng xăng lặng hết thì tri giác hằng hữu. Ðó là mình rồi, thực tế đâu có xa. Như vậy, cái mình chân thật đó không phải là cái suy nghĩ. Nghĩ suy là sinh diệt tạm bợ, không phải chân thật. Còn không nghĩ mà hằng biết, có tiếng động liền nghe, hình ảnh đến liền thấy, gió chạm thì mát v.v... yên tĩnh sáng suốt không nghĩ ngợi gì hết, đó chính thật là mình.


Thường những gì động là vô thường sinh diệt. Thân động cho nên thân vô thường sanh diệt, tâm động nên tâm vô thường sinh diệt. Chấp thân vô thường sinh diệt là thân mình, chấp tâm vô thường sinh diệt là tâm mình, đó là sai lầm. Nếu buông hai thứ chấp đó, chỉ nhận cái không động, không sinh diệt, không có tướng trạng vô thường, hằng yên tĩnh sáng suốt đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.


Có tu rồi, chúng ta sẽ thấy nó rõ ràng, không còn nghi ngờ gì hết. Sống được với những phút giây chân thật, ta mới thấy khi suy nghĩ dứt bặt thì chân thật hiện tiền, chớ không phải không có. Chúng ta không nhận ra nó là vì mình cứ suy nghĩ hoài, hết chuyện này tới chuyện kia, mãi chạy theo những suy nghĩ thì làm sao biết rằng khi không suy nghĩ, lại có cái chân thật. Vì vậy nói thiền dễ định. Ðịnh là dừng hết những suy nghĩ. Dừng hết suy nghĩ thì cái chân thật hiện tiền. Nhận ra cái đó thì tỉnh thì giác, gọi là giác ngộ. Tức thấy được lẽ thật của thân tâm, giả biết giả, thật biết thật. Ðó là kiến tánh, là thấy đạo. Ðơn giản vậy thôi.


Trong nhà Phật dạy thân, miệng, ý tạo tác các nghiệp, mà chủ yếu là ý. Ý nghĩ tốt, miệng nói tốt, thân làm tốt. Ý nghĩ xấu, miệng nói xấu, thân làm xấu. Ý là chủ tạo nghiệp. Ý nghĩ này lặng đi thì còn cái gì tạo nghiệp. Nghiệp là gốc dẫn chúng ta đi trong luân hồi sinh tử. Nếu hết nghiệp thì cái gì dẫn chúng ta nữa, như vậy không giải thoát là gì?


Cho nên giác ngộ được thân vô thường, tâm sinh diệt, thì cái chân thật hiện tiền không sinh, không diệt. Sống được với cái chân thật này thì không còn tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử nữa. Như vậy rõ ràng tu là để giải thoát sanh tử.


Mục đích của chúng ta tu không gì khác hơn trọng tâm của đức Phật dạy "xoay lại con người". Vì con người là tối thượng. Dù có bay được trên hư không (bây giờ chúng ta đi máy bay phản lực), hay cất nhà lầu chín chục tầng v.v... đều là vô thường, nay còn mai mất. Chỉ có trở lại tâm chân thật không hình không tướng của mình, là không vô thường; hằng giác không động nên không sinh diệt. Ðó mới là chân thật. Ðược vậy chúng ta sẽ tin lời Phật dạy không hư dối.


Hôm nay tôi nhắc tất cả quí Phật tử hiểu được căn bản của việc tu hành. Vậy từ đây về sau huynh đệ hòa hợp với nhau, với tư cách cư sĩ vừa lo đời, vừa lo đạo. Lo đó chính là lo cho mình. Ðể ngày mai quí vị có nhắm mắt, dù chưa hết niệm sinh diệt thì cũng sinh diệt trong cảnh tốt. Bằng như được hết sinh diệt thì thảnh thơi tự tại, còn gì quí hơn!


Mong quí Phật tử nỗ lực tinh tấn tu hành.


HT.Thích Thanh Từ

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: Cầu..Đạo..
Đã gửi: Thứ 4 11/07/12 17:16 


thanh mới nói với anh. e có chuyện này nói ra anh đừng giận e nha.e chỉ muốn góp ý kiến chứ không có gì khác e nói sai thì anh góp ý kiến giúp cho e hiểu thêm nha anh.
.anh ừ..thanh mới nói đó giờ anh tìm đạo đâu xa xôi trong nhà anh có đạo sao không tìm...
anh có vẽ ngạc nhiên hỏi đạo đâu ra..
thành tiếp lời.anh đi tìm đạo cầu đạo.vậy chứ đạo làm con anh hoàn thành chưa.đạo làm chồng làm cha anh hoàn thành làm tốt chưa.
:twisted:
Đây chỉ là ĐẠO GIA ,còn đạo PHẬT là thuộc là đạo làm người ,từ đạo làm người phải đi đôi với trí tuệ ,giống như trước là gia đình ,sau đến hàng xóm ,kễ là khắp toàn cầu cuối cùng là toàn giác /
Từ thấp lên cao là đạo thần ,đạo thánh ,đạo tiên rồi PHẬT ,người cầu đạo phải từ thấp lên cao mới ngộ được ,nếu an phận ở dưới thấp chỉ là đạo nhơn ,còn quanh quẩn trong những cái khổ ,khi ra ngoài đường va chạm mới thấy đạo nhơn còn rộng nữa ,chữ đạo rộng lắm không phải nho nhỏ ở trong gia đình đâu .
Nếu đơn giản nho nhỏ như vậy thì PHẬT không cần cất công xuất gia nơi rừng sâu để chịu khổ ,sao ngài không ở cung điện hưỡng thụ lạc thú cho an thân ,ngay DIỆU ĐỊNH hiện không cần tham thiền hay tu niệm cú thong thả an vui không cần giúp ai ,
Đối với gia đình đã tròn bổn phận ,đối với xã hội cũng đã tròn nhưng vì sao thân TÂM không được vui đó là thấy cái khổ của kiếp làm con người ,sự ràng buộc sanh tử ,khiến cho DIỆU ĐỊNH không ngừng tham thiền tầm đường giải thoát

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: LINH HỒN LÀ GÌ?
Đã gửi: Thứ 2 11/06/12 7:33 

hồn mà linh thì mới nên gọi là linh hồn, còn ko thì gọi là vong hồn
Như câu này đáng để mình suy ngẫm ,cái gì gọi là linh ,cái gì không phải linh đây có phải sự trí tuệ linh không hay là một linh cảm nhạy bén gọi là tánh đúng không?
phải xem kỷ nó là cái gì đã,không đơn thuần gọi là linh hồn ,tại sao có người gọi là linh hồn ,lại có người gọi là vong linh mình phải xét sự khác nhau hay giống nhau của nó
Bạn đang xem trang 1 / 1 trang [ Đã tìm thấy 25 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh