Hôm nay, Thứ 7 05/12/20 0:09

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 17 kết quả

Người gửi Nội dung

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 24/07/12 0:13 

Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ

Cư sĩ Liên Hoa

- Kính dâng lên chư Tổ, Ân sư Cố Sa môn Thích Viên Đức, Sa

môn Thích Quảng Trí và những hành giả Du già đã và đang

âm thầm nuôi dưỡng, duy trì và phổ biến Mật giáo tại Việt

Nam.


- Kính tri ân những tác giả các quyển sách mà tôi đã trích đăng

hay tham khảo khi viết bài tiểu luận nầy.

- Thương tặng Thanh- người vợ và là người bạn đồng hành.

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm

Thiền sư Hương Hải

Tạm dịch :

Nhạn bay giữa trời

Bóng chìm dưới nước

Nhạn không lưu ảnh để lại

Nước chẳng lưu bóng làm chi

Hình ảnh Quán Thế Âm là biểu tượng sống động của tình yêu tuyệt vời, cao độ trong Phật giáo, đó là tinh thần Đại bi.

Phải chăng phạm trù Đại bi chỉ ứng dụng cho con người hiện đại, hay tiếng niệm Quán Âm là tiếng cầu cứu thống thiết nhất của nhân loại trước họa diệt vong? Chúng ta càng ngày càng sống trong một xã hội được khoa học kỹ thuật phục vụ, và càng lúc, vì ảnh hưỡng của môi trường sống chung quanh, ta càng quên mất chính ta. Tây phương đã lẫn lộn giữa tiện nghi và tiến hóa, và Đông phương chỉ vì mặc cảm thua kém về kỹ thuật khoa hoc, đã và đang tiến bước theo đà của Tây phương cũng như đã dần dần đánh mất những bản sắc cao đẹp nhất của Đông Phương: Đó là đời sống tâm linh. Cần nhấn mạnh là chúng ta không chống đối sự tiến bộ, sự phát triển của khoa học, nhưng làm sao phải quân bình giữa tinh thần và vật chất, cũng như phân biệt rõ giữa tiện nghi và tiến hóa

Phật giáo nhận thức rằng: “Con người hay hữu tình nơi đâu vẫn đều khổ. Khổ vì sanh, già,bệnh,chết, vì lục dục thất tình làm điên đảo, đố kỵ, tranh giành, thù hận, chém giết . . Quá khứ đã vậy và tương lai cũng vậy, chỉ trừ khi con người đã vượt thoát khỏi sự chấp trước trong vòng nhị nguyên”.

Đó cũng là ý nghĩa xuất hiện trên thế gian của Đức Phật.

Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Ta vì đại sự nhân duyên mới xuất hiện ở đời, đó là khai thị cho chúng sanh Ngộ, Nhập Phật Tri Kiến”.

Cho nên, tìm hiểu về Đức Quán Thế Âm Bồ tát trong Mật giáo, chính là sống trong lòng từ bi vô bờ bến của Đức Phật, trong tinh thần Đại nguyện của Bồ tát Hạnh, cũng là sống với chính mình, làm cởi bỏ tất cả mọi phiền trược, thành kiến v.v...để thể nhập vào Đại bi Thai tạng giới, thể hiện tinh thần cứu khổ, ban vui được hiện thực trên mỗi con người, mỗi hành giả.

Vậy, Đức Quán Thế Âm trong Mật giáo ra làm sao?

Quan Âm hay Quán Âm, gọi đủ là Quán Thế Âm. Tiếng Phạn gọi là Avalokiteshvara. Quán là quán tưởng, có nghĩa là xét thấy bằng tư tưởng và trong tư tưởng, tức là trí năng quán. Thế là thế gian, tức cảnh sở quán. Âm là tiếng hay âm thanh.

Quán Thế Âm có nghĩa là xét thấy, xét nghe tiếng của thế gian đau khổ, lo sợ. Bởi tất cả chúng sanh đều có hoặc nghiệp nên mới hòa hợp với nhau mà hiện ra các khổ tướng báo thân. Cho nên, Quán Thế Âm cũng có nghĩa là Trí năng quán, tiêu biểu cho Đại bi, Đại từ của Đức Phật, tức Tâm. Mà tâm thời ai cũng có, cho nên Đức ấy có thể hiện trong bất luận chúng sanh nào, từ cõi Thiên xuống đến cõi người, A-tu-la v.v…để độ thoát những chúng sanh trong 3 nẻo dữ (Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh ).

Quán Thế Âm gồm 2 nghĩa :

- Về Nhân hạnh : Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng: “Tiếng bị nghe được gọi là Cảnh sở quán, do tâm không duyên cảnh nào khác mà mỗi mỗi đều an trụ vào Như Lai Tạng”. Đây chủ yếu là lấy Văn -Tư -Tu làm cho nhĩ căn viên thông. Bởi vì, nếu có thể quay ngược lại để nghe nơi tự tánh, thời năng văn của tâm và cảnh sở văn thảy đều tiêu tan, dung hội- tâm mới được tư tại, viên thông.

- Về Quả đức : Từ nhân hạnh, nay lấy chữ Âm làm đại biểu cho tất cả những tiếng khổ đau, cũng là tiếng kêu vang thống thiết của chúng sanh đang ngụp lặn trong phiền não, si mê. Bồ tát dùng nguyện lực đại bi đã từng thường xuyên quán sát chúng sanh khổ não, gặp có cảnh xưng niệm danh tánh mình để cầu cứu độ thoát, Bồ tát liền đem ngay trí đại bi soi xét tất cả, tức tốc thi hành cứu độ ngay.

Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn do Thái Hư Đại sư giảng lục có giải thích rõ về chữ Quán và 5 pháp Quán như sau:

1- Chân quán : Là dùng diệu trí quán sát nơi chân tánh để biết thân tâm mình, thân chúng sanh, tất cả đều bình đẳng không hai- Đây tức chân khởi nguyên của đồng thể đại bi.

2- Thanh tịnh quán : Là quán sát nơi tịnh pháp từ xưa đến nay chẳng tương ứng cùng với nhiễm pháp, xa lìa 2 món chướng ngại là cái ta và vật của ta.

3- Quảng đại trí tuệ quán : Vì tự tâm thanh tịnh, nên quán sát nơi pháp hai Đế Chân và Tục, mỗi mỗi đều soi rõ làu làu không có sót lọt.

4- Bi quán : Là quán nơi giữa chúng sanh và Phật đều đồng thể, do đó; mới thương chúng sanh vì họ bị hoặc-nghiệp nên không thoát khỏi khổ não.

5- Từ quán : Là Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng bi nguyện cứu khổ, nên thường nghĩ ban điều vui, an lành cho chúng sanh.

Do Quán tự nầy, hiện rõ ánh sáng Vô cấu Thanh tịnh, tức ánh sáng của trí tuệ năng phá các tăm tối phiền não, nhờ đó hàng phục được bổn tâm. Cho nên, mới năng đem trí quang minh mà soi khắp các cõi để cứu khổ chúng sanh. Đây chính là diệu dụng lợi tha.

Còn căn cứ vào Quả đức mà nói, thời mười Phuong ba đời các Đức Phật , có Ngài nào mà không đem từ bi quán soi các khổ não của chúng sanh để mà cứu vớt. Do đó, không vị nào không là đồng danh đồng hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Và chúng sanh đâu có gì sai khác, vì chúng sanh là Phật sẽ thành. Âm thanh chẳng những là tiếng từ miệng phát ra, mà trong tâm chúng sanh những khi mặc niệm cũng là âm. Bởi vì là từ danh thể làm hiện cảnh, rõ nghĩa, mà tâm là duyên cảnh xét lấy nơi nghĩa. Cho nên, hễ động nơi bên “trong” cũng là tiếng của tâm, nên cũng chính là niệm Quán Thế Âm của bổn tâm mình.

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói thêm: “Vì được viên thông vô thượng, cho nên Ngài có 4 Đức vô tác nhiệm màu không thể nghỉ bàn:

1-Một là xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu nhiệm của nội tâm. Tánh nghe nầy không chút ô nhiễm, nên ngăn dứt tất cả âm thanh đối tượng. Bấy giờ, tánh thấy, nghe , ngửi, nếm, xúc, biết của 6 căn còn là một tánh giác thanh tịnh có thể thay thế cho nhau mà không ngăn ngại. Do đó, có thể hiện ra nhiều tướng và nói vô số Chân ngôn bí mật, từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108 đầu, 1000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000 đầu. Hoặc có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14 tay, 18 tay, 10 tay, 24 tay, 108 tay, 1000 tay, 10.000 tay cho đến 84.000 tay uyển chuyển, và biến hiện về mắt cũng như mắt vậy, nhưng có mắt thanh tịnh hoặc uy từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc huệ tuỳ duyên cứu độ cho chúng sanh được tự tại

2- Hai là tánh nghe và suy nghĩ thoát ra khỏi 6 trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm màu vô tác, nên hiện nhiều hình tướng, nói nhiều chân ngôn đem lại cho chúng sanh được sức vô úy. Cho nên danh xưng của Ngài trong muời phương vi trần, goị là Bậc Thí Vô Úy.

3- Do sự tu tập là phát huy căn bản thanh tịnh sẳn có, nên được viên thông mầu nhiệm. Đi đến nơi nào hay thế giới nào, cũng tuỳ theo sự cầu cứu của chúng sanh mà thương xót tế độ.

4- Do được Phật tâm, chứng ngộ đến chỗ cứu cánh nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường Thập phương Như Lai. Đến như các chúng sanh trong pháp giới muốn cầu trường thọ, được trường thọ, cho đến cầu Đại Niết bàn cũng được Đại Niết bàn.

Sự chứng đắc viên thông nầy đến từ cửa ngõ nhĩ căn quán chiếu đến tột cùng viên mãn về âm văn ( nghe và tiếng ) mà được Tam muội, bởi vì tánh và nghe và thấy tròn sáng châu biến mười phương”

Vì chúng sanh có thiên hình vạn chủng, nghiệp sai biệt nên do tâm sai biệt mà chiêu cảm hình tướng. Cho nên, trong Bộ Mật tạng của Tông Mật, Đại Bi Quán Thế Âm cũng biến hiện ra nhiều thân hình như Thiên nhãn Thiên tý Quán thế Âm , Thập Nhất Diện Thánh Quán tự Tại, Quyến Sách Quán Thế Âm, Khổng Tước Quán Thế Âm, Bạch Y Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm v.v.. Để thuyết pháp hoặc nói chú độ chúng sanh. Có nghĩa là Thần chú của Đai bi Quán Thế Âm nhiều nhất trong Bộ Mật Tạng, tương ưng vớùi những trạng thái thống khổ của chúng sanh trong 3 cõi, 6 đường. Có thể nói đến Phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cũng có nói đến 7 nạn, 2 cầu, và 32 ứng hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm cũng cùng ý nghĩa cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.

Mật giáo cũng là một trong mười Tông phái của Phật giáo. Mật giáo lấy phương pháp Tam mật gia trì làm căn bản. Đây là pháp của Đức Như Lai Đại Nhật hay Tỳ-lô-giá-na (Vairocana), là Pháp thân của Đức Phật- có nghĩa là phương pháp được xướng khởi trên mặt Quả hay là trên sự chứng nghiệm rồi. Tam mật gia trì, đó là thân-khẩu-ý.

* Thân: Ngồi kiết già hay bán già, còn gọi là Thân Kim Cang- tương ứng với Pháp thân.

* Khẩu: Miệng tụng trì Thần chú, còn gọi là Khẩu Kim Cang, ứng với Ứng Thân.

* Ý: Quán tưởng chủng tự hoặc Bổn Tôn, còn gọi là Ý Kim Cang, tương ưng với Hóa Thân.

Khi Tam mật tương ưng, chính là ngay trong khoảng sát na đó đã thể hiện trọn vẹn hình ảnh Bổn tôn hoặc Đức Phật. Liên tục gia công hạnh pháp tức liên tục thể nhập hình ảnh đó,tức tâm, tức ngay thân nầy phá trừ nội ngoại chướng, thành Phật.

Mật giáo lại chia ra làm 2 loại:

1-Kim Cang giới tức Không, còn gọi là Trí tuệ Bát nhã, Đại

Viên Cảnh Trí.

a/- Trí đức bền vững không hư hoại.

b/- Năng dung phá tan tất cả phiền não.

2- Thai tạng giới tức Hữu, còn gọi là Đại Bi Tâm, tức Diệu Quán

Sát Trí.

a/- Ẩn phú : Lý thể ẩn trong phiền não.

b/- Hàm tàng : Lý thể đầy đủ công đức, ví như thai mẹ

hàm tàng thân con.

Thai tạng giới như cái bào thai, tiêu biểu Bi Trí tánh đầy đủ. Thai nhi còn là biểu tượng cho chính hành giả tu trì chân ngôn.

Thai tạng giới còn bao gồm 3 Bộ :

1- Phật Bộ : Do Đức Như Lai Đại Nhật làm chủ, nghĩa Bi Trí đầy

đủ, giáo đại viên mãn.

2- Liên Hoa Bộ : Do Đức Bồ Tát Quán Thế Âm làm chủ, có

nghĩa là Đại Bi Tâm hay trụ tướng

pháp lành, ví như hoa sen tươi đẹp trong bùn.

3- Kim Cang Bộ : Do Bồ Tát Kim Cang Thủ làm chủ, là Trí tuệ

và Lục dụng của Như Lai, hay phá tan mọi nghiệp khổ, dụ rắn

chắc như Kim Cang.

( Vì muốn làm sống động hình ảnh Đức Đại bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ trong Mật giáo, nên tôi đã dẫn chứng đến nhiều danh từ của Mật giáo. Còn nói rõ về ý nghĩa cũng như phương pháp tu trì Chân ngôn là một việc khác và sẽ được nói trong quyển “ Tinh yếu Mật giáo Việt Nam” ).

Mật giáo lấy âm thanh làm chủ. Đây cũng là sự liên hệ mật thiết với Đại bi Quán Thế Âm, tuy như 2 mà là một. Tay bắt Ấn, miệng niệm chú cũng là khởi động của âm thanh, những ba động. Ý quán tưởng cũng là những âm thanh của tâm.

Âm của tâm tức Diệu âm, gồm ý nghĩa bất tư nghì, tức tâm Phật hay tâm của Bổn tôn. Cái tâm bao trùm tất cả để tùy sự cầu cứu của chúng sanh mà cứu vớt và tùy duyên giáo hóa, hay phương tiện thi thiết pháp âm, tức nơi Quyền lý Thiệt. Nhưng vì nguyên lai Bản thể chẳng dời đổi, lay động, nên tùy duyên mà thường bất biến. Có nghĩa là nơi Dụng hiện Thể, hiển hiện Diệu Âm hoặc Quán Thế Âm.

Tâm Phật và chúng sanh nào có khác nhau, chỉ duy có bên Mê bên Ngộ, tịnh-nhiễm, giải thoát và ràng buộc. Cho nên, để thể nhập vào Đại bi Thai Tạng giới, hành giả phải hành trì, có nghiã là thọ trì, gìn giữ, tức Niệm. Trì Niệm gồm đủ 2 nghĩa : Sự và Lý.

Khi trì niệm chân ngôn là Sở trì. Tâm ta là tâm Năng niệm, biết tâm năng niệm của ta, tức hiển lộ Danh sở niệm. Lìa tâm, không có Danh sở niệm, cũng như lìa Danh, không có Tâm Sở niệm. Ngoài Sở không Năng, ngoài Năng không Sở. Đó chính là Nhất tâm, còn gọi là Lý trì. Sự chẳng rời Lý, Lý nhờ sự hiện, chẳng rơi vào Không hoặc Hữu, không vướng hai bên, hợp với Tự tánh Chân tâm, gọi đó là Phạm Âm.

Cũng như khi niệm, niệm trước chẳng sanh, tức sống trong tự tánh định, không lìa Thể Chân như thanh tịnh, tức không vọng động. Niệm sau chẳng diệt, tức vào nơi tự tánh huệ, bổn tánh tự tại ứng động, phát ra diệu dụng, hiểu rõ và phân biệt tất cả Sự-Lý, mọi vật. Tuy nói trước sau, nhưng không có thời gian hiện diện, vì tức thời hay tương tức.

Do thể hiện được sự kết hợp với Chân tâm, ba độc tham-sân-si liền tiêu trừ, tức thành được 3 Đức của Mật tạng: Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát. Đức nầy như sóng Hải triều âm làm tan mọi vọng niệm của chúng sanh để đưa đến Bờ giác. Đó cũng là Hạnh của Bồ tát: Trên cầu Phật đạo- đó là Phạm âm. Dưới hợp với cơ nghi, cứu độ chúng sanh- đó là Hãi triều âm.

Đại bi Quán thế âm của Mật giáo, tức là Bồ tát tự tánh của chúng sanh. Chúng sanh là chúng sanh ở trong tâm của Bồ tát, đem chúng sanh ở trong tâm Bồ tát mà đảnh lễ Bồ tát trong chúng sanh, nên Năng–Sở lễ tánh đều vắng lặng- Gọi là thị hiện Quán Thế Âm.

Đạo Phật là Đạo của hành động, của Dấn thân. Hình chữ Vạn ( ) hình dung rõ ràng hôn cái Lý nầy: Bất dịch (Tỉnh) nằm trong cái Lý biến dịch (Động). Nên, hành động hay dấn thân của Đạo Phật, của Mật giáo đòi hỏi hành giả phải thể nhập vào để thể hiện hay nhập thể để nhập thấ.

Thể nhập là Chánh niệm. Chữ Niệm ( 念 ) gồm có: trên chữ Kim (=hiện nay ), dưới chữ Tâm (= lòng ), tức là tấm lòng của hiện nay. Ý nói rằng: “Không nên dùng tâm quá khứ hoặc tâm vị lai mà niệm, chỉ nên dùng tâm hiện tại mà niệm”.

Do tâm hiện tại niệm, từ nơi đó suối nguồn của tâm Từ bi và Trí tuệ tràn ngập. Có Trí tuệ để quán sát sự vật như thật để đi sâu vào thức tánh và từ đó, khởi lên Tâm Từ cứu độ. Kinh Từ Bi (Karaniya Metta Sutta), bộ Kinh thường được trì tụng trong Phật giáo Nguyên thủy đã nói rõ về Chánh niệm nầy:

Karaniya matthakusalena - yam tam satam padam abhisamecca-Sakko uju ca suju ca - suvaco c’assa mudu anatimani.

Santussako ca subharo ca - Appakicco ca sallahuka vutti-Santindryo ca nipako ca -Appagabbho kulesu ananugiddho.

Na ca khuddam samacare kinci – Yena vinnu pare upavadeyyum – Sukhino Va khemino hontu – Sabhe satta bhavantu sukhitatta.

Ye keci panabhutatthi – Tasa Va thavara va anavasesa – Digha Va ye mahanta Vamajjihima rassakanukathula.

Dittha Va yeva addhittha – Ye ca dure vasanti avidure – Bhuta Va sambhavesi Va – sabhe satta bhavantu sukhitatta.

Na paro param nikubbetha – natimannetha katthacinam kanci – Byarosana patighasana – nanna mannassa dukkha miccheyya.

Mata yatha niyam puttam – ayusa ekaputta manurakkhe – Evampi sabba bhu tesu – Manasam bhavaye aparimanam.

Mettanca sabbha lokasmin – Manasam bhavaye aparimanam – uddham adhonaca tiriyanca asambadham averam asapattam.

Tittham caram nisinno Va – sayano Va yavat’assa vigatamiddho – Etam satim adhittheyya – Brahmametam viharam idha mahu.

Ditthinca anupagamma silava – dassassena sampanno – Kamesu vineyya gedham – Nahi jatu gabbhaseyyam puna reti’ti.

Bản dịch của Ngài Bửu Chơn :

( Người trí tuệ biết rõ những sự hữu ích, muốn giác ngộ theo các pháp yên lặng là Niết bàn, thì người ấy nên có sự dũng mãnh, thân khẩu-ý chân chánh, dễ dạy, tánh nết mềm mỏng, không ngã mạn thái quá.

Là người tri túc dễ nuôi, ít bận rộn, thân tâm nhẹ nhàng, có lục căn thanh tịnh, có trí tuệ, rất cẩn thận, không quyến luyến theo kẻ thế.

Các bậc trí tuệ hằng khinh bỉ những kẻ khác, tạo những nghiệp ác nào thì người có trí không nên hành theo những nghiệp ấy. Nên rải lòng từ ái đến tất cả chúng sanh như vầy: “Cầu xin cho tất cả chúng sanh hằng được sự an vui, yên ổn”.

Tất cả chúng sanh không có hạn định, dầu là chúng sanh có sự kinh hãi, là còn lòng tham muốn, hoặc các bậc hiền triết đã dứt lòng tham muốn. Chúng sanh nào có thân hình dài hoặc lớn, trung hoặc vắn, gầy hoặc béo.

Chúng sanh mà ta thấy hoặc không thấy được, ngụ nơi xa hoặc gần, đã sanh ra rồi hoặc đang tìm nơi thác sanh: Cầu xin cho chúng sanh đó hằng được sự an vui.

Chúng sanh không nên hăm dọa và hãm hại lẫn nhau, không nê khinh dễ kẻ khác dầu là nhỏ nhoi, chút ít, không nên làm khổ lẫn nhau vì sự nóng giận bất bình là sự bực tức trong tâm.

Người mẹ dám liều sanh mạng để bảo dưỡng con mình là con một thế nào, thì người nên rải lòng từ bi vô lượng vô biên đến tất cả chúng sanh cũng như thế ấy.

Người có tâm từ ái vô lượng vô biên là không bực tức, không thù oán, không kẻ nghịch, nên rải đến tất cả chúng sanh trên thế giới, là rải nơi hướng trên, hướng dưới, bên ngang và khoảng giữa.

Người đó dầu lúc đi đứng nằm ngồi, không có ngủ mê lúc nào, thì nên niệm tâm từ ái đến lúc đó. Các bậc trí tuệ gọi những tư cách đó là Phẩm Phạm Hạnh trong Phật pháp.

Người có tâm từ ái không tà kiến, có giới hạnh được đắc quả Tu-đà-hoàn là người đã dứt bỏ sự vui thích theo ngũ trần và không còn thọ sanh vào thai bào nữa”.

Thật vậy, có chánh niệm mới thể nhập được Thực tánh, thể nhập vào suối nguồn Chân Tâm vốn đầy đủ Từ bi và Trí tuệ, Hạnh nguyện. Có thể nhập để từ đó thể hiện. Thể nhập vào Bổn tôn, tức thấy rõ Bộ mặt muôn đời của mình. Nhận thức rõ các pháp là huyễn, phiền não tức Bồ đề. Chúng sanh tức là Phật, mê là ngộ v.v. .

Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo đàn nói:


Bồ đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai


Dịch :


Bồ đề vốn không cây

Gương sáng cũng không đài

Phật tánh thường thanh tịnh

Chỗ nào nhuốm bụi nhơ


Từ chỗ Chân không Diệu hữu mới thấy được pháp giới trùng trùng duyên khởi, tương tức tương nhập: Một la tất cả, tất cả là một, tất cả là tất cả. .

Đó là Trí tuệ, có Trí tuệ mới có Từ bi hoặc có Từ bi mới có Trí tuệ. Trí tuệ và Từ bi là một, từ đó, hạnh nguyện độ sanh tự nhiên tràn trề, tức là thể hiện Đại bi Quán Thế Âm.

Hành giả sống trong tâm thức của Bổn tôn, gọi đó là “Gia” do ánh sáng mầu nhiệm của Bổn tôn chiếu rọi vào. Thu nhận và hòa đồng cùng ánh sáng đó, gọi là “Trì”. Hai bên thừa tiếp nhau, nên gọi là Tam Mật Gia Trì, hay Định Huệ.- gồm ý nghĩa:

Huệ là Trí Đức Trang Nghiêm.

Định gọi là Phước Đức Trang Nghiêm.

Đây là Lưỡng Túc Tôn, tức Pháp thân hay Như Lai Đại Nhật.

Bộ Kinh Đại Thừa Trang nghiêm- Một Bộ Kinh tối ư quan trọng của Mật giáo, nêu rõ lý tưởng Từ Bi trong Trí Tuệ, hay ngược lại, Trí tuệ là Từ bi. Đây cũng là Bộ Kinh của Mật tạng nói lên sự thể hiện hay là con đường dấn thân của Đức Bồ tát Quán Thế Âm.

Sao gọi là Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương ? Vì Kinh nói nơi Tự tánh gồm có đầy đủ Phước Huệ.

Nơi Tự tánh là Sở Trang Nghiêm, còn nơi Phước Huệ là Năng Trang nghiêm. Năng Sở chẳng phài 2, nên gọi là Diệu Trang Nghiêm, bao gồm đầy đủ Tam học là Giới-Định-Huệ và Đà-la-ni.

Kinh cũng thuyết về SÁU CHỮ ĐẠI MINH CHÂN NGÔN, đó là :

OM- ( ) : Ý nghĩa Quy mạng hay trở về. Sắc màu trắng,

thoát Thiên giới.

MA ( ) : Sắc xanh, thoát A-tu-la.

NI ( ) : Sắc vàng, thoát Nhân.

BÁT ( ) : Liên Hoa tức Quán Thế Âm. Sắc lục, thoát

Bàng anh.

MÊ ( ) : Sắc đỏ, thoát Ngạ quỷ.

HÙM ( ) : Sắc đen, thoát Địa ngục.

Những màu sắc cũng như những cảnh giới vượt thoát khỏi, tương ứng với những hình ảnh của cận tử nghiệp hay thân trung ấm. Tuy nhiên, đề cập đến Liên hoa Bộ, chúng ta thấy rằng: Đây la một may mắn vô cùng cho các Phật tử, vì Chân ngôn Lục tự Đại Minh nầy là Pháp bảo của Đức Bồ tát Quán Thế Âm trao lại cho cuộc đờøi. Sáu chữ nầy có công năng đưa hành giả thoát ra khỏi Tam giới Lục đạo. Nhưng, làm sao để giải thoát ra khỏi khổ nạn nầy? Làm sao để trang nghiêm thân để thân là Bồ tát Quán Thế Âm? Làm sao để tìm học và thọ trì? v.v.. .

Trong Kinh, Đức Phật dạy: “Nếu Thiên nam và Thiện nữ y pháp niệm Sáu chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy, người đó chắc chắn đắc Tam-ma-địa, an trụ nơi đạo giải thoát, không thể nghỉ bàn.

Lúc đó, Bồ tát Trừ Cái Chướng bạch Phật rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Con phải đến nơi đâu để lảnh thọ Sáu chữ Đại Minh. Kính mong Ngài từ bi chỉ dạy”.

Phật dạy rằng: ‘Nầy Thiện nam tử! Ở tại thành Ba-la-nại có một vị Pháp sư, thường phát tâm khóa tụng thọ trì Sáu chữ nầy”.

- Bạch Đức Thế Tôn, con nay muốn qua thành đó và muốn được thấy Pháp sư để lễ bái cúng dường.

Phật dạy: “Lành thay Thiện nam tử! Ông nên biết rằng, vị Pháp sư kia rất khó gặp. Thấy được Pháp sư đó cũng như thấy Đức Như Lai, như thấy được công đức Thánh địa, như thấy phước đức chứa tụ, như Pháp tạng, như Châu Ma-ni Như Ý cứu đời.

Thiện nam tử! Nếu ông thấy vị Pháp sư đó, không được sanh lòng khinh mạn nghi ngờ. Thiện nam tử, cũng chớ nên thoái thất tâm Bồ đề. Ta sợ ông thoái thất địa vị Bồ tát, vì vị Pháp sư kia giới hạnh khuyết phạm, lại có vợ con, đại tiểu tiện dính dơ cà sa, trông không oai nghi”.

Bầy giờ Bồ tát Trừ Cái Chướng đem vô số chúng xuất gia Bồ tát, Trưởng giả, Đồng tử và vì muốn hưng khởi đại lễ cúng dường, nên đem Thiện Bảo Cái cõi Trời và các thứ mão báu, châu báu …và đến chỗ ở của Pháp sư, rồi cúi đầu đảnh lễ sát chân của Ngài để cầu Pháp Lục tự.

- Đây là Đại Pháp tạng, Cam lộ vị tạng, là bể pháp thâm sâu, vi diệu. Đức Như Lai Đẳng Giác biết rõ về ông. Nay tôi khao khát Chánh pháp, nguyện cầu ban cho Pháp vị khiến được an trụ nơi Pháp chủng Bồ đề.

Pháp sư nói rằng: “Nếu được sáu chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy, thì không thể bị ba độc tham-sân-si làm ô nhiễm. Như được Vô Thượng Trí, Như Đại Giải Thoát. Tất cả Trí tuệ Mẫu đều xuất phát từ đó, tất cả Như Lai Đẳng Giác và các vị Đại Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ. Thiện nam tử! Bồ tát tu pháp nầy, tức được đầy đủ Sáu Ba la mật”.

Bấy giờ Pháp sư Ngài hiện thân tướng Liên Hoa Thủ, Liên Hoa Cát Tường, Bồ tát Tự Tại Quán Thế Âm vì Bồ Tát Trừ Cái Chướng trao truyền Sáu Chữ Đại Minh Đà-la-ni”.

Tại sao cầu Sáu chữ Chơn ngôn nầy lại không cầu nơi Đức Phật, nơi các vị Đại Bồ tát hoặc các vị có những hình dạng đặc biệt hay hiển lộ ra những đức hạnh oai nghi, siêu việt v.v… làm dễ kính phục, mà lại cầu thọ lãnh Pháp nơi một vị Cư sĩ khiếm khuyết oai nghi, vợ con đùm đề, đại tiểu tiện dơ dáy, dính cà sa?

Như chúng ta được biết, Đạo Phật là đạo của hành động và hành động thì tác động lên tất cả mọi sự vật, mọi tư tưởng. Bản chất của hành động bao gồm Trí tuệ ( Sự hiểu biết ) và Từ bi ( Tình thương ).

Kinh Hoa Nghiệm nói rằng: “Nhất thiết duy tâm tạo”.

Tâm con người như người họa sĩ vẽ lên tất cả các nét của cuộc sống. Tâm là một năng lực có thể gây nên mọi sự mầu nhiệm hoặïc xấu xa. Cho nên, hành động theo đạo Phật như - bản chất- đưa chúng sanh đi thẳng vào Chân lý. Tuy nhiên, Chân lý lại không thể tách rời khỏi cuộc đời, khỏi con người, vì nếu trần gian ô trược nầy là đất chết, thì cũng chính nơi đây là đất sống, như phiền não tức Bồ đề. Không có một sự giải thoát nào tách rời khỏi con người hoặc cuộc đời uế nhiễm nầy.

Con ngươi vì do vô minh, vì thành kiến, cố chấp, thiếu thông cảm v.v..làm thành một lớp màn che phủ Chân tâm, tức Bản Giác.

Trong quyển Tự điển Phật học Hán Việt, Tập 2, trang 1684: Bồ tát Trừ Cái Chướng là tên tắt của “Trừ Nhất thiết Cái chướng”.

Cái là tên khác của phiền não, che lấp cái tâm của chúng sanh, làm chướng ngại Thánh đạo, khiến thiện tâm không nẩy nở được, ví dụ như Ngũ cái: 1- Tham dục, 2- Sân nhuế, 3- Thụy miên (Biếng nhác, ham ngủ), 4- Trạo hối (Xao động, hối hận) 5- Nghi pháp (Ngờ vực Chánh pháp) v.v… Như Kinh Vô Lượng Thọ, quyển Hạ nói: “ Sự thanh tịnh do xa lìa triền cái, cái tâm không lừơi biếng giải đãi” hoặc trong Pháp giới thứ đệ, quyển Thượng: “Cái có nghĩa là che lấp tâm hành giả, khiến lòng tin thanh tịnh không thể nẩy sanh được”.

Vị Bồ tát Trừ Cái Chướng biểu tượng như là một con người bình thường như chúng ta, là chúng ta. Một con người đang bị ràng buột trong với những nội kết, những đau thương của ngã và pháp chấp, tuy nhiên lại mang một tâm thức cầu đạo. Người đã mang nổi niềm khao khát giải thoát, hơi thở choáng ngợp trong sự tù hảm của nội tâm muốn vươn lên, hai tay chới với giữa khoảng không gian. Người đã đem tất cả những gì quý nhất để đảnh lễ vị Pháp sư để cầu thọ lảnh Sáu Chữ Đại Minh Đà-la-ni. Điều nầy làm cho chúng ta liên tưởng đến những mẩu chuyện kể về Tiền thân của Đức Phật đi cầu Pháp, chỉ 1 câu hay 1 bài kệ mặc dù phài hy sinh đến tánh mạng v.v.. Đó là những tấm lòng tha thiết vì sanh tử đại sự, vì muốn đắc thành Chánh quả.

Thành Phật có nghĩa là trở về Thủy giác, Chân tánh, cho nên không có nghiã là xa lánh cuộc đời. Sáu chữ Đà-la-ni mầu nhiệm nầy nằm sẳn trong tâm thức của mỗi người, mọi chúng sanh biểu hiện như lục dục, thất tình làm điên đảo con người. Thành Tất điạ có nghiã là chuyển lục thức thành Ngũ Trí Như Lai, chuyển Lục tự thành chân tâm tức xé bỏ mọi cái chướng, triền phược, chấp trước…

Bản giác ví như vàng khối, tức biểu tượng chúng sanh đều có Phật tánh. Còn Thủy giác ví như vàng đã thành những đồ mỹ khí, trở về Chân Như Thực tánh, hội nhập vào Bổn tôn hay Thực tại. Sự hội nhập nầy không phải bằng Trí năng mà bằng tất cả sự sống tâm linh, gột rửa con người hắc ám, củ kỷ, đạt đáo bỉ ngạn.

Vị Pháp sư hiện thân sống giữa đời và thành Phật giữa phiền nảo vô minh, như bông sen vươn lên giữa bùn lầy nhầy nhụa, như ánh mặt trời làm tan chảy những tảng băng dày đặc thành kiến, sai lầm.

Núi thành núi, sông thành sông

Đâu có gì sai khác giữa Phật và chúng sanh, giữa mê và ngộ. Pháp sư tuy ở giữa cuộc đời, nhưng Ngài đã thực chứng. Thực chứng bằng thực nghiệm của cuộc đời sanh tử, không phải là cái biết có tính cách lý luận của Trí năng, mà là cái biết đã được thực nghiệm bằng sự sống của bản thân. Ngài đã yêu cái trần gian , yêu chúng sanh vì đó là tâm của Ngài. Qua Kinh, trông Ngài vẻ bề ngoài như phi pháp, quần áo lôi thôi lếch thếch, ăn nói ngông nghênh, nhưng tất cả hành trạng đó chỉ để thể hiện hay biểu tượng cho cái tâm không vướng mắc, rong chơi, vuợt chốn nhị nguyên đối đải, hoàn toàn giải thoát.

Ngài đã quán chiếu thực tại và đi xuyên suốt thực tại và thực tuớng của nó, quán rõ cảnh giới đều do Tâm lưu xuất và đạt Đại Tự Tại. Quán biết căn cơ của chúng sanh mà hoá độ, nên Ngài là hiện thân của Đại bi Quán Thế Aâm , gần gủi chúng sanh, gần gũi con người, tự tại vô ngại mà thể hiện Bi Trí, Lý Sự vô ngại, đầy đủ đại hùng đại lực, xem thường tất cả mọi sự thăng trầm, khổ vui, phân biệt của cuộc đời.

Đó chính là bàn tay “Tài thủ đắc vật”, nói theo ngôn từ Mật giáo, có nghĩa là đầy đủ “phương tiện thiện xảo” để tuỳ căm cơ độ sanh. Còn gọi là Đà-la-ni môn, theo Kinh Lăng Nghiêm nói:” Khi đã chứng được Đà la ni môn nầy là chứng biết vạn pháp sai biệt” hay còn gị là “Du hí thần thông tam muội”, đi vào cuộc đời sanh tử như một trò du hí độ sanh.

Thiền sư Lâm Tế nói về Du hí Thần thông như sau:” Vào thế giới sắc không bị sắc đánh lưà,vào thế giới âm thanh không bị âm thanh đánh lừa, vào thế giới hương-vị-xúc-pháp không bị hương-vị-xúc-pháp đánh lừa. Thành tựu được sáu thần thông tức đạt được Không tướng của Sáu trần. Tuy còn là thân ngũ uẩn hữu lậu, nhưng thực là đang đi thần thông trên đất”.

Câu nói nầy hẳn nhiên bổ túc, bóc trần được hình ảnh linh động, kỳ đặc của Pháp sư tứ c Bồ tát Đai bi Quán Thế Aâm qua biểu tượng trong Kinh Đại thừa Trang Nghiêm Bảo Vương.

Do đó, Đức Phật mới nói với Bồ tát Trừ Cái Chướng (Đây có nghĩa Sở tri, chướng ngại, định kiến ) rằng: ”Pháp sư đó thường phát tâm koá tụng, thọ trì Lục tự nầy (sống hồn nhiên trong Đại bi Thai tạng giới ), nên thấy vị Pháp sư đó cũng như thấy Đức Như lai. Đây là Pháp tạng (Chân tâm hay Châu Ma-ni Như ý (thể hiện Đại bi) và Pháp sư sống giữa đời thưòng để giác ngộ cuộc đời, ban vui cứu khổ.

Qua Mật giáo, qua Liên hoa bộ mà Đức Bồ tát Quán Thế Aâm là Chù bộ, chúng ta nhận thấy Ngài không chỉ hiện thân trên con người, vì con ngưòi, mà còn hoá thân vì những chủng loại khác nhau như : noãn, thai, thấp, hoá v.v.. vì tâm bao trùm tất cả. Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói rằng:” Phải biết hư không sanh trong tâm của ông, cũng như một đám mây điểm giữa bầu trời, huống là các thế giới ở trong hư không”.

Chân tâm rộng lớn, biến khắp viên mãn, bao gồm mười phương.

Chúng ta từ vô thủy đến nay không rõ tâm nầy, vọng thấy các tướng cũng như con mắt bệnh, nên thấy hoa đốm giữa hư không. Ơû trong Chân tâm vốn đầy đủ vô tận sắc tâm công đức, tức cùng Tỳ-lô-giá-na ( Vairocana ) thân tâm bình đẳng. Cho nên, muốn thành tựu Phật quả, cần phải ngộ Tỳ-lô-giá-na giới.

Ngài Thành Lương thì nói rằng:” Không nương sự Ngộ nầy, việc làm không chân chánh, sự tu hành của mình sẽ ràng buộc thành nghiệp ”. Cho nên, Chân tâm nầy biểu tượng là Đàn tròn ( Viên Đàn ) trong Bộ Liên Hoa của Mật giáo, bao gồm Bi-Trí, Lý-Sự viên dung.

Theo Đại Trí Độ Luận viết: “Mọi hiện tương đều gồm trong 2 phạm trù Vật lý và Tâm lý, ngoài ra không còn gì khác. Trên phương diện phân biệt, ta nhận thấy Tâm và Vật khác nhau, nhưng trên bình diện Giác ngộ, mọi hiện tựơng đều từ Tâm. Tâm mầu nhiệm mà Vật cũng mầu nhiệm ( Diệu Sắc Diệu Tâm ). Tâm là Vật, mà Vật cũng là Tâm, ngoài Tâm không Vật, ngoài Vật không Tâm. Cả 2 tương nhiếp lẫn nhau, nên gọi là bất nhị”.

Câu nầy cũng nói lên tinh thần của Liên Hoa bộ, như đã nói ở trước, Liên hoa bộ bao gồm đủ : Phật, Liên hoa và Kim cang bộ. Phật bộ là Thực tại, biểu tượng là hình vòng tròn hàm chứa Bi Trí, Tâm Vật….đây là ý nghiã thể nhập vào Bổn tôn hay đắc Tam mật gia trì của Mật giáo.

Trong Kinh Dịch có nói: “Tẩy tâm, thối tàng ư Mật “.

Chữ Mật nầy thì đồng nghĩa với Chân tâm. “Tẩy tâm” là gột rửa Tâm mình, gột rửa những meo mốc của quá khứ, những thành kiến phải quấy, thiện ác v.v…để trở về với Chân tâm. Chân tâm khác với cái tâm nhị nguyên. Ơû đây, Chân tâm là biểu tượng cho cái vòng tròn, như cái lòng của biển cả.

Theo quan niệm “vật thể “ của Tây phương, vòng tròn hònh căng lên giống như cái bầu của người đàn bà. Do đó, thường biểu tượng cho đàn bà và sự sanh nở qua những nét tròn.

Quan niệm của Đông phương, tròn là biểu tượng cho sự biến dịch, va chạm vào nhau mà không gây hại cho nhau. Đây là hoà đồng phải có trong mọi sự sống chung, để sanh tồn. Ví dụ: gặp thhời tiết băng giá hoặc điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thù ngịch,; thì loài vật có khuynh hướng thu tròn lại để bảo tồn năng lượng.

Còn quan niệm của Mật giáo, vòng tròn biểu tượng cho Đại Viên Cảnh trí, như các Kinh Đà-la-ni trì tụng Pháp nói:” Tam ma địa hay Du già trì là tưởng Tâm thành vòng tròn sáng” (Mặt nguyệt )

Mật giáo chỉ thẳng chân tâm, không qua con đường lý luận trí năng. Vị Du già sư qua Đàn pháp, Ấn khế, Chân ngôn v.v…đẩy hành giả vào tâm điểm của vòng tròn, đó là tâm điểm của Thực tại. Dĩ nhiên, người hành giả đã trải qua bao nhiêu là thăng trầm, miên mật trong biển Pháp và vị du già su đã nhìn thấy ra căn cơ đã chín nuồi. Đàn Pháp chỉ là môi giới làm cho hành giả thể nhập thẳng vào dòng sống đó.

Chúng ta phải quen với ngôn ngữ Mật giáo, vì ngôn ngữ đó thường biểu lộ qua Ấn khế, Quán tưởng, Chân ngôn, Đàn pháp, vì đó bao hàm nội dung hoặc Tâm ấn ẩn tàng sự Giác ngộ của Bổn tôn hay Đức Phật hoặc vị Thượng sư. Về mặt Lý tánh, thì đồng thể giữa chúng sanh và Phật. Về mặt sai biệt, như trong Hiển Mật ViênThông nói:” Ly tướng ngoài cầu lấy Vô tướng” và Vô tướng chính là Thực Tướng.

Kinh Quảng Bát lầu Cát còn nói rằng:” Chân ngôn là Mẹ của chư Phật”. Thần Biến sớ gọi đó là Vô tướng Pháp giới. Mỗi mỗi chữ đều gồm đủ Giới-Định-Huệ, đủ muôn hạnh không ngoài Lục độ, Lục độ không lià Tam học”.û

Vì thế, chân ngôn cần phải được Mật truyền, không được giải thích, vì nếu giải thích từng chữ, từng câu sẽ không đủ hết ý nghiã, hơn nữa, còn thành những ý niệm, định niệm, phân đoạn v.v…khiến hành già xa lìa Chân tâm. Khi chia xẻ Thực tại, Thực sẽ là vô nghĩa.

“Thời gian suy nghĩ, mây xa ngàn dậm” ( Thiền sư Trí Bảo, phái Vô ngôn Thông ở Việt Nam ).

Tuy nhiên, làm hiển lộ Chân tâm hay thể nhập vào Tâm ấn của Đức Như lai ( Đại bi Thai tạng giới ) được hay không, phải do Công Năng miên mật của hành giả. Tại sao phải hội đủ Công Năng?- vì lẻ, như yá nghĩa được nói sau về Công Năng: Tinh Cần tu hành, gọi đó là Công và phải đủ Tín nguyện, đó là Năng.

Không hành trì, không Tín nguyện, chúng ta mãi mãi đứng xa khoảng trời Mật nhủ, trừ phi phải là bậc đã đầy đủ túc duyên, gieo trồng căn lành nhiều đời nhiều kiếp.

Do Công Năng nầy, hành giả liên tục gia trì ( miên mật) trong dòng sống Thực tại, kết được Thánh thai Đại bi Quán Thế Âm, vì làm bùng vở cái hữu ngã, chấp trước, vị ngã để nhảy vào vô ngã, một chân trời thênh thang, vô tướng, vô cầu, nhưng đầy hạnh Đại bi.

Trong Kinh Tăng A-hàm viết:”Tác ý tức nghiệp” hay Kinh Kim Cang:”Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Nghiệp ở đây là Bạch tịnh nghiệp, đã tịnh hoá, trở về với Chân tâm. Như Lục tự Đại minh còn nói:” màu trắng là tổng hợp của 7 màu, nó chỉ cho sự bao dung vô cùng tận trong sự hoà hợp của Tâm hư”.

Vào thế kỷ 17, nhà Bác học Newton sau khi làm thí nghiệm ánh sáng mặt trời xuyên qua hình lăng trụ bằng thủy tinh, đã đi kết luận sau:” Một mảnh thủy tinh hình lăng trụ có thể phân chia ánh sáng mặt trời thành 7 màu khác nhau”.

Các nhà Bác học thường gọi màu sắc trên là linh hồn của ánh sáng. Hai nhà Bác học Thụy sĩ là Georg Agricola (1499-1555)- người lập ra ngành mỏ và Paracelse (1493-1544)- người cha đẻ của thuật luyện kim đơn, đã phát hiện rằng:” Từ màu sắc của ngọn lửa, chúng ta suy luận và biết vật thể đang cháy”.

Qua phương pháp suy luận qui nạp, chúng ta nhận thức rõ màu trắng là tổng hợp của 7 màu và qua Mật giáo, Bạch tịnh thức bao hàm sự chuyển y, chuyển hoá của lục dục thất tình hay “Phiền nảo tức Bồ đề”. Đây là đường rrở về Chân tâm và Khí.

Mật giáo quan niệm rằng làm chủ được thân-khẩu-ý, tức đạt được tam muội ( Chánh định ). Cũng như nếu biết xử dụng hơi thở (khí) và âm thanh (Phạm âm) sẽ tạo ra được những luồng ba động có năng lực sáng tạo. Năng lực sáng tạo nầy trưởng dưỡng Thánh thai Đại bi và Trí tuệ, do sự trở về với Bạch Tịnh Thức.

Chủng tử của Bạch tịnh thức theo Đại bi Quán Thế Âm hay Liên hoa bộ là Hật-rị ( Hrih ). Theo A-di-đà Nhất tự Tâm chú, chân ngôn chủng tử nầy luôn luôn đi theo với Lục tự : Om- Mani Padme Hùm, Hrih ( Đoá sen trong viên ngọc ma-ni ( như ý ) được hình thành trong Bạch tịnh thức.

Chữ Hrih gồm đủ 4 chữ để thành một chân ngôn. Chữ HA

( H ) tự môn, có nghiã là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA

( R ) tự môn, nghiã là tất cả pháp ly trần. Trần nghiã là ngũ trần gồm: sắc-thanh-hương-vị-xúc. Đây, cũng gọi là 2 thứ chấp trước Năng thủ và Sở thủ. Chũ Y ( I ) là tự tại bất khả đắc. Chữ ÁC ( H ) gọi là Niết bàn. Do Giác ngộ các pháp vốn không sanh, xa lià 2 thứ chấp trước, nên chứng được Pháp giới thanh tịnh.

Chữ Hrih nầy cũng gọi là tâm hổ thẹn, hay Tàm quí. Thẹn với luơng tâm mình, và xấu hổ đối với nguời khác, vì thế không làm điều bất thiện, đầy đủ tất cả các pháp lành vô lậu. Trong Liên hoa Bộ gọi là Pháp bộ, chuyển thành Diệu dụng. Do chuyển được Lục dục thành Tịnh thức, đây là Tịnh thổ của Tâm do sự trở về (chuyển y) và phương Tây là biểu tượng của Tịnh thức nầy. Mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương tây.

Qua đôi mắt hạn hẹp của chúng ta, mặt trời đã lặn khi ở cuối phương tây. Nhưng, nó lặn để mà mọc lại rõ ràng ánh sáng rực của buổi bình minh: Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự trôi qua, ngày lại đến đêm, rồi lại ngày. Nơi nầy vừa chấm dứt, nơi kia lại bắt đầu, liên tục…

Thiền sư Mãn Giác nói rằng:


Mạc vị xuân, hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ, nhất chi mai


Dịch:

Chớ bảo xuân tàn, hoa rụng hết

Đêm qua sân trước, một cành mai

Theo Abhidharma :”Sự sanh và sự chết bất cứ lúc nào cũng xuất hiện đồng thời”.

Cho nên, trở về với Tịnh thổ, có nghĩa là chết đi con người cũ kỷ, con nguời của sách vở, của của xã hội, của nhị nguyên, của nhân vị tạo thành. Con người của kiến thức, của truyền thống lâu đời không biến cải v.v… ( Huyền nhai tận thủ, tuyệt hậu tái sanh : Vực thẳm buông tay, chết đi sống lại ).

Không chết con người nầy, sẽ không bao giờ chuyển y được và sẽ không là con người của Đại bi Đại trí. ôm cái vị ngã hạn hẹp vào mình, thì bầu trời bao la chỉ còn gom lại trong lòng bàn tay, chật cứng. Chết đi con người cũ, nghĩa là phá tung cái vị ngã để hoà vào vô ngã, của vùng trời bao la vô cùng tận.

Ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Nhất hồi niêm xuất, nhất hồi xuân “. Con người mới, con người của vô ngã, của cái tâm bao dung, là con người giải thoát tự tại, và là một Đại bi Quán Thế Âm. Đó là một biểu tượng cực đẹp, sống động ban vui cứu khổ, là cứu cánh của Mật giáo.

Trên cái bàn viết của tôi, motä cái lọ nhỏ nằm trên bàn, vài nhánh cây vạn niên thanh ( tên thường gọi là cây trầu bà ) được cắm vào đó, lẫn với sỏi, nuớc. Mỗi ngày, tôi nhìn nó và uớc muốn nó sẽ lớn, xanh. Nay thì nó đã thêm nhiều lá,xanh mưót, tràn đầy sức sống, yểu điệu, vươn mình khoe sắc. Từ cuối thân, những mầm rễ trắng nhú ra, mỉm cười. Có những nhánh dài màu xám nhạt, len lỏi qua kẻ hở của những hạt sỏi chồng chất nhau, bám rễ và hút nước. Một mẫu thiên nhiên nhỏ được tôi nuôi dưỡng bằng chính tình thương của tôi. Tôi đã nhìn nó hàng ngày và nó đã sống dậy, không chỉ vì nuớc mà còn, cũng vì lòng thương, tình cảm của người bạn săn sóc nó.

Tình thương phải chăng làm cho cuộc sống có ý nghĩa và sống dậy. Chúng ta đã có bài học yêu thương đầu đời bằng tình thương của cha mẹ và khi lớn lên, với thiên nhiên, với mọi sự vật chung quanh. Sự hiện hữu của một người là do tình thương của bao nhiêu ngưòi khác, tương tức tương nhập và ngược lại. Sự dau khổ, sự vô thường, sự chia cách, được thua, vinh nhục, giàu nghèo v.v..đã không làm cho chúng ta trưởng thành và nhiều tình thương hơn sao?

Cho nên, tình thương chính là sự sống. Sự sống vươn mình hiển hiện khắp mọi nơi, thì Đại bi Quán Thế Âm cũng thể hiện, phân hình khắùp nơi chốn cần cầu. Tình thương- đó là Phật giáo, vì đến từ cái tâm trưởng thành. Tình thương không thể có trong một con ngưòi nhiều thành kiến, đố kỵ, hận thù…Tình thương chỉ có thật khi con người thông cảm lẫn nhau do sự hiểu biết chân thành và nhận ra nhau là những vị Phật sẽ thành. Những lớp phủ bề ngoài chỉ là những nghiệp lực tác động đến, còn Tâm Phật vẫn luôn ngời sáng.

Đời sống cuồn cuộn trôi như nước chảy qua cầu, có ai bắt được dòng nuớc vừa trôi qua. Mọi sự luôn biến dịch trong từng sát na một, nhưng mỗi lúc lại chứa đựng cả thiên thu. Trong nhà thiền gọi là: “Nhất niệm vạn niên “.

Chúng ta đang đứng trước một nền văn minh vật chất cực thịnh, quay cuồng mọi người trong những mắc xích, mà mỗi người là một mắc trong đó. Chúng ta chạy theo thời gian, dù thời gian vật lý một ngày chỉ có 24 giờ, ta vẫn cảm thấây thiếu, vì tâm luôn bất an. Chúng ta nhận lầm tiến bộ vật chất là tiến bộ tâm linh và vô tình, lại đang bán linh hồn cho những tiện nghi đó. Cho nên, tấm lòng Đại bi thể hiện trong lúc nầy là cùng nhau làm cho vật chất có ý nghĩa tiến bộ thực sự là để phục vụ con người đúng nghĩa. Và chung quanh chúng ta, bao hoàn cảnh đau khổ đã đang có mặt, trong ta hay trong những người thân, bạn bè, người xa lạ…Chiến tranh, thiên tai, nạn tại và là nổi bức xúc thường trực ảnh hưởng đến mọi thân phận con người, bất kể địa phương, giai cấp, màu da chủng tộc, tôn giáo, văn hoá v.v..Hình ảnh của Đại bi Quán Thế Âm trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, để Chánh báo chuyển hoá Y báo, để cảnh khổ được dập tắt, lò lửa hận thù biến thành lò sen thanh khiết, diệu hiền.

Thực sự, cuộc sống không có gì mâu thuẩn; mâu thuẫn hay không là do chúng ta đem đến cho nó với ý niệm vị kỷ, đặt định, ưa ghét, khen chê v.v…Con người là một cái gì vô tậtn (Phật tánh), cuộc sống cũng vô tận (Pháp giới sum la vạn tượng, trùng trùng duyên khởi). Đem cái vô tận ở bên trong mà ứng với cái vô tận ở bên ngoài, đó gọi là Đại bi Quán Thế Âm.

Làm sống lại hình ảnh của Bồ tát Quán thế Âm trong Mât giáo, chủ đích của chúng tôi mong ước rằng tất cả chúng ta hãy trở về với Quán Thế Âm của tự tánh mà mọi người đều có đủ, để cứu khổ ban vui cho mình, cho tất cả mọi người, mà chính ta cũng là một sự sống trong đó.

Có đường nào không quanh co, khúc khuỷu

Có đuờng nào thẳng hoài, êm dịu bước chân đi

Người có đến, có đi

Cỏ cây, hoa lá đều vẫn vậy

Chim vẫn hót reo vui trong trong nắng bình minh

Hay buổi chiều tà về nắng nhạt

Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự trôi qua

Đã bao lần, ta không nhìn thấy

Nhưng hôm nay, Ngài đến

Mắt Liên hoa nhìn suốt đại thiên

Những tia sáng dịu hiền, mắt trong như nước cam lộ

Bàn tay Phât thủ giang rộng đến vô thỉ vô chung

Mảnh Thiên y khua động bao tầng vũ trụ

Nhành dương chi rải, dập tắt mọi hận thù,

vén lên màn ánh sáng

Đại bi Quán Thế Âm!

Người hởi người!

Người là ta hay ta chính là Người

Ta vẫn thấy người trong mọi sinh vật

Vẫn thấy Nguời trong vô cùng pháp giới

Ta vẫn thấy trong mỗi cầu mong, tâm niệm

Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự trôi qua

Chim vẫn reo vui

Cỏ cây hoa lá đều cũng vậy….

Tiết Hạ năm Mậu Thìn

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 17/01/14 23:19 

nhận thấy đây là câu hỏi của nhiều đạo hữu sơ cơ mới bước chân vào tu tập mật chú , nên Minh Thiên trả lời lên đây để giúp các bạn hiểu thêm và vững tin vào con đường tu tập, bởi vì những cái gì mà Minh Thiên đã trải qua và làm được thì chắc chắn các bạn cũng sẽ làm được và đây là câu hỏi của bạn Nghĩa cư trú tại Anh quốc:
Em rất cảm ơn anh đã truyền pháp cho em! Mấy ngày qua em bắt đầu tập ! Cho em hỏi thêm chữ ram có phải là chữ nho màu đỏ gồm 2 chữ bên trên hay không ạ? Hay là quán chữ Ram như tiếng việt ạ! Chư nho ấy rất nhiều nét rất khó ạ! Xin anh chỉ dạy dùm em

Minh Thiên trả lời :
chữ mầu đỏ đấy gồm có cái chấm ở trên là đúng rồi em a, đó là chữ phạn chứ không phải chữ nho.
em đầu tiên mở mắt nhìn kỹ chữ đó rồi nhắm mắt quán tưởng ra nó, sau đó lại mở mắt nhìn nó rồi lại nhắm mắt quán tưởng đến nó, đầu tiên nó sẽ phai mờ phù trầm không rõ nét, được dấu chấm thì mất cái thân, được thân thì mất dấu chấm,nhưng rồi dần dần khi em kiên trì luyện tập thì bất ngờ đến một lúc nào đó nó bất thình lình hiển hiện rõ ràng và cháy sáng rực đến nỗi mắt em lúc đó đang nhắm mà vẫn thấy chói sáng như đèn hồ quang và rồi sau đó bất kỳ khi em nhắm mắt hay mở mắt nếu muốn nhìn thấy nó thì nó đều xuất hiện, và khi đó em còn có thể dùng ý nghĩ để điều khiển nó to hay nhỏ chạy ra xa hay gần hoặc biến ra thành trăm ngàn chữ RAM tự khác đầy cả bầu trời.
trong tu trì mật pháp thì giai đoạn quán tưởng các chủng tử Phạn tự là vô cùng quan trọng, thành công chỉ đến với những ai vượt qua khó khăn và nhẫn nại.
em trong giai đoạn sơ cơ thì việc quán tưởng với một chữ Ram đó thì chưa ăn thua, bản thân anh lúc này mỗi khi ngồi còn quán ra cả một cái kính đàn trắng bạc nằm trong vòng lửa đỏ có 9 chữ chuẩn đề có 5 màu sắc khác nhau, đường nét rõ ràng phát ra hào quang khắp 10 phương thế giới, nếu chỉ so với một chữ ram tự của em thì quá bình thường và đơn giản.
trong vòng một trăm ngày em không nên đọc sách hay tài liệu gì khác nữa mà hãy chuyên tâm vào việc luyện âm thanh và quán tưởng chữ RAM tự đó thôi thì sẽ mau thành công.
lúc đầu khi anh đọc tài liệu về mật chú, anh cũng không tin là các bậc chân sư mật tông có thể quán được cả một thế giới trong một hạt đỗ, nhưng càng theo thời gian thì bây giờ anh công nhận điều đó là sự hiển nhiên, và vì anh cũng là một con người bình thường như em đã làm được thì chắc chắn em cũng sẽ làm được, lâu hay mau còn tùy thuộc theo ý chí của em.
anh chúc em mau chóng vượt qua giai đoạn đầu này.

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
Đã gửi: Thứ 5 14/02/13 23:13 


PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

Bài pháp có tên là “Phát Bồ-đề Tâm” hay Phát tâm Bồ-đề, tức là tâm giác ngộ. Tất cả quý vị ở đây đều là Phật tử, là con bậc giác ngộ, mình phải học theo bậc giác ngộ. Học phát tâm Bồ-đề là học giác ngộ để xứng đáng với tên Phật tử của mình.

I. THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC, PHẬT PHÁP KHÓ NGHE

Trước hết, nói qua ý nghĩa việc mình được thân người. Phật nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Quý vị thấy mình được thân người cũng đâu khó gì, pháp mình cũng được nghe đâu thấy khó gì, sao Phật lại nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”? Phật dạy: “Trong kiếp luân hồi sinh tử này chúng ta được thân người là việc rất hy hữu, đâu phải chuyện thường”. Kinh có một ví dụ: Được thân người giống như rùa mù gặp được bọng cây. Trong biển cả to lớn có khúc cây mục, trong khúc cây có một bọng trống lớn, gió thổi sóng đưa khúc cây qua lại, dưới biển có con rùa mù mắt, trăm năm mới nổi lên một lần. Khi nổi lên làm sao mà vào trúng bọng cây đó, có dễ hay không? Rùa có mắt sáng đã khó rồi vì bọng cây không đứng một chỗ, cứ trôi qua trôi lại. Con rùa mù có thể nổi lên vào trúng bọng cây là chuyện hy hữu. Chúng ta được thân người ở đây cũng như vậy. Nếu người không hiểu đạo, ba nghiệp thân, khẩu, ý cứ tạo nghiệp thì dễ đọa vào trong các đường ác, biết bao giờ mới trở lại thân người. Nói thân người khó được là như vậy. Khi chết thì nghiệp cứ dẫn đi chứ không ai chọn được đường đi, nếu lỡ sinh vào các loài súc sanh hay ngạ quỷ thì kiếp sống rất lâu dài, không biết bao giờ mới ra được.

Có câu chuyện về Tổ Xà-già-đa ở Ấn Độ, một hôm Tổ đi vào thành, tới cửa gặp một con ngạ quỷ đang đứng khóc. Ngài đã chứng Thánh quả, có thiên nhãn nên mới thấy được như vậy.

Ngài hỏi:

- Vì sao con khóc?

Quỷ con trả lời:

- Mẹ con sinh con ra chưa được bao lâu thì đi vào thành này tìm thức ăn, con chờ lâu quá mà không thấy mẹ con ra. Con đang đói khát, mong Ngài vào thành có gặp mẹ con thì nhắn lại dùm.

Ngài đi vào thành thì gặp ngạ quỷ mẹ.

Ngài hỏi:

- Sao ngươi vào đây lại để con ngươi đói khát đứng ngoài thành chờ?

Quỷ mẹ đáp:

- Bạch Ngài, con vừa mới sinh ra nó, còn đang yếu vào đây tìm thức ăn, tìm được chút gì thì bị những loài quỷ khác mạnh giựt hết. Vừa rồi, con thấy một người đang bệnh ói mửa bên đường, con lấy được thức ăn đó định mang ra cho con nhưng sợ vị thần giữ cửa thành ngăn lại. Xin Ngài ủng hộ giúp con đi ra để cho con của con ăn, vì nó đói khát lâu lắm rồi.

Ngài nhận giúp đưa ra, xong lại hỏi:

- Ngươi sinh vào loài ngạ quỷ bao lâu và bao lâu nữa mới hết kiếp ngạ quỷ?

Quỷ mẹ trả lời:

- Con cũng không nhớ là đã bao lâu và cũng không biết bao lâu mới hết kiếp này. Nhưng con ở đây, đã thấy thành này bảy lần thành rồi hoại, mà con vẫn còn đây.

Vậy quý Phật tử thấy thời gian là bao lâu, bảy lần thành hoại như vậy là bao nhiêu năm? Nên Phật mới nói: “Mất thân người rất khó được trở lại, được thân người rất quý hiếm”. Khi có được thân rồi thì cũng không bền chắc, không đảm bảo lâu dài.

Quý Phật tử có ai dám bảo mình sống được bao lâu không? Phật dạy mạng sống con người là trong hơi thở. Mọi người nhìn thấy cái tướng thô của thân, nên nghĩ sinh ra ít nhất cũng sống vài chục năm. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, có một lần Phật muốn thử các vị Tỳ-kheo nên hỏi: “Mạng người sống được bao lâu?”.

Có vị Tỳ-kheo đáp:

- Bạch Thế Tôn mạng người sống trong nửa ngày.

Phật không chấp nhận, nói:

- Ông chưa hiểu đạo.

Một vị khác bạch:

- Bạch Thế Tôn, mạng sống của con người chỉ trong bữa ăn.

Một vị khác trả lời:

- Bạch Thế Tôn, mạng sống của con người chỉ trong trong hơi thở.

Phật gật đầu nói:

- Ông hiểu đạo.

Thấy mạng sống trong hơi thở mới thấy đúng lẽ thật. Nếu quý Phật tử quán cho kỹ sẽ thấy đúng là mạng sống chỉ trong hơi thở.

Ví dụ: Từ đây đi tới trung tâm thành phố là mười lăm cây số. Đó là chúng ta thấy theo con mắt thường của mình, cứ tưởng như vậy là chính xác, nhưng chưa chính xác đâu! Khi chúng ta muốn đi qua mười lăm cây số đó, trước hết phải đi qua từng cây số một, từng mét, từng bước. Nếu đứng một chỗ thì làm sao tới được mười lăm cây số đó. Nhưng thường người ta ít nhìn thấu đến chỗ vi tế như vậy, chỉ nhìn thấy tướng thô. Chẳng hạn khi ta đốt một cây nhang, quay một vòng thì ta thấy cái vòng tròn, nhưng thật ra không phải là vòng tròn mà là từng chấm lửa, nó kết lại quá nhanh khiến mắt ta nhìn thấy một vòng tròn. Cũng vậy, sở dĩ ta sống được sáu, bảy chục năm thì phải qua từng hơi thở, cộng lại thì mới thành được sáu, bảy chục năm. Nếu trong khoảng giữa đó có một, hai hơi thở không cộng lại thì sao? Vậy có phải mạng sống là trong hơi thở không? Nếu nói mạng sống trong bữa ăn thì khoảng mười hơi thở không cộng lại đâu có ý nghĩa gì, vì mạng sống tới một bữa ăn kia mà! Cho nên Phật nói: “Mạng sống của người chỉ trong hơi thở”, nhưng thường thì chúng ta thấy mạng sống tới sáu, bảy chục năm nên thấy nó dài rồi dính mắc vào nó.

Người Tây Tạng có một câu ngạn ngữ “Ngày mai hay đời sau cái gì tới trước ta không thể biết được”. Chúng ta không thể biết được ngày mai tới trước hay đời sau tới trước. Có khi ngủ dậy là đi rồi, thế nên người Tây Tạng thấm sâu Phật pháp. Có một vị thầy nổi tiếng người Tây Tạng, mỗi đêm lúc đi ngủ, Ngài luôn rửa sạch tách, bình trà lau khô rồi gói lại cất trên đầu giường. Ngài nói vì ngủ rồi thì không chắc chắn có thức dậy được không? Nếu mỗi người chúng ta mà thấy được như vậy thì tu rất là mau tiến. Thân người mỏng manh như vậy mà mình không lo chuẩn bị tìm cái gì cao quý hơn để nương tựa, lại cứ bám chắc vào cái mỏng manh, bấp bênh này thành khổ. Cái cao quý, đó là Phật pháp. Nhưng Phật pháp đâu dễ cho người nghe, như trong bài kệ khai kinh:

“Vô thương thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ v.v...”
Dịch:
“Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu v.v...”

Nếu sinh ra vào những vùng xa như vùng dân tộc thiểu số, có dễ nghe được Phật pháp không? Hoặc khi sinh ra bị tật nguyền đui điếc thì có dễ nghe không? Ở Ấn Độ, ngay thời Phật còn tại thế, có bao nhiêu người được nghe Phật pháp? Đâu phải thời đó toàn xứ Ấn Độ ai cũng được nghe. Quán kỹ thì mới thấy được cái phước duyên của mình, nên phải trân quý. Nếu không có duyên với Phật pháp thì không biết hiện giờ mình đang ngồi ở đâu, trong loài nào? Vậy mới thấy được chỗ đáng quý của mình, chứ không thì nghĩ: “Phật nói: “Phật pháp khó nghe”, sao mình nghe hoài mà đâu có thấy khó gì!”.

II. CÓ ĐẠO LÀ QUÍ

Nếu là người không biết Phật pháp, sống theo tham, sân, si mặc tình tạo nghiệp không lường. Lúc đó, cuộc đời mình thật đen tối, không có điểm tựa, đến khi thở ra không hít vào, không biết mình sẽ đi về đâu, rồi đau khổ, chới với.

Vì vậy, vua Trần Thái Tông có bài kệ nhắc cho người nhớ về sắc thân của mình là:

Bỗng mất thân người khi trước,
Trở lại mang lấy đãy da.
Đội lông mang sừng, hàm sắc dây yên,
Lấy thịt nuôi người, dùng mạng trả nợ.
Sanh thì bị khổ dao bằm, chày nện,
Sống thì bị nạn nước sôi lửa bỏng.
Hằng chứa oán thù, thay nhau ăn nuốt.
Khi đó mới hối hận, học đạo không có nhân.

Có nghĩa là khi mất thân người, do nghiệp xấu đã tạo chúng ta phải sinh vào loài này, loài kia để trả nợ. Vào đó rồi thì khổ biết bao nhiêu! Vì sinh vào loài đó là để trả nợ, khi người đến đòi nợ thì mình sinh hận trở lại người ta, rồi lại chất chứa oán thù với nhau. Ân oán từ đời này qua đời kia theo vòng luân hồi xoay mãi. Khi đó, hối hận trước kia không biết tu, giờ không có nhân lành để học đạo, không điểm tựa, rất khổ sở, đâu ai cứu mình được.

Phật không cứu được mình mà mình phải tự cứu mình. Phật chỉ là bậc thầy dẫn đường chỉ Phật pháp, chỉ rõ con đường an vui hay đau khổ cho chúng ta. Muốn an vui thì đi con đường an vui, đừng đi con đường đau khổ. Đó là Phật cứu khổ cho chúng ta rồi. Phật chỉ đường mình không đi, Ngài chỉ đường an vui mà mình đi con đường đau khổ, rồi kêu Phật cứu thì làm sao Phật cứu được. Điều đó rất thực tế. Nên vua Trần Thái Tông nói tiếp: “Chỉ bằng ngay đây tu tập, chớ để đời này trôi qua. Đức Phật Thích Ca trước bỏ hoàng cung để vào núi Tuyết. Cư sĩ Bàng Uẩn đem gia tài đổ xuống biển sâu”.

Vua khuyên mình ngày ngày nên tu tập, chớ để đời sống trôi qua, rồi sau đó hối hận. Vua dẫn chứng Đức Phật Thích Ca sống trong hoàng cung cao quý nhưng cũng bỏ đi vào rừng tìm đạo. Cư sĩ Bàng Uẩn cũng vậy. Khi giác ngộ rồi, ông đem gia tài, của cải chất xuống thuyền, chở ra biển bỏ hết. Có người nghe tin tiếc hỏi sao ông không đem bố thí để được phước. Đó là chúng ta nhìn theo quan niệm của chúng ta, nghĩ đem của cải bỏ như vậy quá uổng. Nhưng cư sĩ nhìn theo cái nhìn của người giác ngộ, chính của cải là nguyên nhân gây nên lòng tham, đem đến nguy hiểm cho con người. Vì giác ngộ, không muốn người khác đi theo dấu vết đó nữa nên ông mới vất bỏ chúng đi. Trong kinh kể có lần Phật đi đường thấy vàng rơi, Phật chỉ cho ngài A-nan và nói đó là rắn độc.

Ở đây, vua Trần Thái Tông cũng thấy được điều đó. Dù là một ông vua, Ngài vẫn khuyên mọi người khéo học đạo tu hành, phát tâm giác ngộ, chớ có tham luyến, đắm say thế gian vô thường. Vì sống trong thế gian nên phải tạm nhờ vào của cải, sự nghiệp thế gian. Chúng ta lại thấy của cải là thật của mình, nhưng theo Phật dạy thì của cải này là của năm nhà: nước, lửa, trộm cướp, vua quan, con bất hiếu. Sự nghiệp của cải đó gặp nước lụt, lửa cháy, trộm cướp thì sao? Sẽ tiêu tan hết. Nếu có tội thì bị vua quan tịch thu hết, có con hư nghiện xì ke, ma tuý phá hết. Cho nên, của cải không phải là của mình mà là của năm nhà.

Thân này cũng vậy, tạm nương ở đây, cuối cùng cũng bỏ. Biết vậy mà không học đạo để sáng tỏ, đó là mê. Người hiểu được rồi mới thấy lo sợ. Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ nhất có bài kệ:

Thân thể nằm dài trên giường lần cuối
Miệng thì thào những lời trăn trối
Tâm ngắm nhìn ký ức lần cuối diễn ra
Bi kịch ấy khi nào sẽ đến với người.

Đến lúc nào đó thân nằm dài trên giường bệnh, miệng thì thào nói lời trăn trôùi, khi sắp ra đi thì những ký ức trong đời quay lại giống như cuộn phim. Trước tạo nghiệp gì, giờ hiện ra hết. Tạo nghiệp lành thì hiện ra nghiệp lành, điều tốt thì ta thấy vui vẻ đi vào đường lành, đường tốt. Nếu tạo nghiệp ác, nghiệp dữ nó quay lại những cảnh xấu thì sợ hãi, làm tâm mình rối loạn, đi vào cảnh xấu. Và ai cũng đi đến giây phút đó. Cho nên, Ngài nói bi kịch đó khi nào sẽ đến với người, cảnh đó khi nào sẽ đến với mình? Không ai tránh khỏi hết, nên khéo biết lo học đạo.

Quán xa hơn trong kiếp luân hồi, Phật dạy: “Chúng sanh đi trong luân hồi vô lượng kiếp, khóc không biết bao nhiêu lần”. Khóc cho người thân đã mất, khóc cho đau khổ trong đời, nhất là những vị lớn tuổi.

Phật cũng dạy: “Nước mắt chúng sanh còn nhiều hơn biển cả” Chúng ta đâu thấy kiếp luân hồi dài xa như thế nào? Hôm nay, được ngồi đây không biết là do đã trồng duyên lành gì lâu xa với Phật pháp mà được có thân người, được nghe Phật pháp, nghe những lời chân thật là một điều hy hữu, phải quán xét kỹ mới thấy được cái quý này. Đó cũng chính là chỗ mở ra con đường sáng sủa, con đường giác ngộ cho chúng ta đi.

Cho nên, vua Trần Thái Tông còn nói: “Hoặc có người vùi đầu trong ăn uống qua mất một đời, lại có người trên đường tu hành lầm lẫn không thức tỉnh, đâu biết tính giác Bồ-đề mỗi mỗi viên thành; nào hay căn lành Bát-nhã người người đầy đủ”. Ý vua muốn nói có người cứ lo vùi đầu trong sự ăn uống không biết có cái cao quý hơn, rốt cuộc qua mất một đời; có người lại lầm lẫn trên đường tu hành, không gặp được con đường chân chính, sáng sủa đúng đắn nên không thức tỉnh giác ngộ được. Thật là điều đáng tiếc! Đâu biết tính giác của mỗi người vốn đều đầy đủ, căn lành Bát-nhã ai ai cũng có, nhưng không phát triển được, thật đáng thương!

Vì vậy, vua khuyên mọi người nên phát tâm Bồ-đề, phát tâm tỉnh giác, sống trở lại tính giác Bồ-đề nơi căn lành Bát-nhã chính mình để sáng tỏ lại. Mọi người ai cũng có lẽ thật thù thắng cao quý nhưng bỏ quên, nhận cái tạm bợ hư dối. Nên nói “Con đường mê giác ngay chỗ đó”.

Lâu nay nghe nói “Bồ-đề” là một danh từ, nghĩa là”giác”. Mà “giác” thì cái gì giác? Là tâm giác, tâm biết thì tâm giác. Phật cũng từ tâm mà giác ngộ, chúng ta ai cũng có tâm ấy hết. Nghĩa là đều có tính giác. Vậy mà không lo phát triển tính giác, chỉ lo phát triển cái biết buồn, vui, giận, ghét, hơn, thua. Đó chính là mê lầm tạo phiền não, quên mất chân tánh giác ngộ. Ở đây, vua Trần Thái Tông nhận thấy được điều đó, vua nhắc nhở mọi người khéo soi trở lại để phát triển nó.

Trong kinh Phật cũng từng nói: “Nhất thiết chúng sinh, giai hữu Phật tánh” nghĩa là “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Nhưng vì chúng sanh mê nên phải làm chúng sanh, giờ biết rồi phải khéo phát triển nó trở lại, chuyển chúng sanh thành giác ngộ. Đó là con đường tiến lên của chúng ta. Có tâm là có biết, có tánh giác, vì mê nên trôi lăn hoài tạo nghiệp luân hồi, quên mất gốc, lang thang trong sinh tử. Gọi là sống tha hương, quên mất quê hương của chính mình là bản giác, là Phật tánh, chúng ta chỉ sống với tâm sinh tử như lưu lạc nơi xứ người.

Phật và các Tổ ra đời để nhắc nhở chúng sanh tỉnh giác trở lại. Phải soi lại ngay cái tâm giác để vượt lên cái mê lầm này, sống trở lại cái gốc, tức có ánh sáng, có đầy đủ ý nghĩa sống. Quý vị thấy hiện tại chúng ta sống có gốc hay mất gốc? Trong cuộc vô thường, tạm bợ, biến đổi nhưng vẫn còn có chỗ nương, vẫn còn có cái tánh giác Bồ-đề làm chỗ nương tựa cho mình. Cho nên, đó cũng là điểm chúng ta đáng mừng, mừng còn có điểm tựa. Nếu không chẳng biết cuộc đời chúng ta sẽ đi về đâu? Nên mọi người khéo phát triển tâm Bồ-đề. Nhưng muốn phát triển tâm Bồ-đề chúng ta phải biết tâm Bồ-đề là gì? Bản chất của tâm Bồ-đề là cái gì?

III. BẢN CHẤT TÂM BỒ-ĐỀ

Tâm Bồ-đề có ba nghĩa, hay bản chất của Bồ-đề đó có ba: Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm.

Trực tâm: Là tâm niệm luôn hướng thẳng về Phật tánh sáng suốt của mình, không để nó quanh co, giả dối theo tham, sân, si. Nghĩa là không để nó cong theo cái vô minh, theo bản ngã ganh ghét, hơn thua đó là xa cái tâm gốc Bồ-đề. Thực tế chính tâm ngay thẳng chân thật trong sáng, đó là nó chuyển mình gần với bản chất của tâm Bồ-đề.

Có một vị tăng hỏi Thiền sư Duy Nghiễm ở Dược Sơn: “Cái gì là vật quý nhất trong Phật pháp?”. Thiền sư đáp: “Không cong vạy”. Thử kiểm xem tâm này lâu nay có cong không? Nếu học đạo mà tâm thẳng từ đầu đến cuối thì mau tiến lắm. Có người ban đầu phát tâm học đạo mạnh mẽ, xem như bỏ thân cũng được; nhưng lâu dần thì nó cong từ từ trở lại, thành ra sự học chậm tiến, chứ còn đúng từ đầu đến cuối nó thẳng một đường thì rất mau tiến, cũng mau đắc đạo nữa. Điều thứ nhất người học đạo cần phải có tâm ngay thẳng gọi là trực tâm.

Thâm tâm: Là tâm thường thích làm việc lành để gieo trồng các công đức, bồi dưỡng tâm Bồ-đề, không để cái tâm xấu chen vào, lấn áp dối gạt mình nên gọi là thâm tâm. Trên đường tu càng thêm nhiều công đức chừng nào thì càng tốt, chỉ sợ thiếu công đức, chứ đâu sợ dư công đức. Ví dụ: Một đám ruộng hay mảnh vườn nếu càng trồng nhiều cây ăn trái, nhiều hoa quả tốt thì cỏ dại càng bớt dần. Còn nếu ít trồng cây ăn trái, ít trồng hoa quả thì cỏ mọc làm chỗ nương tựa cho rắn, rít ẩn náu. Đây cũng vậy, ít công đức, ít căn lành thì cỏ phiền não tham, sân, si nhiều, rắn độc ẩn trong đó cắn người. Vì vậy, càng nhiều công đức càng tốt, càng thúc đẩy chúng ta trên con đường tu học, giác ngộ sâu thêm, không trở lại con đường mê. Cho nên, nhà Phật có bốn câu kệ nhắc nhở người có tâm mạnh mẽ học đạo là Tứ Hoằng Thệ Nguyện:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

- “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, tức là chúng sanh nhiều không kể, vẫn thề nguyện độ hết không bỏ sót là phát triển tâm Bồ-đề, phát triển tình thương của chúng ta đối với mọi người, mọi chúng sanh. Chúng ta có duyên lành học đạo trước, hiểu đạo sớm, nên nhớ và thương những người chưa hiểu đạo để cứu độ họ, nhờ vậy tâm Bồ-đề của ta càng lớn, càng mạnh thêm và cuộc sống của mọi người trên thế gian được an vui, gần gũi thêm. Còn chúng ta chỉ làm theo tâm phàm phu của mình, đôi lúc tâm cũng phát triển mạnh, giúp người này độ người kia, nhưng chỉ độ người nào thích hợp, mình thích thì mình độ, còn không thích thì không độ, bỏ bớt ra. Nên việc cứu độ còn giới hạn, còn theo tình chấp ngã cá nhân.

Đây thì Phật dạy phát triển tâm Bồ-đề rộng lớn để phá tan mọi ranh giới mình, người, dù người thích hay là không thích đều độ hết, nhờ vậy tâm mở rộng, gọi là tâm không biên giới. Trái lại, tâm chúng ta là tâm còn biên giới. Nếu ai sống được với cái tâm mở rộng đó thì cuộc đời vui hơn, thấy được chung quanh mình ai cũng gần gũi, vì không có biên giới.

- “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, tức là phiền não nhiều vô tận vẫn thệ nguyện đoạn hết. Như chúng ta cũng thệ nguyện đoạn phiền não nhưng đoạn phần nào thôi còn để dành lại không dám đoạn hết.

- “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, tức là pháp môn nhiều vô lượng nhưng nguyện học hết, học hoài, học không ngừng. Chúng ta ngược lại, cũng học nhưng học một ít thôi, học vừa vừa thôi là thấy đủ rồi. Còn đây Phật dạy là học hoài không ngừng nghỉ, không thấy đủ.

Phật pháp đúng là học hoài không hết. Như ngay một lý vô thường thôi, có nhiều người học đạo lâu nghe giảng tới vô thường là không muốn nghe rồi, vì nghe nhiều, hiểu hết, cần nói cái gì cao siêu hơn! Sự thật không phải vậy, người hiểu được lý vô thường hoàn toàn không phải dễ. Ngày xưa các vị Tỳ-kheo thấu hiểu tột cùng lý vô thường thì chứng A-la-hán, đâu phải tầm thường. Còn chúng ta có khi học thì hiểu nhưng nếu đặt câu hỏi lại xem mình có thật hiểu chưa? Đó là chúng ta học và hiểu qua cái hiểu của Phật, của Tổ, của Thầy, không phải thật là cái hiểu của chính mình. Nếu đúng là ta hiểu thì ngay đó đã chứng đạo. Nếu chỉ học hiểu theo Phật, Tổ, Thầy thì phải thường xuyên quán chiếu vào cuộc sống hằng ngày, đến khi sức quán sâu, trí tuệ phát ra, thì bằng cái thấy ấy mà tự mình giải tỏa được phiền não đau khổ. Nếu cho rằng đã hiểu mà phiền não vẫn đến thì đó chỉ là cái hiểu của Phật, không phải cái hiểu của mình. Học đạo là phải học kỹ, học sâu. Nên Phật có dạy chúng ta học Phật là phải học hoài “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” là vậy.

- “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, đạo giác ngộ vô thượng, phải nguyện thành tựu không phải chỉ tu nửa chừng. Quý Phật tử thường ít dám nghĩ tới tu đến đạo vô thượng Bồ-đề, mà chỉ tu có phước sanh lên cõi trên! Nhưng Phật dạy phải phát nguyện tu đến thành Phật mới thôi. Vì Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có đạo vô thượng nên phải tu để đạt tới đích, không được dừng nửa chừng.

Đại bi tâm: Là tâm thương xót cứu độ người, đưa người đến chỗ an vui. Khi thấy được cái khổ của chính mình, cảm thông được cái khổ của người khác, quên mình đến với người để mở rộng tình thương của mình cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Phật dạy mỗi người ai cũng có nguồn gốc đồng như nhau, đó là nguồn gốc của tánh giác sáng suốt, cùng chung một nhà Như Lai.

Khi thấy được như vậy thì không còn buồn vui giận ghét nhau nữa, vì đã cùng sống trong nhà Như Lai. Không còn bị cái tôi ngăn cách, lúc đó mình sẽ bớt khổ, an vui thêm. Vì vậy, phải chú ý phát triển đại bi tâm.

Thường thì chúng ta quen sống với cái tôi của mình, nay Phật dạy phải quên bớt, chan hoà cùng nhau sống, từ cái khổ của mình mà cảm thông được cái khổ của người. Ví dụ khi chúng ta bệnh thấy buồn khổ, than sao mình bệnh mà không ai đến thăm, an ủi, rồi đưa đến buồn tủi và khổ thêm. Nếu nhân bệnh khổ của mình rồi nhớ đến bệnh khổ của chúng sanh, khi người bệnh người cũng khổ như mình, đau như mình, nhờ đó mà cảm thông được cái khổ của người, quên bớt cái khổ của mình; tự nhiên mình sẽ ít khổ hơn. Thương người cũng là thương chính mình, nhưng chúng ta lại không biết. Thường người ta chỉ nhớ thương mình, không nhớ tới người, càng thu hẹp lại càng khổ hơn.

Học Phật pháp chúng ta sẽ thấy rất nhiều điều hay, nhưng vì không học tới nên chưa thấy hay. Khi học đến nơi chốn rồi thì rõ ràng Phật pháp là Pháp bảo đúng như ý nghĩa mà chúng ta đã quy y, thật không phải chỉ là danh tự chữ nghĩa. Nếu học Phật kỹ, hiểu đúng rồi nếm sâu được Phật pháp trong cuộc sống, khi đó niềm tin vững chắc, trí tuệ sáng suốt không lay chuyển.

IV. TÓM KẾT

Từ nay, quý vị có chịu phát tâm Bồ-đề chưa? Học Phật là để phát tâm Bồ-đề, để giác ngộ. Dù chưa giác ngộ bằng Phật nhưng cũng bắt đầu tiến lên. Nhiều kiếp xa xôi chúng ta mê quá nhiều, rồi đến đây còn không thấy đủ hay sao? Phải dừng lại để chuyển về tính giác, đâu thểù tiếp tục nữa. Ngay đây giác trở lại là vừa rồi, không còn hối tiếc gì nữa. Mỗi người hãy phát tâm Bồ-đề là vừa, hãy đi theo con đường giác ngộ, sáng suốt để tiến lên, chứ không thể đi theo con đường vô minh mê lầm mãi.

Khi hiểu rõ, Bồ-đề chính là ở ngay tâm mình, không ở đâu xa. Tâm có hiểu biết tức là có giác, là tính Bồ-đề sẵn trong đó. Vậy thì ai cũng có thể phát tâm Bồ-đề, không có phân biệt nam nữ, già trẻ, lớn nhỏ, cũng không phân biệt chủng tộc, màu da. Không nói tâm này chỉ có ở người già hay người nam mới phát được. Ai cũng có thể phát hết, đó là một lẽ thật quý báu, vậy mà chúng ta không chịu khai thác sao? Bằng chứng hiện tại là có ông Sadi người Hungari phát tâm tu Phật, là chứng minh cụ thể ai cũng có thể phát tâm Bồ-đề.

Ngày xưa, thời Phật đệ tử của Ngài có đủ những người thuộc nhiều tầng lớp sang hèn khác nhau nhưng tất cả đều có thể chứng đạo được. Tỳ-kheo Vô Não trước kia là kẻ sát nhân, giết người rồi xâu lóng tay thành chuỗi để đeo, nhưng khi được Phật giáo hóa tu theo Phật cũng chứng quả A-la-hán. Còn có vị Tỳ-kheo Ni-đề xuất thân làm nghề hốt phân cũng được Phật độ chứng A-la-hán. Tỳ-kheo Châu-lợi Bàn-đặc là người ngu dốt, học hoài một bài kệ không thuộc, được Phật độ cũng chứng A-la-hán. Chúng ta bây giờ có dốt bằng ông Bàn-đặc không? Rõ ràng ai cũng sáng suốt nên đều phát tâm Bồ-đề được cả. Phát tâm Bồ-đề là phát triển lẽ thật, là chân lý bình đẳng với tất cả. Phát triển lý đó thì sống gần nhau hơn, phá tan mọi ranh giới của mình và người. Khi tình thương rộng lớn thì cuộc đời vui đẹp, sung sướng hơn. Mỗi người cần tha thiết cầu nguyện, mong cho ai chưa phát tâm Bồ-đề thì hãy phát tâm Bồ-đề, ai đã phát tâm Bồ-đề thì mong cho tâm Bồ-đề càng phát triển thêm lên thì cuộc đời này con người sẽ gần gũi hơn.

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm “Đại Thông Trí Thắng” kể: khi Phật Đại Thông Trí Thắng thành Phật, Ngài phóng ánh sáng soi trên thấu các cõi trời ở khắp mười phương, dưới suốt đến cõi địa ngục. Các vị Phạm thiên phương Đông, Tây, Bắc xa xôi đều cảm nhận được ánh sáng của Phật chiếu đến cõi mình, lấy làm lạ nói: “Hôm nay ánh sáng rực rỡ hơn bình thường, nên cùng chung bàn luận”. Trong đó có vị Phạm thiên nói: “Ánh sáng này khác thường, chắc là Phật ra đời hay vị Thánh Nhân nào đã ra đời? Chúng ta phải nương theo ánh sáng tìm xem nó phát ra từ đâu?”. Rồi các vị theo ánh sáng đó được tìm gặp Phật Đại Thông Trí Thắng đang ngồi nơi đạo tràng, sắp thành Chánh Giác. Có mười sáu vị Vương tử đang thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Khi đó, chúng sanh ở các cõi bỗng nhiên thấy nhau, mới lấy làm lạ nói, lâu nay không thấy sao hôm nay lại thấy nhau, sao có chúng sanh nhiều vậy. Lúc đó không còn ranh giới cõi này cõi kia nữa. Khi tâm Bồ-đề phát ra như vậy, đúng là nó xoá tan những ranh giới của mình, của người. Cho nên gọi là không có ranh giới của kia đây, các cõi thông nhau thành một cõi. Còn mình bây giờ hai người ngồi kế bên nhau, mà có thấy nhau không? Hoặc có khi đi đụng mặt nhau mà không thấy nhau nữa, nhất là hai người có thành kiến với nhau! Bởi vì, mỗi người có thế giới riêng ở trong đầu cho nên cách biệt nhau. Tâm Bồ-đề mà phát chiếu soi rồi thì sẽ phá tan những ranh giới giữa ta và người. Thấy ai cũng có tánh giác Bồ-đề hết, mình có, người kia cũng có như mình, cùng cảm thông với nhau, không có phân biệt, ngăn cách. Thấy ai cũng là Phật sẽ thành, ai cũng là những vị Phật tương lai. Vậy càng học đạo thì chúng ta càng thấy vui thêm, tươi sáng thêm, cuộc sống tươi đẹp, gần gũi nhau thêm. Học đạo như vậy đúng nghĩa là học đạo.

Còn chúng ta học đạo càng lâu lại càng phiền não thêm là sao? Như thấy sao thầy đó, cô đó, học đạo càng lâu càng thấy khó thêm, làm cho người ta giảm niềm tin với Phật pháp. Chúng ta phải hiểu kỹ để tu hành đúng pháp, càng học đạo càng chuyển tâm khiến càng gần gũi mọi người thêm. Người học đạo mà có cuộc sống nội tâm, có đạo đức thì phát ra từ trường tốt. Mọi người ai cũng thích tới gần như vậy là tốt đẹp, nên càng phát triển tâm Bồ-đề nhiều chừng nào thì càng tốt chừng ấy.

Có một câu chuyện: Ở một vùng nọ của Tây Tạng, trước kia có ít người sinh sống. Thỉnh thoảng xảy ra những chuyện đấu tranh giữa các bộ lạc. Có vị Đại sư Tây Tạng đã chứng đạo, Ngài đến vùng này thiền định giữa các con đường vắng là chỗ tiếp giáp ranh giới giữa hai bộ lạc. Ngài bỗng cảm nhận được một năng lực hủy hoại như đang sắp bùng phát.

Đại sư quyết định đem tâm thức an tịnh của mình thể nhập vào các năng lực xấu đó xem sao? Ngài đốt lửa nấu trà để xem thử việc gì sắp xảy đến và rồi Ngài nằm ngay giữa đường đi, ai đi qua cũng phải bước qua thân Ngài.

Hai nhóm bộ lạc nghe tin bực tức, phái hai ba kỵ mã mang vũ khí tới để trừ diệt. Mấy vị kỵ mã thấy Ngài nằm như vậy, nhảy xuống ngựa bảo: “Ngươi là thằng điên hay bị ốm, làm cái gì mà nằm như vậy, bộ định truyền bệnh cho người khác hay sao?”. Lúc đó, vị Đại sư nằm thong thả, nheo con mắt, bằng tâm từ bi Ngài nói: “Đừng lo, các người sẽ không được truyền cái bệnh này đâu, ta đang ở trong tâm Bồ-đề tỉnh giác, mà tâm này không thể truyền cho các ngươi đâu!”. Nghe xong, họ tưởng Ngài điên khùng nên lắc đầu, lên ngựa đi mất.

Ngài nói bằng tâm từ bi tươi mát nên cảm đến ba người đó. Ban đầu, họ đến với thái độ bực bội định trừ khử, nhưng lại chuyển hóa dần. Sau đó, người ta truyền nhau một câu chuyện như là phép lạ, sự hiềm khích hàng chục năm giữa hai bộ lạc bỗng nhiên được hóa giải bằng một hiệp ước hoà bình. Người ta cũng kể rằng ba chàng kỵ mã đó được một lão già đắc đạo lây truyền tâm Bồ-đề, từ đó đi đâu họ cũng truyền cái tâm Bồ-đề cho mọi người. Sau này, trong những buổi giảng đạo cho số đông người, vị Đại sư Tây Tạng đã tuyên bố: “Theo ta thì không chừng Bồ-đề tâm cũng có thể lây truyền được. Mặc dù, ta phải thừa nhận triệu chứng của Bồ-đề tâm ít khi được phát ra trọn vẹn”. Ngài nói là nếu người tu đã chứng đạo phát tâm giác ngộ ra trọn vẹn thì ít nhiều cũng có thể lây truyền và phát triển tâm ấy đến người chung quanh. Đó cũng chính là tâm cảm thông, yêu thương khi nhận ra chính trái tim mình ở trong trái tim của mọi người.

Vì vậy, người học đạo, hiểu đạo phải khéo phát triển tâm Bồ-đề của mình để lây truyền cho mọi người, càng nhiều càng tốt. Và cuối cùng, vị Đại sư Tây Tạng chấm dứt bằng một lời nguyện: “Mong thay cho tâm Bồ-đề vô lượng sẽ được lây truyền cho mọi loài, không sót loài nào”. Nếu được như vậy thì đời sống mọi người sẽ phát triển, chuyển hóa theo hướng tốt đẹp. Mỗi người đều sống với tâm Bồ-đề sẽ chuyển đổi thế gian, cõi đời sẽ tươi sáng hơn, ngay đây sẽ chuyển hóa Ta-bà thành Tịnh Độ.

Trong kinh Pháp Hoa, khi tháp Phật Đa Bảo hiện ra, các đệ tử muốn thỉnh Phật Thích Ca mở cửa tháp Phật Đa Bảo để thấy chân thân của Phật. Phật Thích Ca nói: “Phật Đa Bảo có nguyện: “Sau này dù ở đâu nếu Đức Phật nào nói kinh Pháp Hoa thì tháp của Ngài hiện ra, và vị Phật nào muốn mở cửa tháp để thấy chân thân Phật thì phải thâu hồi tất cả các hóa Phật của Phật ấy khắp nơi về một chỗ””. Sau đó, Đức Phật Thích Ca thu hồi hết các hóa Phật của Ngài. Khi ấy, cõi Ta-bà được kết bằng lưu ly, dây vàng giăng ngang đường, trang nghiêm tốt đẹp. Đất đá lồi lõm, xấu xí đều được dời đi nơi khác v.v... trở thành Tịnh độ.

Có nghĩa là khi muốn mở cửa th báu để thấy Phật Đa Bảo, tức Phật pháp thân hay tính giác Bồ-đề thì phải thâu hồi tất cả hóa Phật đang đi giáo hóa về một chỗ, lúc đó sẽ sáng tỏ tháp Phật Đa Bảo hay sáng tỏ tánh giác Bồ-đề nơi mình, và khi ấy cảnh Ta-bà được chuyển thành Tịnh Độ. Những chúng sanh tham, sân, si, cống cao, ngã mạn v.v... bị di dời đi chỗ khác. Hội Pháp Hoa sẽ được thanh tịnh, sáng suốt. Ngay đó chính là cõi Phật. Nghe pháp với tâm thanh tịnh thì mình sẽ dự được pháp hội đó.

Vậy khi quý vị tụng kinh Pháp Hoa, quý vị có được dự trong hội Pháp Hoa không? Hay bị dời qua cõi khác? Chúng ta phải tụng với tâm thanh tịnh, sáng suốt để được dự trong hội Pháp Hoa, mới đúng nghĩa là tụng Pháp Hoa. Nếu tụng Pháp Hoa mà nghĩ chuyện buồn, vui, phiền não v.v... là bị dời đi cõi khác rồi. Nên hiểu rõ, sẽ thấy kinh Pháp Hoa nghĩa lý huyền diệu, sâu xa, đừng nghĩ rằng đó chỉ là chuyện của Phật không liên quan đến mình.

Phật nói kinh là nói cho chúng sanh chứ đâu phải nói cho Phật, mà nói cho chúng sanh là nói cho ai? Cho chính chúng ta. Vậy là có phần của chúng ta trong đó. Nếu đọc tụng kinh theo chữ nghĩa, không hiểu nghĩa kinh thì sẽ thấy kinh xa, cách biệt. Khi hiểu rồi thì đúng là Phật dạy cho chính mình, lúc đó mình càng cảm nhận sâu ý nghĩa trong kinh, niềm tin càng vững. Sẽ cởi mở rất nhiều tình chấp, mê lầm. Như vậy mới đúng nghĩa càng học, càng tụng kinh trí tuệ càng thêm sáng suốt, công đức lớn thêm. Nếu tâm sáng suốt, trang nghiêm thì dù ở xa cũng như ở gần Phật, dự được trong hội Phật, mặc dù mình cách Phật hơn hai mươi lăm thế kỷ. Còn tâm mình không thanh tịnh, có đối diện với Phật cũng xa, cũng bị dời đi chỗ khác. Do đó tất cả đều từ tâm tịnh hay không thanh tịnh.

Quý vị nhớ trước khi Phật nói kinh Pháp Hoa, trong hội có năm nghìn vị Tỳ-kheo đứng dậy bỏ đi. Như vậy, có nghĩa là đang đối diện với Phật mà đâu có thấy Phật. Hiểu được ý nghĩa rồi thì thấy học Phật, tu Phật không xa lắm mà ở nơi ngay chính mình. Chỉ cần chuyển từ cái nhìn mê lầm thành cái nhìn giác ngộ, trí tuệ. Tu là chuyển cái nhìn, thay đổi cái nhìn thì cuộc đời mình thay đổi theo.

Trong nhà Thiền có câu chuyện bà già hay khóc: Bà già có hai con người con gái, một người bán quạt, một người bán áo mưa. Mỗi khi trời nắng bà nghĩ tới người bán áo mưa chắc bán ít được nên bà khóc thương cho đứa con gái đó. Còn khi trời mưa bà nghĩ tới người con gái bán quạt, chắc bán không được nên bà thương con mà khóc.

Bà đến gặp Thiền sư thưa: “Làm sao để bà có thể chuyển được cái khổ này?”.

Thiền sư nói: “Đơn giản thôi! Bà chỉ cần chuyển cái nhìn là được, khi trời mưa thay vì bà nhớ người con bán quạt, bà nhớ người con bán áo mưa, hôm nay chắc nó sẽ bán được nhiều, bà vui thôi. Còn trời nắng bà nhớ tới người con bán quạt là hôm nay nó bán đắt. Vậy là bà vui thôi!”.

Bà về thực hành đúng vậy, trở thành thường xuyên vui vẻ, nên được gọi là “Bà già hay cười”. Cũng vậy, nếu khéo chuyển cái nhìn thì vui buồn cũng theo đó mà thay đổi.

Có thiền sư đang đi trên đường gặp một cô gái nhảy xuống sông tự tử, Ngài kêu la gọi mọi người cứu cô gái. Sau khi được cứu lên, cô gái trách vị thiền sư sao cứu cô làm chi trong khi cô đang muốn chết, muốn thoát khỏi cuộc đời đau khổ.

Thiền sư hỏi cô gái: “Tại sao?”

Cô gái kể về cuộc đời cô toàn gặp những thất vọng, đau khổ, chỉ có tìm cái chết để an ủi.

Thiền sư giải thích: “Con người có hai mạng sống: một mạng sống cho chính mình, một mạng sống cho mọi người. Lâu nay cô sống cho cái mạng sống của chính mình, bị xúc phạm có nhiều cái không được như ý, nên cô muốn huỷ hoại mạng sống. Bây giờ cô hãy coi như mạng sống đó đã chết, chuyển nó thành mạng sống cho mọi người, không còn mạngg sống ích kỷ nữa. Cô hãy sống thật tốt đẹp vì mọi người, đem lại những điều phúc lành cho mọi người, làm được như vậy cuộc đời cô sẽ chuyển đổi”.

Cô gái về và thực hiện sống quên mình đúng như lời dạy, đem lại hạnh phúc, an vui cho mọi người, nên quên đau khổ của mình, lâu ngày cuộc đời cô tươi sáng hơn.

Như vậy, rõ ràng chỉ cần khéo tu, chuyển cái nhìn là cuộc đời sẽ được thay đổi, sẽ tốt đẹp. Tức là, tùy theo cái nhìn, cái nhìn theo phiền não, đau khổ sẽ gây phiền luỵ cho mình; còn cái nhìn trong sáng, cởi mở thì đem lại nhiều an vui.

Nhà Thiền có câu chuyện giữa Thiền sư Phật Ấn với ông Tô Đông Pha. Một lần, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn gặp và cùng ngồi thiền với Thiền sư Phật Ấn. Sau buổi ngồi thiền ông hỏi ngài Phật Ấn:

- Hôm nay, thầy thấy tôi ngồi thiền thế nào?

Ngài Phật Ấn nói:

Hôm nay ông ngồi giống như vị Phật.

Và hỏi lại Tô Đông Pha:

- Hôm nay, ông thấy tôi ngồi thế nào?

Lâu nay, khi đối đáp với Ngài Phật Ấn ông luôn thua, hôm nay được dịp ngài Phật Ấn hỏi nên ông nói:

- Giống như đống phân bò.

Ngài Phật Ấn nghe xong rồi im lặng cười. Tô Đông Pha nghĩ rằng Ngài Phật Ấn thua nên không nói thêm nữa.

Tô Đông Pha ra về, kể lại câu chuyện cho cô em gái, cô em gái này cũng là người học thiền và khá thông minh. Nghe xong câu chuyện, cô trầm ngâm một hồi rồi nói:

- Anh thua Ngài Phật Ấn rồi!

Tô Đông Pha hỏi:

- Thua chỗ nào?

Cô nói:

- Tâm của ngài Phật Ấn giống như Phật nên nhìn anh như Phật, còn tâm anh như đống phân bò nên nhìn ngài Phật Ấn như đống phân bò!

Cho nên, nếu tâm mình xấu thì mình thấy người xấu, cuộc đời xấu. Tâm mình tốt thì nghĩ người tốt, cuộc đời tốt. Khi tâm người phiền não mà ai tới làm phiền thì tự nhiên lửa sân bừng lên. Tâm mà vui vẻ, lạc quan thì người có muốn làm mình giận cũng không làm được.

Vậy tu Phật có khó không? Không khó. Chỉ cần nhìn theo tâm Phật, tâm Bồ-đề thì cuộc đời sẽ chuyển hóa tốt đẹp. Mong sao, từ nay quý Phật tử khi được lây truyền tâm Bồ-đề rồi chuyển cái nhìn, tiếp tục lây truyền tâm Bồ-đề cho mọi người để cuộc đời ngày càng sáng sủa, tươi đẹp hơn, chuyển Ta-bà thành tịnh độ

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 22/02/14 13:35 

Giữ mãi sự giàu có và thành đạt dưới góc độ tâm linh

Trong một lần đi làm lễ tạ tất niên cho một doanh nghiệp tư nhân cuối năm 2013, sau khi lễ xong thì vào phần thụ lộc đãi họ hàng ,nhân viên và các quan khách, tôi ngồi bên cạnh một quan khách được thân chủ mời tới dự, sau một loạt những câu hỏi thắc mắc về chuyện tâm linh thì gần cuối buổi cậu ấy có hỏi tôi một câu hỏi như thế này mà nếu là những năm trước thì chắc tôi không biết trả lời sao , nhưng giờ thì tôi có thể tạm thời trả lời câu hỏi của cậu ấy theo góc độ tâm linh mà tôi hiểu biết trong thời điểm này, đây là câu hỏi của cậu ấy :
Anh Minh Thiên cho em hỏi, em đã chứng kiến nhiều người đã hoặc đang giàu có thành đạt nhưng không biết tại sao một thời gian sau lại bị lụn bại thê thảm, bị phá sản ,thậm chí có người còn tan nhà nát cửa thân hoại mạng vong, vậy nguyên nhân tại đâu và làm thế nào để có thể đã giàu có thành đạt rồi thì vẫn giữ được mãi, vậy theo anh thì nên làm thế nào ?

Sau khi nghe câu hỏi của cậu ấy thì tôi lặng người suy nghĩ một lúc để sắp xếp lại kiến thức bởi vì phạm trù câu hỏi nó quá rộng, bao quát tất cả mọi thành phần chúng sinh trong xã hội hiện tại đang là những người thành đạt, làm sao để có thể chỉ trong một câu trả lời mà có thể lý giải được gần hết nguyên nhân hiện tượng và đưa ra cách xử lý mà phần lớn mọi người đều có thể chấp nhận đó là sự thật và nên làm theo , và cái chính là nó phải thật sự đem lại hiệu quả cho nhiều người nếu tuân thủ đúng theo như vậy , và đây là câu trả lời của tôi :
Em à, theo như những gì tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc thăng trầm của những người thành đạt vì chữ thành đạt đây nó bao gồm tất cả những người giàu có, chức quyền và danh vị trong các lĩnh vực đời sống , kết hợp tất cả những điều mắt thấy tai nghe , những bài học kinh nghiệm từ hiệu quả rút ra sau mỗi lần hành pháp cho các thân chủ thì tôi có một tổng kết như sau trong việc có thể giữ mãi được sự thành đạt cho một con người từ khi bắt đầu giàu có thành đạt cho đến khi từ giã cõi đời dưới góc độ tâm linh :
Một con người khi sinh ra trên cõi đời này để có thể giàu có thành đạt thì đi theo những cách giàu như sau :
1, sinh ra đã giàu do tổ tiên để lại của cải và nghề nghiệp.
2, Giàu do gặp vận may, ví dụ như trúng số, hay tự nhiên mua cái gì đó rẻ bán ra lại đắt mà người ta vẫn đổ xô đến, hoặc tự nhiên được thừa kế, hoặc đất đai rơi vào lúc sốt đất như dân vùng Quảng bá ..vv..
3, giàu do đầu tư công sức trí tuệ mở mang kinh doanh đúng và hợp thời điểm , ở đây tôi không đề cập đến vấn đề làm ăn theo kiểu xã hội đen như cướp bóc , buôn ma túy, cờ bạc sát phạt , lừa đảo chiếm dụng.
Nhưng trong 100 trường hợp giàu có ở trên thì sự trường tồn không còn được bao nhiêu người , và không kéo dài được đến 1 đời người nó chỉ đi theo vận phát trong chu kỳ 10 năm rồi tàn lụi , thậm chí có người còn xuống dốc thê thảm , thân bại danh liệt mất vợ chồng mất chồng, nhà cửa tan nát,cuối đời đi ăn xin ăn mày theo đúng cảnh lên voi xuống chó, bên cạnh đó còn các nguyên nhân khác cũng tự nhiên cướp đi tài sản , sinh mạng cùng gia quyến của đương sự là nạn lửa, nạn nước, gió bão thiên tai, nạn công quyền, nạn cướp bóc trộm đạo, bệnh tật và vợ con người làm phá tán tài sản theo như đức phật tôn kính đã thuyết trong nhiều kinh điển, và cái nhìn của dương trần thì mỗi người lý giải theo một cách, nhưng dưới góc độ tâm linh thì tôi lý giải theo như sự hiểu biết của mình như sau :
Theo thuyết nhà phật thì con người kiếp đời này thành người giàu có thành đạt bởi vì do một kiếp lâu xa trong quá khứ họ đã làm nhiều việc thiện , đời này họ được hưởng báo nghiệp đó đến ngày đã trổ hoa kết trái.
Nhưng con người trong một kiếp đời không chỉ thiện nghiệp trổ ra mà ác nghiệp từ nhiều kiếp đời trước cũng song hành, ác nghiệp này là những việc đốt nhà cướp của, hãm hiếp phụ nữ, xúc phạm tam bảo ..vv…có điều lúc này nó đang bị thiện nghiệp lấn át nên tiềm phục chờ thời cơ trỗi dậy giống như xác ướp Ai cập.
Khi thiện nghiệp phát thì con người được sinh ra trong một gia đình quyền chức, giàu có , có nhiều cửa hàng đất đai ông cha để lại.
Khi thiện nghiệp phát thì con người có một trí óc sáng suốt. họ biết đánh giá được diễn biến thị trường và mạo hiểm đầu tư vào những doanh vụ lớn, rồi họ thành công và trở thành triệu phú. Đang lúc hưng thịnh đương sự rất sáng suốt, đoán gì đúng nấy, vạch ra kế hoạch đánh đâu trúng đó,có khi lúc bé họ học hành dốt nát , ăn nói vấp váp đầy lưỡi trong cổ họng, nhưng đến khi phúc báo hiện ra đương sự trở thành người khôn ngoan lạ lùng, biết tính toán đủ chuyện làm ăn, biết nói chuyện đi vào lòng người.
Không những chỉ đánh giá được tiềm năng thị trường mà đương sự còn có khả năng nhận định được tâm lý của người xung quanh và các đối thủ và đương sự luôn chủ động đi trước những người kia một bước.
Thật vậy do những thiện nghiệp trong quá khứ trổ ra nên quả báo đời này dành cho đương sự là sự giàu có, là sự thành công trên thế gian, ở đây trực giác trở thành duyên trung gian thúc đẩy đương sự đi đến thành công ,thậm chí trong giai đoạn này có những người vô sư vô sách chẳng biết gì đến thờ cúng phật thánh, chẳng nghĩ gì đến mồ mả hương khói ông bà tổ tiên , thậm chí có kẻ còn làm nhiều điều ác nhưng vận thế vẫn lên vùn vụt như diều gặp gió làm cho những người khác khi nhìn lại và so sánh sự cố gắng của mình với ông bà tổ tiên thần thánh thì lại chạnh lòng than thở sao ông trời đối xử không công bằng.

.Nhưng như tôi đã nói ở trên , trong một đời người,thiện nghiệp nó song hành cùng ác nghiệp, phước báo đời này nó cũng giống như cái bình ắc quy , đầy hay vơi là do thiện nghiệp đời trước làm nhiều hay ít, do ta xài đúng cách hay lãng phí, khi thiện nghiệp đã sắp hết thì ác nghiệp bắt đầu trổ ra, cũng cái đầu đó trí óc đó nhưng bây giờ phán đoán lung tung, hành xử bất thường, trực giác biến mất ,đương sự không phán đoán nổi tình thế phải đương đầu rồi phải chịu cảnh lụn bại dần, càng giãy càng chết, cố quá thành quá cố, ví dụ như cuộc đầu tư sai lầm vào thị trường bất động sản, chứng khoán và vàng miếng đã làm nhiều người lâm vào cảnh cùng đường , có người không chịu nối điều tiếng thị phi áp lực cuộc sống dẫn đến quyên sinh để lại vợ con bơ vơ giữa dòng đời , , và đương sự chấp nhận chết vì trong tư duy họ nghĩ nó là tận số rồi.

Vậy phải chăng đó có phải là số phận không , và con người có phải đành nhắm mắt thúc thủ chịu số phận lúc thì đưa mình lên cao tận mây xanh rồi lại hạ mình xuống theo chiều thê thảm thế không, hoàn toàn không phải như vậy, con người vẫn có 30 phần trăm lái được số phận cuộc đời mình ngay khi mình đang hưng thịnh để nó tốt đẹp mãi mãi , thế nên người hiểu đạo thì không tự cao bởi sự giàu có của mình hay sự khôn ngoan của mình lúc đương thời vì họ biết rằng đây là kết quả của thiện nghiệp trong quá khứ, nhưng cái thiện nghiệp này cũng rất mong manh , dù đang thành đạt họ vẫn cẩn thận tránh điều ác, làm điều thiện để giữ gìn phước nghiệp bền bỉ, giữ gìn phước nghiệp đây gồm có giữ trong thân và giữ ngoài thân, giữ trong thân là họ tu trì một pháp môn nào đó của nhà phật ví dụ như mật chú Chuẩn đề phù hợp với tất cả mọi căn cơ và lứa tuổi để dần hóa giải các nghiệp xấu ác trong các kiếp đời lâu xa ngay tại thời điểm này đang chờ thời cơ trỗi dậy và kích phát thiện nghiệp , giữ ngoài thân là họ tìm đến những người thầy có khả năng hành pháp và kiến thức về tâm linh đến giúp đỡ cho họ trong việc nuôi giữ thiện nghiệp và phúc báo, và bây giờ mới đến phần trả lời chính của tôi cho câu hỏi của em.
Ngoại trừ những người sinh ra đã rơi vào gia đình giàu có, còn một con người bình thường khi công danh sự nghiệp giàu có phát lên ngoài việc do thiện nghiệp từ kiếp đời trước đến thời kỳ trổ ra phúc báo , còn do các yếu tố khác phụ trợ như mồ mả ông cha đến ngày phát, do long mạch đất ở phát và cát tinh năm đó lại chiếu vào đúng các phương vị tốt trong gia trạch phù hợp với bản mệnh đương sự xét theo góc độ phong thủy , vậy là đắc cả âm phần và dương trạch dẫn đến phát ra của cải tiền bạc chức quyền địa vị , đương sự bắt đầu tính đến việc xây nhà dựng cửa, mua xe, ngày xưa thì họ chỉ biết mua sắm tài sản nhưng bây giờ thông tin mở rộng ai cũng khôn ngoan lên và biết là mình giàu lên là do những nguyên nhân trên.

vậy là họ sẽ tìm đến một vị thầy tâm linh xin giúp đỡ để làm sao giữ mãi được phần thiện nghiệp và hóa giải phần ác nghiệp đang chực chờ sẵn , vậy người thầy sẽ phải làm những gì để có thể giúp họ được như ý nguyện , người thầy buộc phải có một kiến thức tâm linh rộng lớn và năng lực hành pháp để xử lý công việc cho họ gồm các phần như sau :
Phần bên ngoài thân :
1,xử lý về đất đai dương trạch.
2, xử lý về phần mồ mả âm trạch và lễ bái.
Phần bên trong thân :
3,Giúp họ tu tập để hóa giải nghiệp chướng tồn đọng và giữ mãi thiện nghiệp phước báo.
Bây giờ ta sẽ vào phần chi tiết :
1 xử lý đất đai dương trạch :
A, Người thầy sẽ căn cứ trên sơ đồ nhà ở , cửa hàng hoặc văn phòng công ty mà đương sự đang sở hữu để xác định bát trạch mà phân chia các khu vực sinh hoạt hoặc làm việc cho đương sự theo cung tuổi của họ theo kiến thức phong thủy, đồng thời trấn yểm các phẩm vật phong thủy theo sơ đồ huyền không phi tinh mỗi năm lại thay đổi phương hướng gây họa tác phúc cho đương sự, việc trấn yểm này sẽ mang lại sinh vượng khí phúc đức cho đương sự, và giảm thiểu hung sát do các sao hung gây ra, tất nhiên là các vật phẩm phong thủy đó phải qua công đoạn trì chú gia trì vào thì nó mới có hiệu lực.
B, Tiến hành tôn lư hương phụng tự thổ công, gia tiên, tổ cô , thần tài thổ địa cho đương sự theo pháp mật tông và phù hợp với phong tục thờ cúng của dân tộc Việt sao cho thần linh và gia tiên ngự tại bản gia, bản công ty hoặc cửa hàng phát huy hết linh lực phù trì bảo hộ cho đương sự.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1265

2, xử lý về phần mồ mả âm trạch và lễ bái :
A,Nếu đương sự có văn phòng , cửa hàng hay công ty riêng thì các nơi đó đều có các chư vị thần linh và chư vị ông bà tiền chủ ngự trị , người thầy sẽ phải đầu năm đến lễ bái trình cáo khai vận tân niên và cuối năm lễ tạ tất niên cho đương sự để làm hài lòng chư vị ở đó .

B,Vận thế con người hàng năm thì theo thuyết nhà phật sẽ phải chịu sự ảnh hưởng chi phối của chư vị Bắc đẩu thất tinh như lai, hoặc cửu tinh theo như thuyết của đạo giáo , vì thế người thầy sẽ phải sử dụng đến đàn pháp dâng sao giải hạn cho đương sự hoặc là bằng phương pháp mật tông hoặc khoa pháp phổ thông tùy theo mức độ hạn nặng nhẹ của đương sự và gia quyến mỗi khi năm mới đến.

C,Trong gia trung nhà ai thì cũng đều có ít hay nhiều các vong linh tổ tiên đang bị đọa đầy chốn âm giới và được bổ sung thêm những người mới mất hàng năm, mỗi năm người thầy sẽ phải đến gia trung đương sự lập pháp đàn cầu siêu phổ độ cho những vong linh này vào những dịp như rằm tháng bảy , việc đó sẽ giúp bớt đi những người đang rên siết trong chốn khổ đau có thể tạo ra tác động ảnh hưởng xấu đến vận thế của gia chủ trên dương trần , các vong linh đó một khi đã tốt đẹp thì lại quay ngược lại độ cho đương sự và gia quyến.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1973

D, Bất kỳ thân chủ nào dù nam hay nữ khi giàu có lên đều là một phần nhờ đến tác động của mồ mả ông cha đến ngày phát, như vị chủ doanh nghiệp tư nhân trên được hưởng sự phù trì của mộ cụ tứ đại khi phần mộ này bắt đầu phát, ông ta biết được điều này bởi vì khi tôi gọi vong cụ tứ đại lên, cụ ấy đã nói cho thân chủ biết.
Để có thể giúp cho phần mộ ấy phát huy linh lực mãi thì mỗi năm tôi lại đến làm lễ tạ mộ cho chủ doanh nghiệp tư nhân trên một lần và sử dụng đến uy lực của mật chú giúp cho vượng khí của phần mộ luôn phát huy linh lực phù trì cho tử tôn.
http://matviet.org/forum/viewtopic.php?f=84&t=1974&p=7725#p7725

E,Và đã là con người thì cũng nên có lòng đại bi xót thương đến đồng loại âm dương, ngoài việc lo cho thần linh và tổ tiên nhà mình, thì việc bố thí từ thiện cho các trại trẻ mồ côi, các nhà tế bần dưỡng lão, cúng dường vào các đình chùa đang bị xuống cấp và các pháp hội cầu siêu cho chúng sinh đang bị đày đọa tội khổ nơi âm giới , cùng phóng sinh là việc rất cần thiết, đây là việc mà tôi hay khuyến khích đương sự làm , nếu làm được việc này là đương sự đang ghi điểm trong mắt thánh thần và sẽ được sự ủng hộ phù trì của họ, chắc chắn đời sau đương sự lại vẫn được hưởng quả báo tốt đẹp như đời này, có khi còn hơn nữa.

3, phần xử lý bên trong :
Nhưng như tôi đã nói ở phần trên, đương sự ngoài việc nhờ đến một vị thầy tâm linh giúp đỡ về việc thờ cúng lễ bái , an trấn trạch, dâng sao giải hạn , trấn yểm phong thủy phi tinh hàng năm , chỉ dẫn cách ứng xử với nhân tình thế thái , đương sự còn phải tu hành để tự giải nghiệp ác và tạo phúc cho mình, vì không có một thầy giỏi nào có thể cứu chữa được cho một gia chủ đã hết phúc.
Nhưng phần lớn những người thành đạt ấy họ lại rất bận rộn đủ thứ, nào là tiếp khách, tính việc, đi công tác và du lịch đó đây, giao lưu quan hệ suốt cả ngày chẳng còn chút xíu thời gian nào cho tu hành, bảo ngồi uống rượu tiếp khách nói chuyện nhăng cuội trên trời dưới đất ấy thì mấy tiếng cũng không chán, còn nếu dành độ một tiếng tu hành thì chắc là hơi khó, nghe thầy thuyết giảng thì cũng gật gù, nhưng đến khi làm thì cái khó cái ngại nó ở đâu cứ xuất hiện, vì thế tôi mới suy nghĩ tinh giản bài pháp tu mật chú Chuẩn đề thật ngắn gọn, chỉ cần đương sự mỗi ngày bỏ ra 15 phút thôi, quá ngắn để đọc thần chú , và đi đứng nằm ngồi bất cứ đâu, trên xe dưới thuyền bất cứ thời gian nào đều thầm trì tụng được , kiến tha lâu cũng đầy tổ, dưới uy lực của thần chú gia trì , nghiệp ác của họ giảm dần, các chủng tử nhà phật dần ăn sâu và tác động vào não bộ, tác động vào tâm tính của đương sự, rồi dần dần đương sự bớt ăn chơi, bớt rượu chè lúc nào không biết, bắt đầu nghiêm túc chú tâm tu hành hồi hướng cho ông bà tổ tiên, oan gia trái chủ và mười phương pháp giới chúng sinh , rồi trí huệ về phật pháp khai mở, đương sự bắt đầu có cái nhìn khác về nhân sinh quan, biết thương xót đến những con người khác đang trong cảnh khốn khó, tâm đã bắt đầu từ bi hỷ xả, vì thế khi mà vận thế đương sự xuống đến thấp nhất theo chu kỳ thăng giáng thí dụ như năm đó gặp sao Thái Bạch quét sạch cửa nhà chẳng hạn , thì trực giác họ vẫn được uy lực của thần chú và những việc thiện đã làm cho thế gian trong thời điểm hiện tại cùng các pháp hành của người thầy cho âm phần và dương trạch sẽ phát huy tác dụng phù trợ giúp cho đương sự hành xử tỉnh táo trên con đường sự nghiệp, và nhất là không bị oan gia trái chủ thừa cơ đến đòi nợ tác động vào não bộ tạo ra những việc làm phi luân lý đạo đức dẫn đến chịu búa rìu pháp luật , nói ví dụ như vụ Nguyễn Đức Nghĩa và nhiều vụ cha giết con vợ giết chồng trong thời gian gần đây là những ví dụ điển hình về việc oan gia trái chủ tác động vào não bộ đương sự.

Và đấy chính là những việc mà tôi đã làm đồng bộ để có thể giúp cho một con người đang trong lúc thành đạt giàu có có thể giữ mãi được điều này đi suốt cuộc đời họ, tránh cho họ rất nhiều vấp ngã không cần thiết trên đường đời và đi đến thành công, tất nhiên là họ cũng phải ngồi xuống làm việc động não, trăn trở suy tư và hành động , chứ không phải chỉ làm theo những chỉ dẫn trên mà không làm ăn buôn bán kinh doanh thì đâu có được, đó chính là câu trả lời của tôi cho câu hỏi của em , tất nhiên câu trả lời của tôi chưa phải là hoàn hảo , chưa phải là đáp số cho tất cả mọi trường hợp , vì thế tôi đưa bài này lên diễn đàn để sẽ có thêm nhiều ý kiến của các bạn đọc khác bổ sung thêm vào đề tài này.
Một năm mới Giáp Ngọ đã đến vẫn còn tồn đọng dây dưa nhiều hệ lụy bởi sự suy sụp kinh tế của những năm qua đang cần chúng ta cố gắng hết sức mình để vượt qua, Minh Thiên xin có lời nguyện cầu sự bình yên an lành đến với từng cá nhân gia đình và tập thể xã hội, nguyện cầu mọi người đều mau chóng giàu có thành đạt và đem lại hạnh phúc cho nhau và cho xã hội , bài viết sau Minh Thiên sẽ viết về LỐI THOÁT CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ PHÁ SẢN TRONG CON MẮT TÂM LINH, rất mong được sự ủng hộ và động viên của các bạn đọc gần xa.
Minh Thiên.
Sdt 0943666611
Ba đình – Hà nội.
Email : minhthien.matviet@yahoo.com
Diễn đàn MATVIET.ORG











 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 07/03/14 11:46 

Phùng Thanh xin gửi những lời Chúc Tốt Đẹp nhất, An lành nhất tới toàn thể PHÁI ĐẸP CỦA TẠO HÓA - Các Bà, Mẹ, các Bác, Cô, dì, Tỷ, Muội và đặc biệt các Nữ đạo hữu đang phát Tâm làm nhiều điều phước thiện giúp cho bách gia bách tính.
CHÚC PHÁI ĐẸP MÃI MÃI TƯƠI TRẺ VÀ HẠNH PHÚC
https://fbcdn-sphotos-h-a.akamaihd.net/hphotos-ak-prn2/t31/1614510_225021687687034_1589514704_o.jpg

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 09/11/14 19:52 


Chuyện này rất là đơn giản! Hai ngày mồng 1 và 15 háng tháng, ở cõi âm, theo luật giới quy định cho phép tất cả các vong linh được hồi gia thăm thân nhân.
Giống như trên trần gian chúng ta vào ngày Lễ, Tết theo Luật Lao Động chúng ta được nghỉ. Và do đó rất đông trong số những người lao động ra thành phố sinh sống, thu xếp công việc để về quê quán thăm gia đình : ông, bà, cha mẹ hoặc họ hàng ruột thịt...
Bởi vậy người cõi trần dâng hương, sắm lễ để cúng kính đón mời các vong linh gia tiên tiền tổ về ẩm thực và cầu mong cho các vong linh được yên ổn, vui tươi, nhẹ nhàng siêu thoát, phù hộ độ trì cho con cháu trên cõi nhân gian được mạnh khỏe, bình an và gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống.
Tuy vậy có ngoại lệ, đối với những vong linh vì phạm tội nặng mà bị giam nơi điện ngục thì không được phép về. Những vong linh phạm tội nhẹ hơn thì có thể về dưới sự giám sát của những vị hành sai nơi địa phủ. Về xong rồi lại phải đi ngay, nếu gia đình có cúng kính thì còn có đồ mà ăn, hương lạnh khói tàn thì lại mang cái bụng đói trở về nơi ngục tối.
Một số vong linh bị giam cầm lại không muốn về nhà. Một số khác thì đường sá xa xôi, cách trở muốn về cũng chẳng có điều kiện mà đi được....
Những vong linh cô hồn chúng sinh không gia đình người thân thì được phép đến thụ hưởng xin lộc từ việc bố thí, cúng dường ở những nơi đền chùa miếu,....
Ngoài việc cúng lễ tại gia, người ta còn sắm lễ đến nơi chùa chiền, miếu mạo. Tuy đơn giản là lễ Phật bái Thánh cầu xin sự che chở của đấng linh thiêng cho gia đình được bình an, nhưng đây cũng chính là điều kiện để một số các vong linh tiên tổ được về với gia đình cùng đi theo hành lễ, chứng giám công đức, lòng thành của thân nhân mà tùy theo đó độ duyên cho họ gặp được những điều hay lẽ phải trong cuộc sống.
Ngoài ra ghi chú thêm :
Rằm tháng Bảy là ngày xá tôi vong nhân.
Ngày này ngoài việc các vong linh phạm tội được hồi gia thăm thân ( Luôn có các vị hành sai đi giám sát), thì các vong linh cũng được miễn hình phạt trong ngày đó ( tức là không bị đánh đập ). Chứ không phải là các vong linh phạm tội được tha. Đã có tội bị giam nơi điện ngục là mãi mãi ở trong đó muôn kiếp không luân hồi. Trừ phi có người thân nơi cõi trần đi xem Thầy được chỉ bảo, làm lễ Thoát linh địa ngục cho, thì mới được giải cứu và tiếp tục tu tập theo nhân quả báo ứng.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 07/05/16 16:35 


Giám đốc và các chủ doanh nghiệp có cần tin vào thần phật và thờ cúng lễ bái không ?

Trong năm 2015 , tôi đã có cơ hội được gặp gỡ một số giám đốc và chủ một số doanh nghiệp tư nhân tìm đến hỏi chuyện về tâm linh , họ gặp tôi trong trạng thái doanh nghiệp của họ bị làm ăn thua lỗ, công nợ , sắp và đã sập tiệm , một vài người thì muốn đi tự tử , dĩ nhiên là sau khi chúng tôi cùng chia sẻ vấn đề thì không ai còn muốn tự tử nữa , và họ lấy lại tinh thần quyết tâm tiếp tục cuộc chiến với số mệnh.
Sau khi đã giúp họ ổn định tâm lý , nghiên cứu tình hình thất bại của những công ty đó và đối chiếu với sự thành công của những công ty tư nhân mà mấy năm nay tôi vẫn thường đến giúp họ về vấn đề tâm linh , thì tôi rút thêm ra một số kinh nghiệm trong lĩnh vực tâm linh thấy nên chia sẻ với những ai đang khởi đầu trên con đường quản lý doanh nghiệp.
Lúc trước tôi cũng đã luôn suy nghĩ muốn viết một bài về sẽ làm được những việc gì trong lĩnh vực tâm linh để có thể góp thêm một phần vào việc giúp cho các công ty hay doanh nghiệp tư nhân được trường tồn và phát triển , tất nhiên các công ty và doanh nghiệp đó phải là những nơi làm ăn chân chính , chứ còn các công ty hay doanh nghiệp lập ra để làm phương tiện bòn rút tài sản của nhà nước, lừa đảo chiếm dụng vốn của tập thể và cá nhân hay làm ăn phi pháp thì tôi không bàn đến, nhưng tôi lại cứ e ngại kiến thức mình chưa đủ để thuyết phục người đọc nên tôi vẫn còn ngập ngừng rồi bỏ đó , bây giờ sau khi được gặp những vị giám đốc hay chủ nhân của các doanh nghiệp đã sụp đổ , tôi chạnh lòng nghĩ đến một người thân làm giám đốc hoặc chủ doanh nghiệp , khi điều hành một công ty hay doanh nghiệp làm ăn chân chính mà bị sụp đổ thì người đó chịu tai họa đã đành , nhưng lại còn ảnh hưởng đến rất nhiều nhân viên trong đó , một khi thất nghiệp mà không có việc làm , thì có bao người đang là cha là mẹ ,là trụ cột của gia đình sẽ lấy gì lo được cho gia đình họ , liệu họ có cùng đường sa chân vào con đường tội lỗi, rồi cái kết cục là gia đình bị tan đàn xẻ nghé , còn xã hội lại thêm bất an không ?
Vì vậy ngày hôm nay với những kinh nghiệm ít ỏi thu nhặt được trên con đường làm tâm linh cho các công ty và doanh nghiệp những ngày tháng qua nên tôi cũng dành thời gian cố viết bài về đề tài này gửi đến các bạn , hy vọng một khi các vị chủ doanh nghiệp có duyên đọc được bài này thì có thêm chút kiến thức về chuyện tâm linh góp thêm một phần củng cố cho doanh nghiệp mình được trường tồn và phát triển.
Có rất nhiều lý do để dẫn đến sự sụp đổ của một công ty hay doanh nghiệp , nhưng nếu nói về vấn đề tâm linh thì là họ hết phúc.
Tại sao nói vậy , bởi những vị giám đốc của các công ty hay chủ nhân của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ , bị công nợ , bị lừa đảo không phải là không giỏi , không trí tuệ , không có đầu óc kinh doanh , nhưng họ vẫn đặt bút xuống ký những hợp đồng , đầu tư những khoản vốn vào nơi không chắc chắn dẫn đến bị thua lỗ, bị lừa đảo , bị phá sản.
Khi họ cùng đường và tìm đến chỗ tôi mong một lời khuyên để đi tiếp cuộc sống này , lúc đối diện tôi nhận thấy họ đều là những người mặt mũi sáng giá, nói năng khúc chiết rõ ràng , lập luận tư duy vững chắc.
Thế tôi mới hỏi họ các vị rõ ràng tư duy rất sáng suốt , rất thận trọng trong lời nói việc làm thì tại sao lại có thể ký những hợp đồng và nhận những công việc kỳ lạ đến vậy , họ đều nói lúc đó như bị cái gì đó che mắt không thể nhìn ra được , không thể suy tính sâu xa được hơn nữa , cứ nhận và làm thôi cho đến khi mọi sự đổ bể , mà trước đó họ cũng đã là những người thành công làm đâu thắng đó.
Một người bắt đầu trở thành giám đốc, tổng giám đốc hay chủ doanh nghiệp là lúc bắt đầu họ đang được hưởng cái nhân tích phúc trong tiền kiếp nở ra thành quả giàu sang trong hiện tại , nhưng không chỉ có cái phúc đang đi cùng họ mà ngay thời điểm đó cái họa cũng đang đi cùng luôn , chẳng qua vì cái phúc nó quá lớn nên đè bẹp cái họa, nên cái họa cũng tạm tiềm ẩn chờ lúc phúc suy nó sẽ phát tác.
Khi cái phúc đang lớn hay quá lớn , người đó làm đâu thắng đó , nghĩ gì trúng đấy , họ cả đời không cần phải tin vào tâm linh , không cần lễ bái ai hết , có khi còn bất hiếu luôn với tổ tiên và ông bà cha mẹ , làm những chuyện bại hoại với xã hội nhưng họ vẫn thành công và đi lên.
Nhưng rồi một khi phúc suy , họa nó vùng lên ngay và người làm giám đốc công ty hay chủ doanh nghiệp không còn tỉnh táo nữa, trí óc bắt đầu mê mờ , nhận định bắt đầu sai lầm , bắt đầu ảo tưởng cho rằng mình bất khả chiến bại và không biết điểm dừng , đó chính là lực của cái hoạ nó bắt đầu phát tác dẫn dắt chủ nhân đi đến chỗ đặt bút ký những hợp đồng ảo , tiếp nhận những công việc gây thua thiệt cho công ty và doanh nghiệp , chuyện sụp đổ công ty là chuyện đương nhiên, lúc đó tinh khí thần của người đó suy sụp cực điểm , các loại oan gia trái chủ ma oán mới thừa cơ xâm nhập vào não bộ thúc giục tự tử hoặc làm điều xằng bậy để cứu vớt công ty ,nhưng mà càng làm càng hỏng , kết cục là cửa nhà bán hết đưa chân vào tù , thân bại danh liệt.
Và tôi nhận ra rằng những người giám đốc hay chủ doanh nghiệp đã phá sản được chia tạm ra ba thành phần theo nhận định chủ quan của tôi :
Thành phần thứ nhất là các vị đó không hề quan tâm đến vấn đề tâm linh , tất cả đều nghĩ chuyện làm ăn đều do trí tuệ của mình chứ không phải thế lực siêu hình nào che chở chi phối hết , họ chỉ tìm đến tâm linh khi mà họ không còn tin vào cái trí của mình nữa , vì chính cái trí đó từ đưa họ đến thành công thì bây giờ lại dẫn họ đến sự sụp đổ .
Trong thế giới ngày nay , chúng ta những người làm doanh nghiệp vẫn thường gặp những đối tác thao thao bất tuyệt về điều hành quản trị doanh nghiệp , nhưng đó chỉ là trên lời nói , còn khi đi đến việc làm thật thì có thể lúc đầu họ đúng nhưng về sau lại thành sai , bởi vì thực tế nó luôn biến ảo chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào chuẩn mực quy tắc chung , một người ở vùng miền này với kinh nghiệm ấy trí tuệ ấy sẽ rất thành công , nhưng ở vùng miền khác với kinh nghiệm ấy trí tuệ ấy thì lại thua trận , và người đó đến chết vẫn còn ngạc nhiên sao mình giỏi thế mà trời không thương, cuối cùng đều nói một câu thật kinh điển là : mưu sự tại nhân , thành sự tại thiên , có nghĩa là cuối cùng họ cũng vẫn phải tin vào sự sắp đặt của ông trời , sự ủng hộ của thánh thần .
Nhưng thi thoảng chúng ta cũng gặp một vài chủ doanh nghiệp mới khởi sự rất non kém về vấn đề điều hành quản lý , đã thế họ cũng chả cần thờ cúng lễ bái hay tin tưởng vào thế lực tâm linh nào che chở gia hộ , nhưng họ lại cứ làm bừa nếu chữ làm bừa ấy là theo quan điểm của đám đông, kết quả lại thắng lợi và được mọi người ca tụng họ là người quyết đoán , dám nghĩ dám làm .
Thật ra có phải họ là người quyết đoán và dám nghĩ dám làm không ? vậy cái gì chi phối vào tâm trí họ khiến họ quyết làm và thành công , đó cũng vẫn là sự tác động của phúc mà họ đã tạo dựng được trong tiền kiếp , khi phúc họ dày , dù họ chả quan tâm đến chuyện thờ cúng lễ bái tâm linh hay tạo phúc cho về sau nhưng họ vẫn thành công cho đến khi tiêu hết cái phúc đó, và nhìn vào họ mọi người sẽ bảo ừ đấy , ông ấy có phải cúng bái lệ thuộc gì vào sự gia hộ của thánh thần gì đâu mà sao vẫn nên người ? trong giới cờ bạc vẫn có câu : cờ bạc chiều tay mới , tôi đã ngồi chứng kiến bốn ông ngồi đánh tá lả , ba ông thì cao thủ , một cậu thì vừa mới tập tọe biết chơi đánh thì chả ra gì , không hề theo lập luận suy nghĩ chương pháp nào hết , vậy mà kẻ gà mờ đó cứ thắng mấy tên già đời cờ bạc mới cay mũi làm sao ? không những thế cậu ta mà ra đánh lô đề , cứ đánh bừa vẫn trúng , trong khi ba ông kia đeo mục kỉnh tính toán số sách dày cộp nhưng vẫn trượt mọi người đều kết luận là cậu ta ăn may , trước kia tôi cũng nghĩ vậy , nhưng bây giờ thì tôi biết thật ra cái phúc của cậu ta nó đang trổ ra trong thời điểm đó cho cậu ta được hưởng mà thôi.
Và chúng ta thử nghĩ xem , ngay như nước Mỹ nơi tập trung những bộ óc siêu việt của thế giới , vậy mà trên đồng Đô la của họ vẫn đề chữ IN GHOD WE TRUST , nếu bàn rộng ra có nghĩa là chúng tôi chỉ tin tưởng nơi Chúa Trời thánh linh phù hộ cho quốc gia thịnh vượng , chứ không tin lắm vào cái trí tuệ hữu hạn của các nhân tài trong quốc gia .
Bây giờ nói đến thành phần thứ hai là những chủ doanh nghiệp có tin vào chuyện tâm linh , nhưng rất hời hợt, không đặt nặng vấn đề , chỉ đến khi công ty sắp sụp đổ bởi những lý do mà chính họ cũng không thể ngờ và không giải thích được về mặt lý thuyết , họ bắt đầu để tâm hơn về vấn đề tâm linh , lúc này họ bắt đầu đi cầu cúng nhiều hơn , khấn chỗ này vái chỗ kia , có bệnh thì vái tứ phương , cái lúc khỏe mạnh thì không chịu phòng bệnh ,đến lúc bệnh đổ ra nặng rồi mới đi chạy chữa , nhưng họ không hiểu khi cái phúc đã hết , vận đã suy thì việc chạy chữa rất là mệt mỏi , và không có ông thầy giỏi nào có thể chạy chữa cho người đã hết phúc .
Thành phần thứ ba là những chủ doanh nghiệp hoàn toàn tin vào tâm linh , họ ngay từ khi mới thành lập công ty đã nhờ cậy các thầy đến soi xét thiết lập phong thủy cho doanh nghiệp , cúng bái làm lễ rất hoành tráng, lúc đầu thì công ty thành công ăn nên làm ra nhưng cuối cùng công ty vẫn sập , bởi vì sao , bởi vì làm chưa đồng bộ , các vị thầy đó có đủ tài kích hoạt cái phúc đến rất nhanh cho thân chủ hưởng nhưng lại không hướng cho người ta con đường tạo thêm phúc ,cái phúc đang hưởng đó vốn là cái mà các vị chủ công ty hoặc doanh nghiệp tự sẽ phải có trong cuộc đời này , bởi vì nó đã đựợc tích góp từ nhiều kiếp đời trước và bây giờ đến lúc nó phải trổ ra sớm hay muộn mà thôi , bạn tiêu nhanh thì hết nhanh , phúc của bạn giống như bình ắc quy điện , dùng mãi mà không sạc thì nó sẽ hết , vì vậy nếu ta giúp cho các doanh nghiệp thành công ngay tại thời điểm đó mà không nhất quyết chỉ ra và buộc thân chủ phải tạo phúc cho tương lai tựa như sạc điện cho bình ắc quy thì có làm cũng như không.
Thi thoảng tôi vẫn được nghe mọi người bàn tán có ông thầy này ở đây, ở kia rất là giỏi , ông ấy có khả năng trấn yểm phong thủy , tính toán phi tinh , cúng bái xin xỏ , làm bùa cầu tài khiến cho thân chủ đùng cái gìau ngay, công ty doanh nghiệp lên như diều gặp gió , tôi nghe xong mà chỉ biết cười buồn , bởi vì sao , một người số đã có thì không cần cúng bái xin xỏ vẫn có , chỉ có điều có ngay bây giờ hay muộn tý thôi , vì vậy bạn hưởng phúc bây giờ thì cũng như rút tiền trong tài khoản của bạn khi sinh ra là nó đã xuất hiện cùng bạn và nó quy định phải có từng này cho đến mãn kiếp , nhưng vì bạn không có thiên nhãn nên không biết bao giờ mình mới có tiền , những người làm tâm linh chẳng khác gì những tay cò gỗ giúp bạn rút tiền ra khỏi tài khoản của mình nhanh hơn cho đỡ sốt ruột mà thôi, dĩ nhiên là bạn phải mất phí dịch vụ rồi , và ông thầy trên tuy giúp bạn rút phúc của mình ra hưởng cho nhanh , nhưng lại lờ đi cái vụ hướng cho bạn một con đường phải tạo phúc về sau để phúc còn mãi như thế nào , bởi vì nếu nghe xong thì bạn sẽ chạy mất dép không quay lại gặp ông ý nữa , tâm lý chung của con người là muốn ăn cơm nhưng không muốn nghe chuyện trồng lúa là việc bình thường thôi
Nếu như một người có tướng số bần cùng nghèo hèn và lá số hỏng be bét , đố ông thầy ấy làm sao mà giúp người ta giàu được lên thì mới đáng nể , nhưng chỉ có điều giàu lên nhanh thì cũng tương ứng với việc chết nhanh, bởi vì nói ví dụ số mệnh của bạn đã định bạn phải có một tỷ trong tài khoản cuộc sống từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi trong 60 năm chẳng hạn , dĩ nhiên để duy trì cuộc sống cả đời với số tiền chia đều ra đó thì bạn sẽ rất nghèo , nhưng bạn sẽ sống được hết cuộc đời này với số phúc phải có đó , một khi ngày mai tự nhiên vì ai đó trổ tài bằng các thuật siêu hình giúp bạn lập tức có ngay 1 tỷ trong thời điểm bây giờ khi bạn mới 40 tuổi , bạn cầm 1 tỷ thì cũng tương đương với việc bạn đã rút hết phúc cả đời của mình , dĩ nhiên phúc hết thì mạng sống chuẩn bị sẽ không còn , các bạn đã từng nghe và thấy một vài người vào tuổi 49 xây nhà mua xe xong thì bị tai nạn chết , mọi người đều bảo ông ấy phạm kim lâu ,nhưng tôi vẫn thấy có người cũng tuổi ấy nó cứ xây nhà mà chả làm sao , vậy lý giải thế nào đây , thấy mấy thầy vẫn bảo ông ấy không có phúc ở nhà to đi xe đẹp , nên khi vừa xây xong cái nhà to đi cái xe đẹp thì tiêu hết phúc là vừa , dĩ nhiên là hết số thôi , cho nên tại sao đức Phật cứ luôn khuyến cáo con người phải nên tích đức tạo phúc sống biết đủ là vậy.
Một người đến vận trở thành giám đốc điều hành một công ty là do chữ phúc, phúc còn và tăng trưởng thì công ty tăng trưởng , phúc suy thì công ty bị suy sụp , bị công nợ , bị lừa đảo chiếm dụng và bị phá sản, một con người sinh ra có 70 % phúc hay họa là do số mệnh trời sinh , nhưng các vị hiền thánh lại đưa thêm ra 30 % là do hành xử của con người quyết định đến việc tăng giảm lại 70 % trên , vì vậy ở đây cái chính nếu là người thầy có duyên đến giúp cho doanh nghiệp đó thì nên hướng dẫn thân chủ làm những gì đúng đắn phù hợp với ý trời lòng người trên con đường tâm linh để giữ gìn và tăng được phúc cho thân chủ , để phúc mãi không hết trong việc trường tồn và phát triển công ty và doanh nghiệp thông qua việc tin vào sự gia hộ của thần phật tổ tiên , thờ cúng lễ bái các vị và tu tập sửa mình , làm thiện tích phúc , đây chính là vấn đề của bài này mà tôi muốn truyền tải đến các bạn, dĩ nhiên đây chưa phải là chuẩn mực chung cho tất cả.
Một con người sinh ra trong đời , thành công hay thất bại tóm gọn theo tâm linh thì phụ thuộc vào ba yếu tố số mệnh , thời vận và phong thủy ,nhưng phong thủy chỉ là thứ ăn theo mệnh và vận của con người , khi vận của bạn đang lên thì tự nhiên phong thủy xung quanh ta biến đổi một cách vô tình hoặc tự nhiên ta gặp được các vị thầy trong lĩnh vực tâm linh hướng dẫn chỉ bày tác động hữu ý vào hoàn cảnh , Khổng tử có câu thời vận không thông phong thủy vô ích , vậy ta chỉ bàn đến số mệnh và thời vận.
Trong nhà phật có từ chánh báo và y báo.
Trong việc thành lập công ty hoặc doanh nghiệp và vận hành nó , khi chánh báo là giám đốc công ty gặp vận tốt và có niềm tin vào tâm linh , có tâm hướng thượng yêu thương con người , thì y báo tự nhiên sẽ gặp được những người thầy tâm linh có đủ duyên nợ với mình và thông hiểu sự việc, làm pháp viên mãn , hướng dẫn cho thân chủ các bước tâm linh phù hợp , tiến lui đúng lúc , bên cạnh tự lực là cái trí tuệ của mình thì còn biết nương tựa vào tha lực là sự gia hộ của thần phật và các chân linh , khiến cho thành công nhiều, thua lỗ ít , hai cái khi đem bù trừ cho nhau dẫn đến tích lũy được sản nghiệp thì được gọi là thành công.
Vậy chính xác thì người thầy sẽ làm gì cho thân chủ , chư hiền thánh có câu tâm sinh ra tướng , tướng sinh ra hình , nhưng trong tướng số cũng có phương pháp quan sát hình tướng âm thanh giọng nói điệu bộ đi đứng của đối phương tại thời điểm hiện tại để mà đưa ra cách sửa chữa bổ khuyết sao cho từ hình dáng đi đứng hành động lời ăn tiếng nói tác động ngược lại nội tâm để thay đổi lại số mệnh cho thân chủ trong tương lai , vì vậy người thầy sẽ luôn ghi nhớ quan sát hình tướng hành động và lắng nghe giọng nói của thân chủ trong lần gặp trực tiếp đầu tiên để đưa ra lời khuyên hữu ích trong việc cải sửa vận mệnh, kết hợp cùng với việc nhìn vào lá số tử vi của họ để biết có thể làm được những gì góp phần giúp họ phát triển sự nghiệp đến độ tốt nhất mà mệnh của họ có thể được hưởng ,bởi vì công ty lên xuống hoàn toàn phụ thuộc vào vận mệnh của vị giám đốc hoặc chủ doanh nghiệp đó.
Nếu vị đó có sự tu tập thì sẽ được thần phật gia hộ , còn nếu không có sự tu tập thì có phúc ấm tổ tiên gia hộ , và trong lá số tử vi ở phúc cung đều có chỉ ra trong tổ tiên ai là người đang gia hộ cho vị đó, không chỉ cho thấy trên lá số tử vi mà người thầy còn triệu thỉnh chân linh tổ tiên , người đang phù trì cho thân chủ lên để cho thân chủ được gặp và thưa hỏi trực tiếp, biết được điều đó thì thân chủ sẽ biết nên làm gì với tổ tiên để giữ mãi sự gia hộ này.
Sau khi đã biết được hình tướng và số mệnh của vị đó ưu khuyết ra sao thì người thầy sẽ trực tiếp đến công ty hoặc doanh nghiệp quán sát địa hình công ty về mặt phong thủy phi tinh , xem đâu là những tọa hướng phương vị nào có thể giúp cho chủ công ty hay doanh nghiệp chiêu tài hoá sát phát khởi trí tuệ đúng đắn , và cảm nhận âm phần ở công ty có còn gì vướng mắc , suy nghĩ xem cần phải đưa ra những định hướng gì để giải quyết .
Địa hình của một công ty hoặc doanh nghiệp về mặt tâm linh sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các vị thần linh trong bản đất , các vong linh tiền chủ sống lâu năm trong đất , khi chủ công ty hoặc doanh nghiệp mà phúc đang nhiều vận đang lên thì dù có không thờ ai đi chăng nữa thì công việc vẫn trôi chảy , cho nên việc thờ cúng thánh thần và tổ tiên chu đáo cũng chính như là một cách gieo duyên với chư vị , một khi đến lúc phúc suy vận kém , ta còn có siêu hình che chở phù trì vượt qua vận hạn một cách ngoạn mục .
Vì vậy khi thành lập công ty hay doanh nghiệp , ta buộc phải tôn hương phụng tự các vị thổ công , thần tài thổ địa , bát hương trang thờ có linh hay không , hoàn toàn do năng lực của người thầy đến tiến hành làm , nhưng một người thầy nếu chỉ biết đọc thật hay và chuông mõ ấn khế giỏi theo đúng trên sách vở cha truyền con nối thì chưa chắc đã có ai giáng vào lư hương hay tượng thần , chuyện này còn phụ thuộc vào cái đức và năng lực tu tập của người thầy từ nhiều kiếp trước cho đến kiếp này nữa , cái này thì không có thân chủ nào nhìn thấy, chỉ có quỷ thần họ biết và tuân phục làm theo lời yêu cầu của người thầy đó thôi .
Bên cạnh đó khi người thầy có sự chuyên cần tu tập học hỏi nghiên cứu , sống thiện tâm và cố gắng giữ chữ đức nên luôn có thiện thần và các chân linh đi theo ngầm phù hộ và có đủ duyên nợ với bạn , thì khi họ đến công ty của bạn , thì họ tự nhiên sẽ có một trực giác sáng suốt , một cảm nhận tinh tế mà ta vẫn gọi là linh cảm , linh cảm này phát xuất từ năng lực tự thân và sự gia hộ mách bảo của bề trên, họ không những giúp được cho công ty về mặt thiết lập phong thủy và thờ cúng lễ bái làm hài lòng người âm , mà còn biết hướng dẫn người giám đốc công ty và chủ doanh nghiệp ngoài việc lễ bái thờ cúng sao cho đúng thì còn nên làm những thiện sự gì cho thế nhân để tăng cái phúc của thân chủ lên.
Sau mấy năm đi làm công việc tâm linh cho một số công ty , cộng thêm kinh nghiệm tu tập pháp tu Chuẩn đề , tôi nhận ra rằng ở văn phòng của các công ty nên thờ tượng phật Chuẩn đề .
Theo như kinh điển đã nói , đức bốn sư Thích ca mầu ni phật , vì biết trước chúng sinh trong đời mạt pháp sẽ bị chìm ngập trong biển lửa tam độc ngũ dục rất khó tu hành hóa giải chướng nạn , khi chết sẽ rơi vào tam đồ ác đạo vạn kiếp khó ra , vì vậy ngài vô cùng thương xót mà tuyên thuyết ra pháp tu này , ngõ hầu giúp cho chúng sinh mê lầm có thêm phương tiện mà vượt qua biển khổ.
Trong đời mạt pháp này , khi mà xã hội đang động loạn , ngày nào cũng có tin thiên tai động đất bão lụt , người chết nhà cháy ,giết người cướp của , nghiệp quả con người đang trổ ra ngày càng tàn khốc , thì pháp tu mật pháp Chuẩn đề có rất nhiều tầng bậc tu tập từ thấp đến cao tương ứng với trình độ của tất cả các hạng người từ cao đến thấp, từ già đến trẻ, từ thấp hèn đến quyền quý giống như dòng nước mát thanh lương , là một phương tiện trong nhiều phương tiện của nhà phật cứu khổ cho tất cả những ai hướng đến.
Đức Chuẩn đề phật mẫu trong đời mạt pháp này có năng lực gia hộ rất lớn trong việc cứu khổ những chúng sinh đang lâm nạn và trấn áp tiêu diệt ngay mầm mống của nạn khi vừa mới sinh , đập nát các hoặc nghiệp của chúng sinh, khiến cho kẻ đoản mệnh được thọ mệnh lâu dài, tăng tiến phúc tuệ , xa lìa nẻo ác, mau chóng phát Tâm Bồ Đề và viên mãn mọi ước nguyện nếu như bạn nhất tâm tin tưởng vào sự gia hộ và tu tập theo pháp tu của nhà ngài.
Bên cạnh các công năng tiêu nạn, theo như mật tông Tây tạng thì đức Chuẩn đề ngoài việc tượng trưng cho trí huệ thì cũng chính là một vị thần tài có khả năng chiêu tài cho những ai thờ phụng ngài , tất nhiên tài vận đó rất chính đáng.
Mỗi buổi sáng ra , khi đến công ty , khi bạn thắp nhang dâng nước hiến cúng đức Chuẩn đề , thầm trì niệm 108 biến chú , thì trường năng lượng của văn phòng tự nhiên tăng lên , giúp cho bạn có thêm sinh khí để tập trung vào giải quyết mọi công việc chuẩn xác , làm cho lời ăn tiếng cư xử của bạn tự nhiên trở nên có chuẩn mực trong mắt mọi người , đó chính là sự ngầm gia hộ của chư hộ pháp đang đổ xuống quây quanh tượng phật Chuẩn đề .
Thêm nữa nó làm cho bạn tự có linh cảm nhận diện đâu là người thật , đâu là kẻ rắp tâm lừa đảo làm phương hại đến công ty khi phải đối diện với khách hàng đến văn phòng giao dịch , tục ngữ nói tri nhân tri diện bất tri tâm , nhưng bây giờ bạn tự nhiên có một trực giác rất tốt trong việc cảm ứng trong tâm hình dung ra tâm địa người trước mặt mình nó như thế nào , lại nữa ngay cả người có tâm địa xấu , khi bước vào văn phòng , nhìn thấy tượng phật Chuẩn đề uy nghiêm ngự trên pháp tòa trong khói hương mờ ảo , tự nhiên khiếp sợ nhụt mất cái ý niệm xấu đang khởi trong tâm.
Không những thế những người giám đốc hay chủ doanh nghiệp , một khi có tu tập mật chú Chuẩn đề , mỗi khi đi ra ngoài bằng xe ô tô , nếu trên xe có dán linh phù Chuẩn đề đã được gia trì , thì chiếc xe lúc đó sẽ có một vòng cương khí vô hình bao bọc bảo hộ lấy xe và chủ nhân, sẽ tránh được những nạn tai không ngờ mà các loại oan gia trái chủ trong vô hình đang rình rập để báo oán.
Khi trao đổi những vấn đề trên với một bạn đã từng là giám đốc một công ty , bạn ấy bảo giá mà được gặp thầy sớm thì có lẽ em đã không mất công ty, tôi chỉ cười buồn , bởi vì con người ta gặp nhau đó là nhân duyên , một khi không có duyên gặp thì dù có đọc đấy , thấy đấy , nghe đấy nhưng vẫn như xa lạ , chắc chắn khi bạn đang trên đỉnh cao của danh vọng và quyền lực thì tôi sẽ không có chỗ đứng trong tâm bạn ,bạn có quá nhiều việc phải làm trong một ngày , nào là gặp gỡ đối tác , ký kết hợp đồng , mưu cầu tính toán điều vận doanh nghiệp , nào là mua sắm ăn chơi du lịch hưởng phúc khi có tiền , nào là bạn bè đông đảo ăn nhậu sao mà thân thiết con chấy cắn đôi đầu môi chót lưỡi đến thế , với bạn thì thời gian để bạn tranh đấu và hưởng hết cái phúc của bạn còn không đủ , lấy đâu ra thời gian nghĩ về thần phật , làm thiện tích phúc , tu tập sửa mình tiêu trừ nghiệp chướng , nghĩ đến chuyện có thể ngày mai mình không còn gì .
Cổ nhân luôn nói , âm có phù thì dương mới trợ , đức phật thì luôn chỉ bảo mọi người phải tạo phúc , vì vậy khi bạn không nghĩ đến nương dựa vào thần phật tổ tiên , không biết tu tập sửa mình tích đức tạo phúc , dĩ nhiên cái phúc bạn đang có nó sẽ vơi , khi nào bạn lên đến đỉnh cao nhất của cuộc đời , thì cũng chính là lúc bạn chuẩn bị hưởng hết phúc và chuẩn bị ngã xuống vực sâu , lâu hay mau thì còn do phúc dày hay mỏng mà thôi.
Nhưng chắc chắn ngày đó bạn sẽ gặp được tôi , chính là ngày hôm nay khi mà bạn không còn gì nữa , không còn có bạn bè đối tác nào nữa khi mình đã là kẻ bần cùng khốn nạn , chỉ còn sự cay đắng về nhân tình thế thái mà thôi , và tôi thì lại thấy mình có duyên gặp và giúp đỡ những người lâm vào cảnh cùng đường tuyệt lộ hơn là lúc họ đang giàu sang , lúc đó chỉ cho họ thấy lẽ sống của cuộc đời dễ dàng hơn và có thể hướng họ tin và tu tập theo pháp tu Chuẩn đề được , giúp họ tin vào chính mình rồi ngẩng đầu lên đi tiếp dưới ánh quang minh và sự gia hộ của Đức Chuẩn đề , biết rằng bây giờ họ sống không phải chỉ cho riêng mình , mà còn vì hạnh phúc của rất nhiều người sắp tới một khi họ chuẩn bị khởi nghiệp trở lại , mà ngày xưa họ vốn không nhận thức ra được ,họ chỉ nghĩ là mở doanh nghiệp ra cốt chỉ để làm giàu cho cá nhân mình mà thôi.
Một khi bạn luôn tâm niệm nghĩ rằng mình thành lập công ty hay doanh nghiệp là để giúp cho hàng trăm hàng nghìn người có được công việc duy trì cuộc sống thiện lương , thì tâm niệm đó đã cảm ứng đến thánh thần , đúng với tâm đại bi của nhà phật , tất nhiên bạn sẽ tự nhiên có được sự gia hộ của các vị, và các bạn lại có tu tập thêm mật chú tiêu nghiệp cùng tích đức tạo phúc thì thật là tuyệt vời.
Lúc trước tôi đã có lần nói chuyện với một cậu giám đốc công ty chuyên về ngành vận tải, tất nhiên doanh nghiệp này làm ăn chân chính 100% , tôi bảo người ta ở trên đời ấy cứ nghĩ mình phải đi tu, rồi đem giáo lý nhà phật đi dạy người thì mới là bậc bồ tát hay thiện nhân , thật ra em cũng là bậc bồ tát giữa đời thường , chẳng qua vì chưa gặp được người khai thị cho em biết thôi .
Đây tôi nói ví dụ , bây giờ công ty em chắc chắn có mấy trăm công nhân viên, em cũng rất quan tâm đến đời sống của họ và đối xử với họ rất tốt , nếu em bị sập tiệm thì họ ra đường , không phải ai cũng kiếm được một công việc tốt đẹp như ở công ty của em, mà trong số nhân viên đó có rất nhiều người đang là trụ cột gia đình , mất việc rồi họ biết làm gì để sống ,lỡ như một phút không suy nghĩ làm những điều không phải thì họ , gia đình và xã hội sẽ đi về đâu ? như vậy có phải nếu công ty em ngày càng phát triển thì tức là em đã giúp cho họ một đời sống hạnh phúc và xã hội thêm bình an hay không ? như vậy em cũng là một vị bồ tát tái sinh trong cuộc đời này đấy , chí ít thì cũng là với mấy trăm người đó , vậy bây giờ em hãy nghĩ trước đây em kinh doanh là vì em và gia đình thì bây giờ hãy nghĩ , mình kinh doanh là vì sự sống còn của hàng trăm người , hàng trăm gia đình, hãy mở lòng ra yêu thương và quan tâm đến đời sống của họ , tôi luôn nguyện cầu chư phật chư thánh thần luôn bên em , ủng hộ gia trì cho em luôn gặp may trên con đường phát triển doanh nghiệp.
Nghe xong cậu ấy chia sẻ, đúng thật là em không biết gì nhiều về phật pháp , em cũng chỉ thành tâm rất hay lo sang sửa mồ mả xây dựng từ đường cho tổ tiên , hay đi lễ bái cúng dường cho các đình chùa với những khoản tiền rất lớn vài tỷ là chuyện thường và ủng hộ các vụ làm từ thiện cho người nghèo của các tổ chức từ thiện, cùng với việc quan tâm chăm lo cho đời sống các công nhân của em , nhưng lần đầu tiên nghe thầy phân tích em mới hiểu ra giá trị của bản thân mình với xã hội , thảo nào em nghe thấy bà bán nước chè ở đầu cổng công ty em cứ hay khấn …chú giám đốc tốt quá , tôi cầu cho chú ấy luôn khỏe mạnh , công ty phát triển , có nhiều công nhân đến làm để tôi cũng bán được hàng , em cứ ngỡ là bà ý nói nịnh mình , đâu có biết đó là lời nguyện cầu thật sự trong tâm của người ta .
Tôi sau nhiều năm cứ miệt mài tu tập , học hỏi đúc rút kinh nghiệm sau mỗi lần đi làm pháp thì đến bây giờ , tôi nhận thức ra rằng khi tôi đến làm việc tâm linh cho các đơn vị doanh nghiệp nào , họ hay gặp điều may thì không phải là vì tôi lễ hay cúng giỏi , vì cuộc đời này còn có nhiều người giỏi hơn tôi rất nhiều về chuyện lễ bái thờ cúng , nhưng cũng vì thế mà tôi hiểu thêm rằng thật ra các khoa pháp cúng bái đều chỉ là phương tiện thôi , nếu bạn không có chư vị trong siêu hình đứng sau gia hộ thì cúng giỏi cũng chả ai chứng , mà cái chính là tôi luôn hướng cho họ một con đường , đó chính là biết tin và nương dựa vào tha lực của thần phật tổ tiên phù trì , và vì tin nên cũng biết tu tập sửa mình, làm nhiều thiện sự cho tha nhân để luôn được sự gia hộ của thần phật chư thiên và tích chứa mãi cái phúc không cho nó cạn .
Mỗi khi tôi đến làm pháp cho một doanh nghiệp nào , tôi luôn mang trong tâm một nguyện cầu tha thiết, đó là nguyện cầu thượng ân gia hộ cho doanh nghiệp đó luôn thành đạt và phát triển , lời nguyện cầu đó không phải để cho tôi được nổi tiếng , không phải cho người giám đốc doanh nghiệp đó chóng giàu , mà là cho toàn thể các nhân viên trong doanh nghiệp đó có được một công việc lâu dài , giúp cho họ và gia đình được bình an ổn định cuộc sống , giúp cho họ luôn được hạnh phúc , tức là xã hội hạnh phúc và bình an , có lẽ vì tâm nguyện và hành xử của tôi phần nào tương ưng với nguyện cứu khổ của chư phật bồ tát nên các vị đã gia hộ cho công việc của tôi hay gặp may chăng ?
Và vì như thế nên có thể nói là các vị giám đốc , chủ doanh nghiệp đều có số mệnh khi sinh ra làm người sẽ có 70 % phúc báo tới lúc sẽ được giàu có và làm chủ, nhưng để trường tồn phát triển hoặc suy sụp lâu hay mau thì nó phụ thuộc vào 30% hành xử với cuộc đời , hành xử đây là tin vào tâm linh , luôn cần đến tha lực gia hộ của thần phật tổ tiên nên thờ cúng lễ bái các vị chỉn chu đầy đủ, vì tin có tha lực gia hộ đó nên tự lực sẽ là làm nhiều thiện sự với tha nhân cứu giúp người dương siêu độ người âm cúng dường Tam bảo , tôn tạo đình chùa và biết tu hành giải nghiệp tăng cường trí tuệ đúng đắn , tích chứa chủng tử nhà phật trong tâm để tương ứng với sự gia hộ của chư vị , rồi theo thời gian cải biến nội tâm nhân cách mình đạt độ hoàn chỉnh đến giai đoạn đạo cao long hổ phục , nhưng đức trọng thì quỷ thần kinh , nhân gian vẫn bảo người có đức mặc sức mà ăn, và dĩ nhiên các chủ công ty hoặc doanh nghiệp một khi đã thực hành được những điều trên thì ánh hào quang của sự thành công sẽ không bao giờ tắt , sự thịnh vượng sẽ còn truyền đời nối tiếp mãi cho mai sau.
Minh Thiên.
Sdt : 0943666611
Đống đa – Hà nội.
Diễn đàn matviet.org.
Email : minhthien.matviet@yahoo.com

Bạn đang xem trang 1 / 1 trang [ Đã tìm thấy 17 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh