Hôm nay, Chủ nhật 25/08/19 4:10

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 35 kết quả

Người gửi Nội dung

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 01/11/13 15:28 

(Đa số là bị xuất huyết mạch máu Não)
Phải làm song-song cùng lúc 2 việc sau đây:
1/- Gọi điện-thoại 911 cấp cứu. Hoặc dùng phương-tiện chuyển gấp bệnh-nhân vào bệnh-viện.

Với điều-kiện khi vận chuyển không làm xóc Bệnh-Nhân, vì xóc, sẽ làm vỡ tung thêm các Mạch Máu trong Não !

Nếu không, giữ Bệnh-Nhân nằm yên tại chỗ là tốt nhất !

Trong lúc chờ xe đi bệnh-viện, hoặc đang chuyển đến bệnh-viện. Cần làm:
2/- Tuốt từ Vai ra Cánh Tay rồi dùng kim châm 2 Huyệt Thiếu-Thương ở khoé ngoài chỗ giáp gốc Móng Tay của Ngón Cái. Nặn Máu ra.

http://imageshack.com/a/img716/2699/jk4q.jpg Uploaded with ImageShack.com

Châm kim 10 đầu ngón Tay, rồi 10 đầu ngón Chân và nặn Máu ra.
Vì thường-thường lúc đó, máu ở các đầu Ngón tay, Chân, có màu bầm đen, sẽ rất kẹo, Ta phải nặn ra ! khi các giọt máu "kẹo" ấy ra được là rất tốt !

(Ta có thể dùng bất cứ Kim gì kiếm được lúc đó, chỉ cần dùng hộp-quẹt, bật lửa đốt đầu Kim sát trùng là dùng được ngay)

Vì khi người bệnh bị xuất huyết Mạch Máu Não, thì Máu chảy tràn lan trên óc, trong khi Tim vẫn tiếp-tục bơm Máu lên !. Máu chảy ứ trong Não, gây nhức đầu, rồi máu đông lại, sẽ ép lên các hệ thần-kinh chi chít của Não, Làm tổn-thương Não bộ, gây hôn mê và dễ làm người bệnh vĩnh-viễn bị liệt, hoặc đưa đến tử vong.
Thường thường vào bịnh-viện, người ta phải khoan lỗ Sọ để cho Máu vỡ thoát ra, hoặc đặt ống hút các máu ứ bên trong ra.
Do đó, ta châm 2 Huyệt Thiếu Thương, và các đầu ngón Tay, Chân rồi nặn máu là với mục-đích giảm-thiểu sự tăng áp-suất máu vọt thêm lên Não.

Atoanmt

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trị Xương Mắc Cổ Họng
Đã gửi: Thứ 6 01/11/13 13:48 

Hôm nay tôi xin trình bày cách "Mượn Trà, hoặc Nước cúng của Phật” để trị bịnh "Hóc Xương, Mắc Xương trong Cổ”. 1/- Nếu trên Bàn Thờ của Phật có sẵn ly nước hoặc ly Trà: Mình chỉ cần lại thắp 3 nén Hương, xong thầm khấn 3 lần: Xin chư Phật cho con xin Nước ( Xin Trà) của Phật để trị Hóc Xương. (Trường hợp ly không có Nước, hoặc Trà thì mình rót Nước vào)

http://imageshack.com/a/img89/2533/5onm.png Uploaded with ImageShack.com

2- Cầm ly Nước bằng tay Phải, tay Trái thì ngón Cái bấm vào gốc của Ngón Áp Út, chỗ đeo Nhẫn, đeo Cà-Rá. Ba Ngón: Giữa, Áp Út, và Út nắm Ngón Cái lại, chừa Ngón Trỏ ra: Giống Y như là Ấn Định-Thân.

3/- Ngón Trỏ đó chấm ngay tâm-điểm của đáy Ly, vẽ 3 vòng Ngược chiều kim đồng hồ, Theo hình Vẽ.

4/- Đưa ly Nước hoặc Trà đó cho người bị mắc Xương uống, vừa đưa vừa nói: -" Đây là Nước Cam Lộ Thủy của Phật, uống vào xương sẽ trôi tan mất ngay”. Trường hợp cấp cứu, trong bàn ăn, bất cứ chỗ nào, không có Bàn Thờ Phật thì: Rót 1 ly nước, cầm như trên, hít 1 hơi dài vào, ngậm miệng, nín thở, lưỡi hơi uốn cong chạm vào chân răng cửa, (Nếu bạn bị...sún Răng Cửa thì Lưỡi chạm ngay vào chỗ nướu (lợi) của Răng sún đó cũng được .

Có điều là những người bị Sún Răng Cửa, không nên Cười Toét Miệng, vì cười như thế dễ bị Gió lùa vào, sinh đau Bụng !) Nghĩ trong óc câu: “Xin chư Phật chứng cho con dùng Nước để trị Hóc Xương như ý.” Niệm xong hé môi thở nhè nhẹ về ly nước. Rồi làm theo phần số 3 và 4 nêu trên là kết quả ngay.


Nguồn: Atoanmt

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: THẦY GIÁO
Đã gửi: Thứ 7 30/11/13 16:30 

http://img545.imageshack.us/img545/1847/enwu.jpg

THẦY GIÁO

Này bạn ơi! Bạn là thầy dạy của chính mình đó.Tìm kiếm một vị thầy không giúp bạn giải tỏa hoài nghi. Tìm hiểu chính mình để thấy sự thật bên trong, không phải bên ngoài, tự hiểu mình là điều quan trọng nhất.

Một vị thầy của tôi ăn rất nhanh, khi ăn gây ra tiếng động ồn ào; thế mà thầy dạy chúng tôi phải ăn chầm chậm và chánh niệm. Quán sát thầy tôi lấy làm thất vọng và buồn nản. Tôi đau khổ trong khi ông ta vẫn tự nhiên. Thật ra, tôi quán sát bên ngoài mà không quán sát chính tôi. Sau này, tôi mới hiểu rõ điều đó. Có nhiều người lái xe rất nhanh, nhưng cẩn thận.

Trong khi một người khác lái xe rất chậm, nhưng gây nhiều tai nạn. Đừng dính mắc vào những qui luật có sẵn. Đừng dính mắc vào hình thức bên ngoài. Nên nhìn người ngoài mười phần trăm và để chín mươi phần trăm nhìn lại chính mình.

Rất khó dạy giới luật. Một số hiểu nhưng không thèm thực hành. Một số không hiểu nhưng không chịu tìm hiểu. Tôi chẳng biết phải dạy họ như thế nào? Tại sao lại có những người như vậy? Không biết đã là tệ hại rồi, nhưng ngay cả khi tôi dạy họ, họ cũng không nghe. Họ nghi ngờ pháp hành. Họ luôn luôn hoài nghi. Họ muốn đến Niết Bàn nhưng không muốn thực hành. Thật là trở ngại.

Khi bảo họ hành thiền, họ sợ hãi; và nếu không sợ thì họ chỉ ngồi ngủ. Phần lớn đều thích làm những điều mà tôi không dạy. Đó là cái khổ của kẻ làm thầy.

Nếu có thể thấy chân lý của Đức Phật một cách dể dàng thì chúng ta không cần phải có nhiều thầy dạy. Khi hiểu những lời dạy của Đức Phật thì chúng ta cần làm những gì cần làm. Những điều làm thầy khó khăn là học trò không chấp nhận giáo pháp, tranh biện với giáo pháp và tranh biện với thầy. Trước mặt thầy, họ làm như họ tốt đẹp, nhưng sau lưng thầy họ là những tên trộm. Dạy đạo khó khăn thật!

Tôi chẳng bao giờ dạy học trò sống và thực hành một cách tùy tiện, thiếu chánh niệm. nhưng đó là những điều họ làm khi tôi vắng mặt. Nếu hỏi cảnh sát là quanh đây có trộm không thì họ trả lời là không, bởi vì cảnh sát không thấy. Nhưng khi không có cảnh sát thì trộm lại hoành hành. Vào thời Đức Phật. Bởi thế, hãy tự quán sát, theo dõi chính mình, đừng quan tâm đến chuyện người khác.

Vị chân sư thường chỉ dạy những cách hành thiền khó khăn, đòi hỏi nhiều nỗ lực của bạn để loại bỏ tự ngã. Dầu có gì xảy ra cũng đừng bỏ thầy. Hãy để thầy hướng dẫn bạn, bởi vì bạn dể quên đường thực hành.

Mối hoài nghi đối với thầy có thể giúp bạn. Hãy nhận từ thầy những gì tốt đẹp và hãy ý thức việc thực hành của chính mình.Trí tuệ sẽ đến khi bạn quán sát và phát triển.

Không phải thầy bảo trái cây ngon ngọt là tin ngay mà không cần biết gì nữa.Tự mình nếm thử sẽ biết hương vị thật sự thì mọi nghi ngờ sẽ tiêu tan.

Thầy là người chỉ cho ta con đường. Thành công hay không là do chính sự thực hành của ta.

Đôi khi việc dạy dỗ thật khó khăn. Nhà Sư chẳng khác nào một cái giỏ rác để người ta vất bỏ mọi vấn đề bực dọc và phiền toái vào. Càng dạy nhiều học trò thì rác bẩn càng nhiều. Nhưng dạy dỗ là một cách thực hành tốt đẹp. Dạy dỗ giúp chúng ta phát triển kiên nhẫn và hiểu biết.

Thầy không thể giải tỏa nỗi khó khăn của chúng ta. Thầy chỉ là nơi để học đạo . Thầy không thể làm cho đạo sáng tỏ hơn. Những điều thầy dạy là để thực hành chứ không phải là để nghe suông. Đức Phật chẳng bao giờ tán dương sự tin tưởng vào người khác. Phải tin tưởng chính mình. Điều này thật khó khăn. Nhưng phải như vậy. Chúng ta nhìn bên ngoài nhưng chẳng bao giờ thấy. Phải thật sự thực hành. Hoài nghi không tiêu tan do học hỏi nơi kẻ khác mà do liên tục thực hành.

Xin kính gởi đến quý anh chị cùng các bạn những lời dạy cô đọng, giản dị và thâm sâu của Ngài Ajahn Chah một vị thiền sư đầy đủ đạo hạnh và lỗi lạc nhất thế kỹ của Thái Lan về pháp môn Thiền Minh Sát. Mong rằng sẽ giúp ích cho chúng ta trên con đường tu tập. Và đem lại tinh thần thoải mái, bình an hạnh phúc cho mỗi quý vị.

Trích: Thiền Sư Ajahn Chah (Tỳ-Kheo Khánh Hỷ dịch Việt ).

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 09/01/14 17:36 

http://i1169.photobucket.com/albums/r516/hoanghai_101291/1044633_141147746091697_1746175990_n_zpsf880c787.jpg

Không Hải đại sư - Sơ tổ sáng lập Chân Ngôn Tông

1. Không Hải (Kukai) sinh năm 774 trong một gia đình quý tộc ở tỉnh Sanuki, đảo Shikoku, Nhật Bản.

Tương truyền, khi chào đời, Không Hải ngồi tư thế kiết già, hai tay chắp lại mà ra khỏi lòng mẹ. Thuở thiếu thời, Không Hải là một cậu bé khôi ngô, tuấn tú lại rất thông minh vì vậy rất được bố mẹ thương yêu.

Năm lên 17 tuổi, Không Hai thi đỗ và vào học ở một trường chuyên dạy Nho học. Cũng trong năm này, ông viết Tam giáo chỉ quy, một bài luận về ba học thuyết thời bấy giờ là Phật, Khổng và Lão giáo.

Những kiến thức được giảng dạy trong trường Nho học không làm cho Không Hải cảm thấy thỏa mãn.

Trong lúc đang băn khoăn về một con đường sống cao đẹp thì tình cờ Không Hải gặp một tu sĩ Phật giáo và được vị ấy dạy cho một bài chú Mật tông. Bài chú này khiến lòng Không Hải cảm thấy an lạc vô ngần.


Thiền sư Không Hải

Kể từ sau lần gặp gỡ đó, Không Hải đã quyết định dấn thân vào đời sống của một ẩn sĩ tại những nơi hẻo lánh xa xôi như Otaki và Muroto.

Bản kinh văn khiến Ngài chuyển hướng cuộc đời mình là Akashagarbha (Hư Không Tạng), một tác phẩm trong Mật tông đã được Thiện Vô Uý, sơ tổ Mật tông Trung Quốc, dịch ra chữ Hán. Chuyện kể rằng, một hôm, Không Hải đến thăm chùa Todai ở Nara.

Đứng trước tượng Phật, ông nói: “Con phát tâm tìm cầu chỗ quan yếu của Phật pháp. Con đã đọc hết Tam Thừa, Ngũ Thừa, 12 bộ kinh. Nhưng đọc cái nào cũng có những nghi vấn. Trong sâu xa của tâm con có niềm tin tưởng, nhưng rất khó quyết đoán được.

Vậy kính mong thập phương ba đời chư Phật, hoan hỷ chỉ bày cho con cái nào là: “Chân thật bất nhị”.

Trước khi đến Trung Quốc, Không Hải đã bắt gặp bộ “Ðại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì”, một cuốn kinh quan trọng của Chân Ngôn tông sau này tại một ngôi chùa phía Đông Kumedera, tỉnh Yamato.

Thực tế thì đây là một bộ kinh gồm có 7 quyển, nói gọn là: Kinh Ðại Nhật. Lúc bấy giờ, đó là một trong những quyển kinh căn bản của Mật Giáo. Bắt gặp cuốn kinh, Không Hải đã cố gắng hết mình để đọc nội dung, nhưng cảm thấy chẳng dễ dàng chút nào cả.

Sau khi đọc hơn phân nửa, thấy toàn là chữ Phạn được dịch ra âm Nhật rất khó để có thể thông suốt toàn bộ nội dung.

Lúc bấy giờ, Không Hải hiểu rằng, việc tu hành chắc chắn phải có sự chỉ dẫn của một người thầy nào đó.

Tuy nhiên, khi đó ở Nhật Bản rất khó có thể tìm được một người thực sự thông thạo về phương pháp tu hành này. Không còn cách nào khác, Không Hải đành phải lên thuyền sang Trung Quốc tìm thầy để học hỏi phương pháp tu hành.

2. Năm 804, Không Hải đáp thuyền đến miền Đông Bắc, tỉnh Phúc Kiến rồi sau đó lại đến Trường An, Trung Quốc.

Lúc bấy giờ Mật tông rất thịnh hành tại kinh đô Trung Quốc do công lao của Đại sư Bất Không Kim Cang, một người đã phiên dịch rất nhiều bản kinh Mật giáo sang Hán ngữ. Khi đến Trường An, Không Hải học tiếng Phạn với hai nhà sư người Ấn là Bát Nhã và Munissi.

Tài thư pháp của Không Hải khiến cho giới thư pháp tại Trường An phải kính nể. Thậm chí, ông còn được hoàng đế Trung Quốc mời vào cung để viết tên cho các gian phòng trong cung.

Sau khi đã thông thạo tiếng Phạn, Không Hải tìm đến chùa Thanh để học Mật giáo với sư Huệ Quả (746 - 805). Khi vừa thấy Không Hải, Huệ Quả liền nói: “Ta đã nghe người đến Trường An từ lâu rồi. Do vậy ta đã có tâm chờ ông ở chùa này từ dạo ấy.

Đời sống của ta cũng chẳng còn kéo dài trong bao nhiêu lâu nữa nhưng chưa có đệ tử truyền pháp lại cho đầy đủ. Do vậy mà ta chờ ông cho đến ngày hôm nay đây.

Hãy mau sửa soạn hương hoa và nhập vào đàn Quán Đảnh. Ta muốn ông kế tục mật pháp của Mật Giáo”.

Ngay sau ngày gặp gỡ đầu tiên, Không Hải được Huệ Quả truyền pháp Thai Tạng Giới.

Một tháng sau, ông lại được truyền thụ Kim Cương Giới. Đến tháng thứ 3, Không Hải trở thành ngôi vị Truyền Pháp A Xà Lê, lãnh hội toàn bộ yếu nghĩa của Mật giáo.

Như thế chỉ trong vòng ba tháng, Không Hải đã tiếp nhận được giáo nghĩa chân truyền của Mật giáo.

Vào cuối năm ấy (805), Huệ Quả viên tịch ở tuổi 59 và truyền tâm ấn cho Không Hải. Kể từ đây ông thành tổ thứ 8 của Mật tông ở Trung Quốc.

Một năm sau, mùa Thu năm 806, Không Hải lên thuyền quay về Nhật Bản. Trong chuyến trở về lần này, ông mang theo 216 bộ kinh gồm 451 quyển trong đó có 124 bộ thuộc đại tạng của Mật tông.

Phần lớn những tác phẩm này do Ngài Bất Không Kim Cương biên dịch. Ngoài ra ông còn mang về nhiều tác phẩm nghệ thuật và pháp khí của Mật tông.

Khi mới trở về Nhật, Không Hải sống tại Từ khi trở về Nhật cho đến năm 807, Ngài trú tại chàu Dazaifu và Kyushu.

Cũng trong thời gian đó, một thiền sư khác tên là Tối Trừng (Saichoo 767-822) cũng từ Trung Quốc về và truyền bá Thiên Thai tông ở kinh đô nước Nhật.

Khi Không Hải đến kinh thành, một sự kiện hi hữu đã diễn ra trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản, đó là vị tổ Thiên Thai tại Nhật - Tối Trừng Đại sư cùng các đệ tử của mình đã đến thọ giáo với Ngài Không Hải, tổ sư Chân Ngôn tông. Lúc đó Tối Trừng 43 tuổi trong khi Không Hải mới chỉ 38 tuổi.

3. Thời bấy giờ, tại Nhật có ba vị cao tăng nổi tiếng đó là sư Tối Trừng của Thiên Thai tông, sư Shuen và sư Không Hải.

Trong 3 người này đại sư Không Hải là người có ảnh hưởng nhiều nhất trong xã hội. Cuộc đời ông gắn liền với những giai thoại về khả năng kỳ diệu của một bậc chân tu.

Chuyện kể rằng có lần Không Hải đến một ngôi làng nọ bị hạn hán trầm trọng. Dân làng phải đi lấy nước ở những vùng xa xôi.

Theo sự thỉnh cầu của nhiều người, Không Hải bèn thi triển thần thông chống một cây gậy xuống đất và một nguồn suối trong mát phun lên trắng xoá. Kể từ đó, ngôi làng ấy không bị thiếu nước nữa.

Câu chuyện về việc sửa chữa hồ nước ở tỉnh Samuky cũng thật là một kỳ công hiếm thấy.

Khu hồ này được tạo thành từ một con sông, bao quanh là những khu đồi cao thoai thoải.

Năm 703, triều đình Nhật khởi công xây dựng hồ nhưng đến năm 818, một cơn lũ khủng khiếp đã làm sập những bờ tường khổng lồ xung quanh.

Sau đó triều đình đã ra lệnh xây dựng lại nhưng công việc diễn ra rất chậm chạp và không mấy thành công. Không Hải thay mặt triều đình lo việc xây dựng và chỉ trong vòng 2 tháng, công trình đã hoàn thành viên mãn.

Vào năm 809, theo lời mời của Thiên hoàng, Không Hải đã vào cung để trao đổi với Thiên hoàng Saga về nghệ thuật thư pháp.

Thiên hoàng rất khâm phục trước tài năng của Không Hải. Mùa Hè năm 816, Không Hải gởi một bức thư đến Thiên hoàng xin phép xây dựng một ngôi chùa trên đỉnh Cao Dã Sơn (Koya) và kể từ đó ngọn núi này là thánh tích thiêng liêng của Chân Ngôn tông.

Tới đầu năm 823, Không Hải được cử làm trụ trì tại chùa Toji ở Kyoto và đến mùa Đông năm ấy, ông được phép triều đình để tiếp nhận đệ tử và truyền bá Mật tông. Kể từ đây, Chân Ngôn tông xuất hiện tại Nhật.

Đến năm 834, ông lập thêm một điện thờ Chân Ngôn tông tại Cung điện để dạy cho Thiên hoàng và các quan lại.

Tới năm 822, sau khi điện thờ Chân Ngôn tông được hoàn tất tại chùa Đông Đại thì tông phái này phát triển mạnh mẽ, vô số người đã trở thành đệ tử của Không Hải, trong đó có thái tử Takaoka.

Tài năng, đức độ của Không Hải đã cảm hoá rất nhiều tầng lớp dân chúng trong xã hội Nhật.

Năm 830, Không Hải hoàn thành bộ sách “Thập trụ tâm luận” (10 giai đoạn phát triển tâm) gồm 10 cuốn, trong đó ông trình bày cốt lõi tư tưởng cũng như đường hướng tu tập của Chân Ngôn tông.

Ngày 23/4/835, sau khi căn dặn đồ chúng xong, Không Hải ngồi kiết già và an nhiên thị tịch.

Vào tháng 10 năm Thiên An nguyên niên (857), Văn Đức Thiên Hoàng đã truy phong cho ngài là Đại Tăng Chánh.

Đến tháng 10 năm Diên Hỉ thứ 21 (921) Đề Hồ Thiên Hoàng tuyên dương ngài với Thụy Hiệu là Hoằng Pháp Đại sư. Chính vì vậy, người đời sau đều gọi Không Hải là Hoằng Pháp Đại sư.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: [ĐÔNG MẬT] NGŨ TRÍ NHƯ LAI
Đã gửi: Thứ 5 09/01/14 17:39 

http://i1169.photobucket.com/albums/r516/hoanghai_101291/65026_141149489424856_1514176806_n_zps2ca25b4f.jpg

Mật Tông diễn tả bản thể nguyên thủy của thế giới tức PHẬT TÁNH bằng năm vị Phật Thiền (dhyana-Budhas), thường được gọi là Ngũ Trí Như Lai. Năm vị Phật Thiền tức năm Trí được chuyển hóa từ năm thức của tâm thế gian khi giác ngộ.


- Nhãn nhĩ tỉ thiệt thân thức sau khi giác ngộ sẽ biến thành Thành sở tác trí, được biểu tượng bằng Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi)

- Ý thức sau khi giác ngộ sẽ biến thành Diệu Quán Sát trí, được biểu tượng bằng Phật Vô Lượng Quang (Amitabha)

- Mạt-na thức khi giác ngộ sẽ biến thành Bình Đẳng Tánh trí, được biểu tượng bằng Phật Bảo Sanh (Ratnasambhava)

- Alaya thức khi giác ngộ sẽ biến thành Đại Viên Kính trí, biểu tượng bằng Phật Bất Động (Akshobyha).

- Trí Huệ toàn mãn gọi là Pháp Giới Thể Tánh trí, được biểu tượng bằng Phật Đại Nhật (Mahavairocana)

Kinh điển và pháp thực hành Mật Tông được chia ra thành năm Bộ theo các khái niệm Phật Thiền, ví dụ: Phật bộ, Liên Hoa bộ, Kim cang bộ, Bảo bộ và Nghiệp bộ (tức karma bộ, tức yết ma bộ)

Phật Bộ
Đại Nhật Như Lai– Vairocana
Pháp GiớiThể Tánh Trí: sự tròn đầy viên mãn của Trí huệ Phật
Vị Trí: Trung Ương
Chủng Tự: OM
Chân Ngôn: Om Vairochana Om
Ấn: Chuyển Pháp Luân

Kim Cang Bộ
A Xúc Như Lai– Akshobyha
Đại Viên Cảnh Trí, Chuyển hóa từ thức thứ Tám (Alaya thức)
Vị Trí: Đông
Chủng Tự: HUNG
Chân Ngôn: Om Akshobhya Hum
Ấn: Xúc Địa Ấn

Bảo Bộ
Bảo Sanh Như Lai– Ratnasambhava
Bình Đẳng Tánh Tríchuyển hóa từ thức thứ Bảy (mạt na thức)
Vị Trí: Nam
Chủng Tự TRAM
Chân Ngôn: Om Ratnasambhava Tram
Ấn: Thí Nguyện Ấn

Liên Hoa Bộ
Vô Lượng Thọ Như Lai– Amitabha
Diệu Quán Sát Trí chuyển hóa từ thức thứ Sáu (Ý thức)
Vị Trí: Tây
Chủng Tự: HRIH
Chân Ngôn: Om Amitabha Hrih
Ấn: Thiền Định Ấn

Yết Ma Bộ
Bất Không Thành Tựu Như Lai– Amoghasiddhi
Thành Sở Tác Trí chuyển hóa từ năm Thức (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân)
Vị Trí: Bắc
Chủng Tự: AH
Chân Ngôn: Om Amoghasiddhi Ah
Ấn: Vô Úy Ấn

Triết Lý và Kinh Điển Mật Tông cũng chia Thế Giới thành hai giới. Tuy chia thành hai, nhưng hai giới là một toàn thể thống nhất. Hai giới gồm:

- KIM CANG GIỚI (Vaijradhàtu): là Pháp thân, là lãnh vực của TRÍ-HUỆ bát nhã, là Tánh Không, là Chân Đế.

- THAI TẠNG GIỚI (Garbhadhàtu):Là lãnh vực của THẾ GIỚI HIỆN TƯỢNG, là cái LÝ vận hành thế giới hiện tượng, là phương tiện của sự tu chứng, là Tục Đế. Mật Tông gọi thế giới hiện tượng là “Thai Tạng giới”. Mọi vật, sự vật và hiện tượng trong Thai Tạng giới đều vận động để phát triển và chuyển hóa đến mức trưởng thành cuối cùng là Trí Huệ. Do đó Mật Tông nhận thức và sử dụng “Thai Tạng Giới” như phương tiện để đạt đến Trí Huệ. Từ Bi là trạng thái tâm thuộc về Thai Tạng giới, cho nên Từ Bi cũng đựợc dùng như là phương tiện cứu độ.Ngoài ra cùng nội dung và ý nghĩa tương tự, chữ Thai Tạng giới dùng để ám chỉ lãnh vực của trí năng tiềm ẩn của tất cả mọi người lúc chưa hiển lộ thành Trí Huệ. Ví dụ Tâm của người thực hành chưa giác ngộ thuộc về “Thai Tạng giới”, giống như tình trạng của một thai đang phát triển, nghĩa là còn cần phải tu tập nuôi dưỡng để hoàn chỉnh.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: NHỊN ĐÓI TRONG VIỆC HÀNH THIỀN
Đã gửi: Thứ 5 09/01/14 17:27 

Nhịn đói là một trong những phương cách chữa bệnh tuyệt diệu nhất của thiên nhiên, giúp ta phục hồi được sức khỏe ngay cả khi mọi phương pháp khác đã thất bại. Nó cho phép hệ tiêu hóa được nghỉ ngơi hoàn toàn và cơ thể bắt đầu quá trình tẩy rửa toàn diện, có khi loại bỏ những chất thải và cặn bẩn đã tích tụ nhiều năm.

LỢI ÍCH VỀ TRÍ NÃO

Nhịn đói là đạo khổ hạnh, nằm trong 5 giới luật của Raja Yoga. Nó được thực hành nhằm tăng cường tinh thần và ý chí của hành giả. Cũng giống như khi ta rèn luyện cơ bắp bằng cách tăng dần trọng lượng hay sức nặng công việc mà chúng cần thực hiện, thì chúng ta cũng có thể tăng sức mạnh ý chí bằng cách buộc nó thực hiện những nhiệm vụ mang tính thử thách. Nhịn đói giúp hành giả tăng khả năng tập trung và sức mạnh ý chí.

LỢI ÍCH TÂM LINH

Khi thể xác và trí não 3 lần/ngày không còn chịu tác động từ sóng của các loại thức ăn thì chúng sẽ tập trung hướng toàn bộ vào lĩnh vực tâm linh. Mọi tôn giáo trên thế giới đều khuyên tín đồ của họ thực hành nhịn đói, thường là vào những ngày ăn chay để sự cầu nguyện được linh ứng hơn. Nhiều hành giả Yoga nhịn đói 2 lần/ tháng vào ngày “Ekadasi”, 11 ngày sau kỳ trăng tròn và trăng non.

LỢI ÍCH VỀ THỂ CHẤT

Chỉ cần nhịn đói một ngày cũng đem lại cơ hội nghỉ ngơi cho các cơ quan tiêu hóa. Thân thể trở nên nhẹ nhàng. Toàn bộ cơ thể được tẩy sạch và trải qua quá trình “đại tu”. Trong thời gian nhịn đói, năng lượng cơ thể, lẽ ra được sử dụng để tiêu hóa thức ăn, thì nay dùng để tu bổ và chữa trị lại toàn bộ cơ thể.

LÊN KẾ HOẠCH NHỊN ĂN

Không có hướng dẫn của một chuyên gia Yoga, bạn vẫn có thể tự tiến hành nhịn ăn từ 3 đến 5 ngày. Hãy chọn thời điểm thư thả vào dịp cuối tuần. Có thể bạn dự tính nhịn đói một mình hoặc với một vài người bạn để tăng thêm sự quyết tâm.

Mỗi tuần, nhịn ăn 1 lần sẽ gìn giữ sức khỏe tốt và phát triển lòng quyết tâm của bạn.

Nên thực hành mỗi năm vài lần các buổi nhịn đói cuối tuần vào những lúc giao mùa.

Nhịn đói dài ngày tới 1 tuần lễ hoặc hơn làm tăng sức mạnh tâm linh của hành giả. Sau ngày thứ 3, cơn đói sẽ đi qua. Nên tiếp tục nhịn đói cho đến khi cơn đói bình thường quay trở lại.

CÁCH NHỊN ĂN

Nhịn đói toàn diện có nghĩa là hoàn toàn không dùng tới thức ăn - cả hai loại khô và có nước. Ngay cả nước trái cây cũng không được dùng. Nước trắng không phải là thực phẩm. Nó không kích thích khẩu vị và không cần phải được tiêu hóa. Trong khi nhịn đói, uống nhiều nước sẽ giúp hành giả tẩy rửa cơ thể, quét sạch các độc tố.

Trong lúc nhịn đói, không nghĩ tới thức ăn. Sử dụng thời gian thực hiện những hoạt động nhẹ nhàng, tĩnh lặng.

Hãy thưởng thức khoảng thời gian thư thái mà lẽ ra bạn phải dùng để chuẩn bị bữa ăn và ăn uống.

Uống càng nhiều nước càng tốt nhằm giúp rửa sạch các cơ quan nội tạng.

Hãy thực hành các asana (Yoga) để chúng giúp bạn loại bỏ độc tố. Đi bộ cũng là hình thức thể dục thích hợp. Tuy nhiên, tránh gây mệt mỏi cho cơ thể.

Cố gắng hít thở nhiều không khí trong lành. Tốt hơn là nhịn đói TRONG MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN.

Luôn giữ ấm cơ thể.

Hãy nghĩ ngơi và thư giãn thật nhiều. Cố gắng ở mọi lúc, mọi nơi, dành thời gian tĩnh tâm một mình.

Thông thường, khi mới bắt đầu nhịn đói, bạn có thể bị một số tác dụng phụ. Nếu bị nhức đầu, buồn nôn, hãy uống trà bạc hà nóng. Không nên thường xuyên uống trà và cafe.

*** Lưu ý: Tránh nhịn đói khi mang thai, khi bị rối lọan trong ăn uống và bị thiếu máu. Nếu thấy lo ngại, nên xin ý kiến tư vấn của bác sĩ.

KẾT THÚC ĐỢT NHỊN ĂN

Cần phải kết thúc đợt nhịn đói đúng cách. Có thể bạn sẽ thèm ăn một cách khác thường. Hãy cố gắng cưỡng lại những ham muốn này. Ban đầu, nên trở lại với chế độ ăn một cách từ từ.

Vào ngày đầu, chỉ ăn trái cây tươi vì chúng dễ tiêu hóa và giúp bạn nhẹ nhàng khởi động lại nhu động ruột (như: dâu, nho, táo…)

Ngày thứ 2, có thể tăng thêm một bữa ăn nữa với sà lách. Nó có tác dụng chẳng khác như bạn quét qua một nhát chổi để tống hết các độc tố ra khỏi ruột non.

Ngày thứ 3, bổ sung thêm các loại ra hấp sơ. Không nêm muối hay bất cứ thứ nước chấm nào.

Ngày thứ 4, bổ sung thêm cơm. Cơm và rau có thể dùng chung.

Ngày thứ 5, bạn có thể quay lại chế độ ăn cân bằng hằng ngày. Tránh lặp lại các thói quen xấu như uống café, trà, rượu và ăn nhiều thịt.

P/S: Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người có thể học, nhưng đừng nên cố quá mà lại thành quá cố nhé :lol:

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 15/01/14 18:20 

Tình cờ tôi có được bộ tài liệu này. Tác giả Đinh Trần tận mắt chứng kiến, tham gia và ghi chép lại chuyện người thật việc thật về hiện tượng áp vong.
Hiện tượng này tuy không phải là mới, nhưng cách ghi chép chân thật, rõ ràng, cụ thể và xác thực (cả tên người, địa chỉ, số điện thoại mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng) khiến tài liệu này thực sự có giá trị. Tác giả Đinh Trần cũng đã xuất bản nhiều cuốn sách về tâm linh. Mới đây nhất, cuốn "Trả lại tên cho liệt sỹ khuyết danh" do tác giả Đình Trần trực tiếp viết hoặc biên tập (nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành năm 2008) đang được nhiều người quan tâm. Nội dung cuốn sách chủ yếu đề cập đến những chuyện có thật trong quá trình nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài giúp tìm mộ liệt sỹ.
Những nội dung dưới đây trình bày hiện tượng áp vong rất đặc biệt và khó lý giải.

LỜI NÓI ĐẦU
Từ lâu người Việt Nam ta đã có câu : “ Sống vì mồ vì mả, không phải vì cả nồi cơm ” . Điều này cho thấy theo phong tục truyền thống, người Việt Nam coi trọng mồ mả như thế nào. Đất nước ta trải qua những năm tháng chiến tranh kéo dài, biết bao đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống mà chưa tìm được mộ, biết bao nhiêu mộ bị thất lạc chưa tìm thấy. Mong muốn tìm được mộ người thân là khát khao cháy bỏng của những gia đình ở trong hoàn cảnh này. Vấn đề tìm mộ người thân bị thất lạc nhất là mộ các liệt sỹ đang là một nhu cầu rất lớn của xã hội. Tìm mộ bằng tâm linh thông qua các nhà ngoại cảm đang dần dần được xã hội tin cậy và áp dụng có hiệu quả mặc dù nhiều hiện tượng khoa học chưa giải thích được. Để giúp bạn đọc hiểu thêm về tâm linh, tỉnh táo phân biệt rõ nhà ngoại cảm đích thực với những kẻ giả danh nhà ngoại cảm hoặc lợi dụng danh nghĩa nhà ngoại cảm để hành nghề lừa bịp, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Nhà ngoại cảm Nguyễn NgọcHoài-Những chuyện tâm linh khó tin nhưng có thật” ” . Cuốn sách này không bàn và không lý giải về tâm linh mà chỉ giới thiệu với bạn đọc những chuyện tâm linh có thật gắn liền với hoạt động của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài. Còn việc lý giải những hiện tượng tâm linh này xin giành phần cho các nhà khoa học.
Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài không mấy khi xuất hiện trên báo chí, không ồn ào, song qua những câu chuyện dưới đây người đọc có thể hiểu về cái tâm, cái đức và khả năng ngoại cảm của một nhà ngoại cảm đích thực. ...Hiện tại chị đang làm viêc tại Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng ( UIA ) và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.
Chúng tôi biên soạn và giới thiệu với bạn đọc một số câu chuyện về tâm linh do chính những người trong cuộc (Trong đó có tôi - tác giả ) viết kể lại, hoàn toàn không hư cấu ( Đầu đề mỗi câu chuyện là của tác giả ) . Những câu chuyện đó có nhiều tình tiết rất ly kỳ, bí hiểm, có thật mà khoa học chưa giải thích được. Song không thể vì khó tin chưa giải thích được mà cho là mê tín dị đoan, hoang đường. Sự việc và con người trong mỗi câu chuyện này đều là việc thực, người thực có tên tuổi địa chỉ rõ ràng, nếu ai đó còn hoài nghi xin cứ kiểm chứng. Cũng vì lí do đó xin vong linh những người đã khuất và những người đang sống cho phép tôi được viết tên thật, địa chỉ thật trong cuốn sách này. Rất mong được thứ lỗi.
Xin chân thành cám ơn những ý kiến góp ý của bạn đọc.

Đinh Trần


VÀI NÉT VỀ NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN NGỌC HOÀI
Chị Nguyễn Ngọc Hoài sinh năm 1965, quê ở Thái Bình, sinh ra và lớn lên ở Điện Biên. Vợ Chồng chị với ba đứa con ngoan ngoãn sống trong một gia đình hạnh phúc. Chị người nhỏ nhắn, mảnh mai, tính tình điềm đạm, cởi mở dễ gần. Trông chị chẳng có gì khác biệt với những người phụ nữ cùng trang lứa. Cuộc sống của chị và gia đình chị cũng bình dị như mọi gia đình khác. Ngoài công việc tâm linh bận rộn tổn hao nhiều sức lực, trí tuệ chị còn phải lo làm tròn chức phận làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ trong gia đình.
Chị không theo đạo nào cả.Việc chị trở thành nhà ngoại cảm cũng chẳng có gì là li kỳ, bí hiểm, chị cũng chẳng chết đi sống lại như một số nhà ngoại cảm khác. Song con đường trở thành nhà ngoại cảm của chị cũng đầy gian truân, vất vả, chẳng dễ dàng chút nào. Cách đây 8 năm, khởi đầu chị phải đến tận nơi mới tìm được mộ, chị không đi thì bị ốm. Có không ít lần chị phải mang theo cả con nhỏ lên núi cao rừng rậm tìm mộ hàng nửa tháng liền dưới trời mùa đông giá rét như cắt thịt hay mùa hè nắng nóng như đổ lửa, với những cơn mưa nguồn bất chợt, với vắt và muỗi rừng nhiều vô kể đó là chưa kể đến những nguy hiểm luôn rình rập như thú dữ, rắn độc, lở núi... Vượt qua được những thử thách đó, khả năng ngoại cảm của chị càng ngày càng được nâng cao, phong phú và hiệu quả hơn. Từ khi có khả năng ngoại cảm cơ thể và sức khỏe của chị vẫn bình thường chỉ thỉnh thoảng chị bị những cơn đau nhức xương ghê gớm nhưng chỉ kéo dài vài giờ, sau lại tự nhiên khỏi.
Với khả năng ngoại cảm đã được thực tế chứng minh, cách đây vài năm từ T.P Điện Biên xa xôi chị được mời về Thủ đô làm việc tại Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng ( UIA ) và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.
Trong cuộc sống thường nhật cũng như khi làm việc chị không xưng là “Cậu” này, “Cô” nọ, “Thầy” kia... mà chị xưng hô tùy theo lứa tuổi rất thân mật, gần gũi và lễ phép. Chị xưng chị với người ít tuổi hơn, xưng em với người hơn tuổi, xưng cháu đối với người đáng tuổi chú, bác... chị ứng xử với mọi người rất có văn hóa, lịch sự, chân thành và thẳng thắn. Cách làm việc của chị cũng chẳng có gì khác thường, chị không nhảy đồng múa may quay cuồng hay lầm rầm khấn vái như các Thầy, cô khác. Đầu giờ chị thắp hương và vái một vài vái rồi ngồi vào bàn giấy làm việc. Trên bàn làm việc của chị chỉ có giấy, bút, tài liệu và điện thoại. Khách đến tìm mộ, hỏi những vướng mắc về phần âm thường mang lễ tùy tâm cứ tự động đặt lên bàn lễ chị chẳng cần biết nhiều hay ít. Chị đối xử với ai cũng như ai, không phân biệt sang hèn, không thành kiến với quá khứ của người chết và người đi tìm mộ. Chị thường quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những người già cả, những người có hoàn cảnh khó khăn.... Nếu có ai đó đặt vấn đề nhờ chị giúp, tốn kém bao nhiêu cũng xin đáp ứng thì chị từ chối ngay. Trái lại, đối với những người có tâm chị giúp đỡ rất tận tình, không đòi hỏi bất cứ một điều kiện gì. Trường hợp ai đó đến lượt làm xong phần thủ tục (Ghi họ tên địa chỉ người đi tìm, quan hệ với người cần tìm, họ tên, quê quán người mất...) Chị bảo không thấy vong về, Chị nói hoàn cảnh gia đình của vong toàn sai cả hoặc nói đúng dưới 70% thì chị không vẽ sơ đồ, không hướng dẫn tìm mộ, có nài nỉ chị cũng vô ích vì không chắc chắn chị không bao giờ hướng dẫn bừa. Lương tâm luôn nhắc nhở chị điều đó, sự thận trọng là một trong những nguyên tắc làm việc của chị. Chính vì vậy ai không được việc cũng vui lòng. Thực tế cho thấy những trường hợp tìm mộ mà chị đã vẽ được sơ đồ thì hầu như đều tìm thấy, chỉ có điều là dễ hay khó, nhanh hay chậm và người đi tìm có lòng tin và quyết tâm hay không. Trường hợp chị vẽ được sơ đồ nhưng không tìm thấy mộ cũng có nhưng không nhiều. Sơ đồ chị vẽ ra một cách vô thức, chị cũng không giải thích được tại sao lại vẽ ra sơ đồ với những địa danh như vậy, một thế lực vô hình điều khiển chị vẽ. Sơ đồ có thể không chuẩn xác 100% nhưng những nét cơ bản thì không thể sai được. Những chi tiết chưa chuẩn xác sẽ được điều chỉnh trong quá trình chị hướng dẫn tìm mộ qua điện thoại. Điều đáng chú ý là hầu hết các sơ đồ chị vẽ ra chỉ có tên một địa danh cụ thể làm mốc, còn lại là những con đường, dòng sông, dòng suối hay những cây cối, nhà cửa, làng xóm... được chị xác định làm vật chuẩn theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc với những cự ly khá chính xác.. Tìm được đến địa danh đó, chị sẽ hướng dẫn tiếp hoặc phần âm sui khiến có người hoặc con vật dẫn đi hoặc tự tìm đến được những vị trí vẽ trên sơ đồ.
Là một người có tâm, có đức, lại chịu khó tìm tòi, học hỏi, rèn luyện, nếu được tạo điều kiện thuận lợi tôi tin rằng trong tương lai khả năng ngoại cảm của chị sẽ tiến rất xa./.


ÁP VONG
Vong là linh hồn người chết. Áp vong là đưa linh hồn người chết nhập vào
một người để những người khác trong gia đình nói chuyện với linh hồn người chết thông qua người bị nhập. Người khi bị Vong nhập không thể chủ động trong hoạt động và lời nói của mình mà ở trong trạng thái vô thức. Mọi hoạt động và lời nói của họ đều do một thế lực vô hình ( vong ) điều khiển mà không thể cưỡng lại được. Thường là sau khi Vong “đi”, người bị nhập vong ngã vật ra và không còn nhớ vừa rồi mình đã nói và làm gì. Nếu Vong nhập vào “Thầy” hoặc “Cô” thì người ta goị là “gọi hồn” và đương nhiên trong trường hợp này người ta rất khó phân biệt thật giả, chính vì vậy không ít kẻ đã lợi dụng việc “Gọi hồn” để hành nghề mê tín dị đoan lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin. Trong trường hợp này, nếu đúng là hồn đựợc gọi nhập vào “Thầy” thì những lời nói của hồn qua “Thầy” phải được kiểm chứng bằng những chuyện riêng tư chỉ những người trong gia đình mới biết, người ngoài không thể biết được. Còn trường hợp hồn nhập ngay vào người nhà mình thì dễ xác định được lòng tin, loại trừ trường hợp giả bị vong nhập để thực hiện một mục đích riêng nào đó.
Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài áp vong không để hồn nhập vào mình mà nhập vào người nhà của gia đình đi áp vong. Chị thường tiến hành áp vong tập thể cho hàng chục gia đình một lúc. Hồn của gia đình nào nhập vào người của gia đình đó, những người không bị nhập nói chuyện với hồn qua người bị nhập, chị không can dự gì vào câu chuyện riêng của họ. Hồn có thể nhập vào bất cứ ai không phân biệt già, trẻ, trai, gái; tuy nhiên nhà ngoại cảm không có khả năng ấn định người để cho hồn nhập vào cũng như ấn định cho hồn của một người chết nào đó nhập theo yêu cầu của gia đình.
Tôi hỏi chị :
- Câu chuyện của vong với những người trong gia đình thường xoay quanh nội dung gì ?
- Người trong gia đình gặp Vong hồn thường hỏi phần âm nhà mình như thế nào, Vong có thiếu thốn gì không, , vì sao bị chết, chết như thế nào, mồ mả ở đâu , xin hướng dẫn cho đi tìm (Thường gặp ở các gia đình Liệt sỹ ) và hỏi xin vong chỉ dẫn cách giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống hiện tại... Về phía Vong thì thường ôn lại những kỷ niệm lúc còn sống, nói về cái chết của mình, hướng dẫn tìm mộ đặc biệt là tất cả các Vong về đều khuyên răn con cháu sống có tâm có đức, sống lương thiện, hòa thuân với nhau...chỉ ra những lỗi lầm của từng người cần phải khắc phục...Vong không bao giờ nói dối hoặc sui con cháu làm những điều sai trái và không bao giờ làm hại những người thân.
-Theo chị thì việc áp vong có lợi hay có hại gì không ?- Tôi hỏi tiếp.
- Hại thì tôi chưa thấy, chỉ cần đừng mê tín dị đoan dễ bị những kẻ giả danh ngoại cảm hoặc lợi dụng danh nghĩa nhà ngoại cảm để lừa bịp thì sẽ không có gì xấu cả. Theo tôi thì các câu chuyện của vong với các gia đình như vậy có nội dung giáo dục tốt lắm chứ. Có những gia đình nói với tôi sau khi áp vong nghe Vong dạy, các cháu ngoan hẳn lên. Áp vong cũng cảnh báo cho những kẻ rắp tâm làm những điều xấu xa biết, những việc họ làm không phải chỉ có mình họ biết đâu, Hãy coi chừng! ... Những việc đó chỉ làm cho xã hôi tốt đẹp và lành mạnh hơn có gì xấu đâu. Đó là chưa kể đến việc qua áp vong tìm được các mộ thất lạc, tìm được người thân bị thất lạc...mang lại niềm an ủi và hạnh phúc cho nhiều gia đình.
- Người đi áp vong cần phải làm gì để áp vong thành công?
- Qua theo dõi kết quả áp vong thì tôi thấy để áp vong thành công trước tiên người đi áp vong phải có tâm, có động cơ trong sáng; thứ hai là phải tuân thủ nghiêm túc những thủ tục được hướng dẫn , lễ không tính bằng tiền, lễ tính bằng tâm. ai có tâm thế nào thì lễ như thế. Đặt lễ làm sao để phần âm chứng cho cái tâm của mình chứ không nên quan niệm đặt lễ cho nhà ngoại cảm.Khi phần âm không chứng cho cái tâm của mình thì công việc sẽ không có kết quả. Thứ ba là phải tỉnh táo phát hiện ngay người giả vờ bị vong nhập để thực hiện một mục đích riêng tư của họ.
- Qua áp Vong, Vong có thể tự chỉ cho người nhà tìm được mộ của mình không ?
- Tôi chưa gặp trường hợp nào Vong trực tiếp chỉ dẫn cho người nhà tìm được mộ. Hầu như tất cả các trường hợp tìm mộ, Vong đều chỉ dẫn thông qua nhà ngoại cảm. Sự chỉ dẫn của Vong kết hợp với khả năng của nhà ngoại cảm là hai yếu tố không thể thiếu trong việc tìm mộ. Vong không chỉ dẫn thì nhà ngoại cảm cũng chịu và ngược lại nhà ngoại cảm không có khả năng tiếp nhận thì sự chỉ dẫn của Vong cũng trở nên vô nghĩa.
- Sau khi bị vong nhập, những người bị nhập vong có thể được vong cho hưởng “lộc” như cho khả năng ngoại cảm: tìm mộ, nhìn thấy và nói chuyện được với Vong... ?
Chị khẳng định :
- Không thể có chuyện đó. Nếu ai đó cho rằng sau khi bị vong nhập họ có được khả năng ngoại cảm thì chỉ là hoang tưởng. Quá trình trở thành nhà ngoại cảm không đơn giản, nếu không có sự đột biến trong cuộc sống thì cũng là quá trình thử thách, rèn luyện, học hỏi rất công phu , vất vả và đầy gian khổ, không bỗng dưng mà có được. Mặt khác không phải chuyện gì Vong cũng biết và muốn ban tài phát lộc cho ai cũng được.
- Tỷ lệ áp vong thành công được bao nhiêu phần trăm ?
- Thường thường thì tỷ lệ áp vong thành công là 70-80% tức là cứ 10 gia đình thì 7-8 gia đình có vong về nhập vào người nhà.
Tôi quyết định đến chứng kiến một số buổi áp vong của chị.



MỘT BUỔI ÁP VONG
Khoảng trung tuần tháng 9/2007, tôi cùng hai cô bạn là phóng viên truyền hình đến nơi cô Hoài áp vong : Số 1 Đông tác Kim Liên Đống Đa Hà Nội. 8 giờ sáng đến nơi chúng tôi thấy gian phòng rộng trên tầng 4 của tòa này đã chật ních người. Chúng tôi tìm chỗ len vào ngồi. Đây là địa điểm áp vong, phía trên là một tượng phật lớn và một hương án đặt lễ, bên phía tay trái đặt một bàn làm việc. Trên hương án, khách đến đã bầy đầy hoa quả, không có lễ mặn. Sàn nhà lát gạch men sạch sẽ, trời nắng nóng, mọi người ngồi cả xuống sàn, chuyện trò rôm rả. Tôi đếm trong phòng có trên 60 người của khoảng 12-13 gia đình (thông thường mỗi gia đình đi từ 4 đến 6 người). 9 giờ sáng, cô Hoài bắt đầu làm việc. Cô yêu cầu mọi người trật tự, tắt hết điện thoại di động, không ngồi dựa lưng vào tường, ngồi quây lại theo từng gia đình, và khi Vong về chuyện của gia đình nào biết gia đình ấy, không can dự vào chuyện của gia đình khác... Thắp hương xong cô vái vài vái rồi quay xuống bảo mọi người nhắm mắt lại, hít thở sâu. Cô vỗ tay 5,6 cái rồi nói to: “ Nào ! mời các vong về gặp người nhà !” . sau đó cô quay về bàn giấy ngồi quan sát. Thấy vong về với gia đình nào, gia đình ấy có người lắc lư nhẹ, cô đến gần người đó xòe bàn tay úp xuống cách đầu người đó khoảng 20 cm miệng nói: “Lạy Vong, Con cháu đang đợi vong, mời vong về nói chuyện với con cháu nào !”. Người đó lắc lư mạnh dần. Vong đã nhập vào người đó. Lúc này những người khác trong gia đình mở mắt xúm vào hỏi chuyện Vong qua người bị nhập. Cô lại tiếp tục quan sát và đến trợ giúp các gia đình khác. Nhiều gia đình không cần cô làm động tác dụ vong đó, vong vẫn nhập. Có những gia đình vừa bắt đầu vong đã nhập, có những gia đình một lúc lâu sau hoặc cuối buổi Vong mới nhập, hôm đó có 3 gia đình không nhập vong được, lại có những gia đình vong này vừa đi, vong khác lại về. Có những vong về kêu khóc thảm thiết, có vong kêu đau đớn, có vong khoa chân múa tay nói chuyện rôm rả với người nhà, có vong về người nhà muốn hỏi thế nào thì hỏi cũng không trả lời chỉ gật đầu (nếu đúng) và lắc (nếu sai)... Có những gia đình nói chuyện với vong xúc động khóc rưng rức. Phòng áp vong ồn ào, ầm ỹ như chợ vỡ. Ngừơi bị vong nhập không chỉ là phụ nữ, mà cả đàn ông, thanh niên... Khi Vong “đi”, người bị vong nhập nằm vật ra, chân tay giá lạnh, một lát sau thì lại trở lại bình thường. Tôi hỏi một người vừa bị vong nhập đã trở lại trạng thái bình thường :
- Khi bị nhập Cô cảm thấy thế nào ?
- Lúc đó tôi thấy người mình bị một khối đen đè nặng, tôi không còn làm chủ được hành vi và lời nói của mình nữa, muốn cưỡng lại cũng không được.
- Khi đó Cô nói gì và làm gì bây giờ có nhớ không ?
- Chỉ nhớ láng máng thôi. Mọi lời nói và hành động như bị một thế lực vô hình điều khiển, không thể nói và làm theo ý muốn của mình được.
Tôi hỏi một Bác già trong gia đình đó vừa nói chuyện xong với vong:
- Những chuyện quá khứ vong nói có chính xác không ?
- Rất chính xác! Chỉ có Cụ ấy (Vong) mới biết được những chuyện riêng tư trong gia đình hồi trước mà ngay cả nhiều người trong gia đình ngồi đây cũng không biết được.
Lần đầu tiên được chứng kiến áp vong tập thể do chị Hoài thực hiện, tôi không khỏi kinh ngạc. Sau đó tôi có đến dự một số buổi áp vong nữa, cảnh tượng vẫn diễn ra tương tự. Nếu ai đó chưa tin chuyện áp vong đó là sự thật thì cứ gọi đến số máy 0917 885 267 xin chị Hoài cho dự một buổi áp vong do chị thực hiện (xin lưu ý là do chính chị chứ không phải người mượn danh chị thực hiện). Tôi được biết hiện nay chị thường làm việc tại nhà riêng của chị : Km 26 quốc lộ 1A cũ ( Cách Hà Nội 26km, cách Phủ lý 32 km ) xã Thắng lợi huyện Thường Tín thành phố Hà Nội.
Đình Trần

(Sưu Tầm)

Nguồn: Thegioivohinh - Box Tâm Linh Huyền Bí

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 28/01/14 17:36 

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: TẠI SAO TU?
Đã gửi: Chủ nhật 02/02/14 22:35 

★★☆★★ Hãy đọc nhé, rất hay dành cho chúng ta ★★☆★★

http://imagizer.imageshack.us/v2/640x480q90/703/zg4x.jpg

Tại sao phải đặt vấn đề tu khi điều đó chưa là cấp thiết đối với nhiều người? Có người vào Đạo một cách tự nhiên, dễ dàng, nhờ căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trước; có người trong đau khổ cùng cực, chợt hiểu chỉ có tu mới thoát khổ, còn đại đa số không thấy cuộc đời đáng buồn đến độ phải bỏ nó, hay cuộc đời của mình suy đến cùng cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, thì tu để làm gì.

Thật ra, ý niệm tu làm nhiều người sợ hãi, tu là từ bỏ những gì mình đang yêu thích thì quả là khó khăn, và không hứa hẹn điều gì tươi sáng cả. Thiện ác là hai mặt của cuộc đời, nhưng thiện ác cũng là hai mặt của mỗi con người. Và không thể dễ dàng để phân định ranh giới giữa hai khuông mặt này, không thể dễ dàng quyết định trắng đen. Mỗi người sanh ra đời đều mang sẵn liều lượng thiện ác trong mình, thiện là Phật mà ác là chúng sanh. Nhưng thế nào là thiện, và vì sao gọi là ác? Bất cứ một hành động hay tư duy nào không lấy “Tôi” làm nguyên nhân và đích đến thì đó là thiện, ngược lại là ác. Nhưng nếu không có “Tôi” thì ai hiện hữu, ai làm việc thiện ấy? Đó là Phật của con hay Phật trong con. Có người sẽ gọi đó là “Thượng đế” hàm nghĩa chân lý, điều toàn thiện, nhưng Thượng đế là ban bố, dù không nhận lại nhưng vẫn mang tướng thi ân. Còn Phật thì ngay cả ý thức thi ân cũng không có, Phật chính là sự tự tại của Thiện. Như thế thì ngoài bản ngã của con ra mà con nghĩ đích thực là mình, còn có một bản ngã khác là một đời sống tự do không lìa con, nhưng không lệ thuộc, sẵn sàng hiện diện khi con không tìm cách nhấn mạnh sự có mặt của mình như một thực thể chân lý. Bản ngã ấy là chân tánh của con, chân tánh ấy là Phật tánh. Không tìm thấy bản ngã thật ấy con phải đau khổ, phải bất an, con không bao giờ bằng lòng với cái mình đang có, hay bằng lòng với thế giới quanh con. Vì không thể nào sống yên ổn hoà bình với cái ác được, dù đó là cái ác của chính mình.

Tu là tự hoàn thiện mình, tu không có nghĩa là mất cả ánh nắng của cuộc đời, chôn vùi một cái gì thân thiết của con, mà con hãy sống hoàn toàn, tràn đầy như đập vỡ vỏ cứng của một quả ngon để thưởng thức. Không sợ chữ “Tu” thì con sẽ hiểu tại sao phải tu. Ai cũng có một lần cảm thấy sự bất lực vô cùng của mình khi đối diện với cuộc đời, dù là ai chăng nữa, họ có thể thành công trong những mặt nào đó, và lấy hào quang của thành công này che lấp những buồn tủi của thất bại khác, nhưng sự đền bù này cũng chính là sự xác định mặt khiếm khuyết kia. Cái nhân của đau khổ vẫn còn đó dù được che dấu dưới lớp tro than của quên lãng, hay nhung gấm của hạnh phúc hiện tiền. Người đời vẫn thường chấp nhận và bằng lòng với cái tương đối ấy, nên gút lại là hạnh phúc đối với họ giản dị quá, là cho qua đi những đau khổ và thụ hưởng những cái mà họ đang có. Đó là làm quen với ác và đi đến kết luận có thể dung hoà Thiện – ác. Vì ác là gì, nếu không là đau khổ? Nhưng còn một lối thoát, còn một con đường dẫn con đến nơi ý niệm về ác cũng không có, huống nữa là sự hình thành của tội ác. Bóng dáng đau khổ vắng bặt nơi đây, chỉ thuần một màu an lạc. Tại sao con không dấn thân vào con đường hạnh phúc chu toàn ấy! Con đường ấy là đường tu. Cho nên, tu là đến với những gì vui hơn cái mà con đang hưởng, những kỷ luật gặp trên đường tu là điều tất yếu để giải quyết chất ác, chính là sự hoại diệt của điều ác để hiển bày điều thiện. Sự hoại diệt này là nhân, là quả mà điều ác chất chứa trong nó nên phải lãnh chịu. Khi ác đã không còn thì không có sống chết, không có đau khổ, không có ranh giới, không còn phải khép mình vào căn phòng Thiện để đối kháng với ác. Thiện là con, con là thiện, thì điều gì con làm lại không là điều thiện, nơi đâu trong con lại không là không gian của thiện, thì còn phải khép mình vào một lề lối nhất định nào để hành thiện! Đó là giải thoát khỏi cái ác, khỏi đau khổ, khỏi cả ý niệm về đau khổ, khỏi cả ý niệm về sự giải thoát ấy. Đó chính là giải thoát!

Vì thế, tu không phải là từ bỏ hạnh phúc cuộc đời để đến với Đạo, tu là đi từ hạnh phúc mong manh đến hạnh phúc vĩnh cửu. Tu là vẫn hít thở không khí ấy, vẫn nhìn thấy vầng Dương cũ rực nắng mỗi ban mai, vẫn bầu trời đầy sao của ngày xưa tràn lên tâm tư mỗi khi đêm đến, vẫn những người con đã gặp bao lần, vẫn hoàn cảnh mà cuộc đời đã đặt con trong đó. Nhưng con ơi! Nhận thức của con chẳng còn như xưa nữa, mặt trời thế gian chỉ là hình ảnh thô thiển của mặt trời đã sáng trong con, những người con gặp gỡ là những chiếc bóng của chính họ, mờ nhạt và yếu ớt trước cuộc đời, trước sanh tử của mình. Và cuộc đời cùng những hoàn cảnh thuận-nghịch, buồn-vui xưa, nay chẳng còn chuyên chở được tình cảm của con, con đã thoát con nhỏ bé ngày xưa. Ngày xưa? Phải. Vì những căn tánh, nhãn quan cũ sau ý thức muốn tu và sau khi con dấn bước trở nên xa xôi và lạ lẫm, cứ lùi mãi vào vô tận mang tính vô thực của một huyền thoại nhưng thiếu chất hư. Con bây giờ mới thật sự sống. Hãy san bằng chướng ngại ngăn cách con với thường hằng, hãy làm người lữ khách mà mỗi bước chân đến cõi không thời gian nở đoá sen vô ưu, hãy là con mãnh sư uy dũng giữa đám người đành chịu khuất phục trước bao nỗi khổ sầu. Tu là một quyết định sáng suốt nhất trong đời người, không chỉ là sự sáng suốt của tuổi nào, mười, hai mươi, bảy mươi, tám mươi hay hơn… mà đấy là sự sáng suốt của vô lượng tuổi, vượt ngoài giới hạn của tuổi tác, là tiếng nói của Phật trong con, vang gọi con vào cuộc đại hành hương. Hãy đi, nhớ rằng hãy làm gương thắp đuốc soi đường, mỗi nỗ lực sẽ có vạn nghìn mắt Phật thương nhìn, mỗi vấp ngã sẽ có vạn nghìn cánh tay Bồ Tát nâng lên. Con đi bằng sức mình nhưng không bao giờ lẻ loi, không bao giờ cô độc hoàn toàn.

Hãy tấn tu

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 09/02/14 20:33 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BÁO HIẾU CHA MẸ ,CỮU HUYỀN THẤT TỔ MỘT CÁCH TRỌN VẸN NHẤT

-Làm Thế Nào Để Báo Hiếu Cha Mẹ Cửu Huyền Thất Tổ Một Cách Trọn Vẹn Nhất?

Trong kinh Phật có dạy rằng, người học Phật thì đức hạnh đầu tiên là “Hiếu dưỡng phụ mẫu”. Tại sao chúng ta lại nhắc tới sự hạnh hiếu dưỡng phụ mẫu? Vì xin thưa thật là chính ông bà, cha mẹ, những người thân kính quyến thuộc của chúng ta trong nhiều đời nhiều kiếp vụng tu nên bị đọa lạc nhiều lắm. Ta thường gọi là hồi hướng công đức cho các chư vị vong linh, chứ thật ra thì ông bà, cha mẹ chúng ta nhiều lắm trong đó. Khi ta biết đường tu như thế này, thường thường là ông bà cha mẹ chúng ta nghe được thì họ mừng lắm, đang hằng giờ mong cầu đứa con, đứa cháu, tức là chúng ta, hồi hướng công đức cho họ. Nếu chúng ta không có công phu tu hành, không có công đức, hoặc có mà nhiều khi quên hồi hướng công đức cho họ, thì chính những người thân của mình lại nổi cơn sân giận nhiều hơn là người thường đó.

Nếu sau này có cơ duyên đi hộ niệm cho người ta, quý vị mới thấy được những điều này, là hầu hết những hiện tượng gọi là nhập thân báo đời, thì có thể nói hơn 90% là dòng họ của người đó. Không cha thì mẹ, không mẹ thì ông nội, ông ngoại, ông chú, ông bác gì đó… Thường thường là như vậy. Có những người rất là hung hãn. Tôi đã gặp nhiều trường hợp mà chính người thân nhập vào người thân, mà mỗi lần nhập vào như vậy thì họ cầm dao cầm búa đâm vào người. Dễ sợ lắm! Họ đánh người thân, họ tìm cách giết người thân đó, và mỗi lần như vậy, họ nói:

- Tại sao mày giết tao? Tại sao mày hãm hại tao? Tại sao tao có làm gì tội lỗi với mày mà mày đối xử tệ như vậy?…
Quý vị không tưởng tượng được đâu! Họ căm hờn như vậy. Đó là những trường hợp mình biết, còn những chuyện căm hờn khác xảy ra khắp nơi mà mình không hay.

-Ví dụ như trong vô lượng kiếp của chúng ta, thì chúng ta có vô lượng vô biên ông bà cha mẹ đã bị đại nạn. Khi chúng ta tu hành như thế này thì thường thường những ông bà cha mẹ đó có thể cảm ứng được, cứ mong sao cho một đứa con một đứa cháu hồi hướng công đức. Bây giờ thứ nhất là thấy một đứa con một đứa cháu đang biết tu hành mà không chịu hồi hướng. Thứ hai là tu hành tà tà, tu hành giỡn giỡn, tu hành không vững, hồi hướng không có một chút xíu nào hết, làm cho họ càng ngày càng đau khổ hơn. Góp phần làm cho niềm sân hận nảy sinh ra.

-Phật dạy người Phật tử đầu tiên là phải “Hiếu dưỡng phụ mẫu”. Nếu chúng ta biết niệm Phật, biết con đường về Tây Phương, thì sự hiếu dưỡng này phải cụ thể một chút, không phải cứ đợi tới tháng bảy mùa Vu Lan báo hiếu, tới làm một cái lễ gì đó gọi là báo hiếu! Không có bao nhiêu hết trơn! Mà hằng ngày chúng ta niệm Phật hồi hướng công đức, thành tâm hồi hướng thì tự nhiên công đức này biến Pháp giới.

-Trong công cứ của chúng ta gọi là Cửu Phẩm Liên Đài, thì tờ đầu tiên chính là tờ “Báo Ân Niệm Phật”, trong đó có bốn câu:

Phật ân Thân ân.
Hạo thiên võng cực.
Dục báo chi đức.
Niệm Phật đệ nhất.

Có nghĩa là ân Phật, ân Cha Mẹ, “Hạo thiên võng cực” là lớn bao trùm cả pháp giới, lớn lắm, không có cách nào mình có thể diễn tả nổi. “Dục báo chi đức” là muốn báo đền cái công đức này, “Niệm Phật đệ nhất” là không có gì bằng niệm Phật hết.

Chúng ta niệm Phật ở đây không phải là chỉ tu riêng cho chúng ta đâu, mà tu luôn cho Ông-Bà, Cha-Mẹ, Cửu-Huyền Thất- Tổ nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta nữa. Hằng ngày ráng cố gắng tinh tấn hơn, thay vì chúng ta dành thời gian đi chơi uổng lắm! Hãy dành thêm thời gian niệm Phật, thay vì chúng ta cứ nghĩ này nghĩ nọ, buồn khổ để làm gì?…

- Một cơn buồn xảy ra phá tan biết bao nhiêu công đức.
- Một sự lo âu nổi lên phá tan biết bao nhiêu công đức.
- Một sự khổ sở nổi lên nó nhập vào trong tâm chúng ta: Nếu không súc sanh thì cũng là ngạ quỹ, không ngạ quỹ cũng là địa ngục.
Cảnh khổ là cảnh tam ác đạo. Rơi vào đó thì làm sao có cơ hội ly khổ đắc lạc để đi về Tây Phương được?… Chính vì vậy, vì không biết tu nên nỗi khổ nó cứ đến, càng ngày càng thâm nhập vào chúng ta. Trong lúc ngồi trong Niệm Phật Đường thay vì ta nhiếp tâm niệm Phật quyết lòng về Tây Phương, thì những cái cảnh khổ đó cứ hiện ra trong lúc chúng ta đang niệm Phật, vô tình câu niệm Phật chúng ta không mang lại một công đức nào hết trơn. Chính vì không nhiếp tâm nên không có công đức. Không có công đức thì không hồi hướng được cho pháp giới chúng sanh, không có hồi hướng được cho ông bà cha mẹ…

-Xin thưa thật, báo hiếu cha mẹ không phải cha mẹ còn sống mới báo hiếu, mà phải cần hồi hướng luôn cho cả cha mẹ ông bà đã qua đời rồi, tại vì ông bà cha mẹ của chúng ta nhiều khi không được sự hướng dẫn tu hành, nên thường bị đọa lạc, họ chờ từng ngày từng giờ… Đừng nên báo hiếu bằng cách chờ tới ngày giỗ kỵ làm vài con gà để cúng mà báo hiếu cha mẹ… Sai lầm vô cùng! Làm vậy cha mẹ mình càng ngày càng bị đọa lạc…

-Khi chúng ta biết được báo hiếu không có gì khác hơn là quyết lòng quyết dạ vãng sanh về Tây Phương. Xin thưa thật công đức vãng sanh về Tây Phương chính là cái công đức báo hiếu triệt để. Tại sao vậy? Vì Hòa Thượng thường hay nói rằng, khi chúng ta vãng sanh về Tây-Phương thì ngày đó là ngày ông-bà, cha-mẹ, cửu-huyền thất-tổ của chúng ta thoát được cảnh tam ác đạo. Người ta đang chờ từng giây từng phút cái ngày chúng ta vãng sanh để cho họ thoát khổ. Tôi không nói là họ đi về Tây Phương, mà họ thoát được ba cảnh khổ. Mình biết rằng không phải ta chỉ có một ông cha, hai ông cha, ba ông cha, mà có tới vô lượng vô biên ông cha, vô lượng vô biên đứa con, vô lượng vô biên ông nội bà nội… họ thoát được. Cái công đức này lớn vô cùng lớn.
Chính vì vậy mà sắp tới đây chúng ta sẽ cố gắng tìm cách tăng thêm chương trình Tinh Tấn Niệm Phật. Thay vì một ngày, ta tiến lên hai ngày, tiến lên ba ngày, được bao nhiêu người tu bao nhiêu người. Để chi? Để góp phần với chư vị trên thế giới cùng nhau hồi hướng cho pháp giới chúng sanh, giải bớt tai nạn và quyết lòng vững vàng đi về Tây Phương.

-Một là giải cái ách nạn cho chính mình. Mỗi người chúng ta ai ai cũng đầy hết cả nghiệp ác trong này nè. Người ta chuẩn bị, người ta chờ từng giây từng phút mà khởi lên đó. Oan gia trái chủ của mỗi người nhiều lắm ở trong đó. Nếu chúng ta không thành tâm niệm Phật, không quyết lòng niệm Phật thì các vị đó không bao giờ đoạn đành bỏ quên cái mối thù sát sanh hại mạng của họ đâu. Chính vì họ không biết về nhân quả, nên họ không bỏ, họ không xả. Nghiệp ác này nó cộng vào cộng nghiệp của chúng sanh mà sanh ra tai nạn. Hòa Thượng Tịnh-Không nói, cái nạn tai trên thế giới của chúng sanh bây giờ lớn lắm rồi, tại vì trong vô lượng kiếp tới giờ ta đã làm nghiệp ác lớn quá rồi chứ không có gì cả.
Quý vị nghĩ thử coi, lập một cái Niệm Phật Đường lên tốn tiền, tốn bạc, tốn công, tốn sức, tốn đủ thứ… nhưng nhiều lắm cũng chỉ có năm người, mười người, hai chục người… tới niệm Phật mà thôi. Còn hàng vạn người khác không bao giờ niệm Phật đâu à!… Hàng triệu người khác người ta vẫn tiếp tục sát sanh hàng ngày. Nạn sát sanh giải không được.

-Hiểu được điều này rồi, khi đến Niệm Phật Đường niệm Phật chúng ta phải trực nhớ là mình đang ở trong cái cơ hội vãng sanh thành đạo, thoát tất cả những ách nạn mà trong vô lượng kiếp chúng ta bị đọa đày. Khi mà thoát rồi, chúng ta sẽ có năng lực đi cứu độ chúng sanh, đi cứu cái ách nạn này. Cho nên muốn hết những nạn sóng thần, thì nhiều người vãng sanh về Tây Phương thì cái nạn này mới hết. Thực sự như vậy.

Một người mà vãng sanh thì người ta có thần thông đạo lực, họ đi giải cứu những ách nạn này. Chư Phật mười phương thay phiên nhau cứu độ chúng sanh, nhưng mà cứu không hết. Nạn tai nhiều quá! Chúng ta phải hiểu được như vậy thì ráng cố gắng mà tu để về cho tới Tây Phương Cực Lạc, hợp tác với chư Phật mười phương. Rồi khi ngài Di-Lặc hạ sanh xuống, mình cũng theo Ngài xuống đây hoằng dương Phật pháp cứu độ chúng sanh. Đây là sự thực!… Xin chư vị vững lòng tin tưởng. Tín-Hạnh-Nguyện, Tín-Hạnh-Nguyện mà đi.

- Nếu Lòng Tin chưa vững, nay tin cho vững đi.
- Nếu Sức Nguyện của mình sai lầm, nay nguyện lại đi. Càng vãng sanh sớm chừng nào càng hay chừng đó. Chính sức nguyện này là cái duyên rất đậm để chúng ta về Tây Phương.
- Còn Hạnh là gì? Làm lành lánh dữ là trợ hạnh. Niệm câu A-Di-Đà Phật thiết tha về Tây Phương chính là Chánh Hạnh.

-Cho nên Chánh Hạnh, Trợ Hạnh phải phân minh. Một lòng một dạ ngày ngày trì giữ câu A-Di-Đà Phật. Quyết lòng! Người nào niệm năm ngàn thì ráng cố gắng lên bảy ngàn, tám ngàn câu A-Di-Đà Phật một ngày. Đã được tám ngàn rồi thì tại sao không tăng lên chín ngàn?… Tăng lên mười ngàn? Ngài Ấn-Quang Đại Sư đưa ra cái mẫu mực năm chục ngàn là tại vì Ngài thấy cái ách nạn của thế giới lớn quá đi! Ngài đã quỳ xuống lạy chúng sanh niệm Phật để mà tiêu tai giải nạn, để mà chính mình được thoát nạn.

-Xin nhuyện cho tất cả chúng sanh trong mười phương pháp giới quyết lòng niệm Phật nhất định đi về Tây Phương thành đạo Vô Thượng cứu độ chúng sanh…
Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Cư sĩ Diệu Âm (Minh Trị)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Hiếu & cách báo hiếu
Đã gửi: Chủ nhật 16/02/14 15:36 

Chữ hiếu có nghĩa là con cái đối với cha mẹ phải tận tâm tận lực cung phụng, hầu hạ, cúng dường. Còn gọi là hiếu thuận, hiếu dưỡng. Trong nhà Phật, có rất nhiều kinh nói về chữ hiếu. Không luận là người tại gia hay xuất gia, đều được Đức Phật dạy cho biết cách hiếu thuận

Chẳng hạn như trong kinh Hiếu tử có nói: “Cha mẹ sanh con, cưu mang mười tháng, như mang trọng bệnh, đến ngày sanh nở, mẹ sợ cha lo, tình cảnh như vậy, lời không nói hết”.

Kinh Phạm võng, quyển hạ, nói: “Hiếu là pháp chí đạo, cho nên lấy hiếu làm giới”.

Kinh Đại thừa bổn sanh tâm địa quán, quyển thứ 2, phẩm báo ân, nói: “Cha có ân từ, mẹ có ân bi, nếu như có người cung kính cúng dường cho 100 vị Đại Bà la môn tu hạnh thanh tịnh, hay 100 vị Đại thần tiên đắc quả ngũ thông, hay 100 vị thiện hữu, nhất tâm cúng dường trải qua hết trăm ngàn kiếp, công đức có được cũng không bằng khởi một niệm có hiếu với cha mẹ. Vì vậy, siêng năng tu tập và hiếu dưỡng cha mẹ có phước đức như cúng dường chư Phật, không có sai biệt”.

Luật ngũ phần, quyển 20, nói: “Nếu như có người vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ, dù cho cha mẹ đại tiểu tiện trên đó cũng không nản lòng; lấy thức ăn và y phục tốt nhất trong thiên hạ để cúng dường cha mẹ, trải qua một trăm năm, cũng không thể đền đáp được công ơn lớn như núi Tu Di của cha mẹ. Cho nên, phải tận tâm, tận lực, suốt đời cung dưỡng cha mẹ, nếu không làm được, tất mang trọng tội”.

Kinh Tăng chi, phẩm hai pháp cũng nói: “Có hai người không thể báo ơn hết được. Đó là cha và mẹ”. Rồi Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, nếu có người vai trái vác cha, vai phải vác mẹ, trải qua ngàn vạn năm, lo áo quần, cơm nước, giường nệm, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh, đại tiện, tiểu tiện ngay trên vai, vẫn chưa thể báo ơn hết được. Tỳ kheo nên biết, cha mẹ ân trọng, bồng bế, nuôi dưỡng, tùy lúc giữ gìn không lỡ thời tiết, xem như mặt trời, mặt trăng. Do phương tiện này mà biết ân này khó báo đáp. Cho nên, này các Tỳ kheo, phải cúng dường cha mẹ, thường phải hiếu thuận”.

Công ơn cha mẹ như thế là không thể nào nói hết, là vô lượng, vô biên. Thế nhưng sự báo hiếu, tức là sự đền đáp công ơn ấy lại hữu hạn. Hữu hạn trước hết là bởi đời người quá ngắn, cho nên tận cả cuộc đời mà vẫn chưa thể báo hiếu xong. Hữu hạn nữa là các pháp của thế gian không phải là pháp chí thiện, không đủ giá trị để đền đáp công ơn to lớn của mẹ cha. Nhưng cái hữu hạn hơn hết là sự thấy biết hạn hẹp của chúng sanh, tức là không thấy được công ơn trời biển của mẹ cha; và không biết cách báo hiếu chí thiện.

Phật ra đời là để khai mở sự thấy biết này cho chúng sanh, trước khi khai mở tuệ giác giải thoát. Nói cách khác, Phật dạy cho chúng sanh hiếu thuận với cha mẹ trước, để làm tròn bổn phận con người trước rồi mới dạy cho pháp giải thoát. Điều này được thấy rõ trong Bồ tát giới Phạm võng, ngay sau khi thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã quy định rằng: “Hiếu thuận đối với Cha mẹ, Sư trưởng, chư Tăng, đối với Tam bảo - sự hiếu thuận phù hợp Chánh pháp chí thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế ngự, đình chỉ mọi sự tội lỗi”. Cho nên đạo Phật còn gọi là Đạo hiếu.

Đạo hiếu đó mỗi người phải tự thực hiện, phải tự báo hiếu cha mẹ mình chứ không thể trông nhờ vào người khác. Kinh Tăng nhất A hàm cho biết, khi Di mẫu của Phật, tức Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni nhập Niết bàn, chư Thiên, Trời, Rồng… muốn thay Phật thực hiện nghi lễ trà tỳ, nhưng Phật không cho phép.

Ngài nói: “Cha mẹ sinh con, cho con nhiều lợi ích, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân, không được không báo ân. Chư Thiên nên biết, chư Phật quá khứ, thân mẫu sinh thành đều diệt độ trước, sau đó chư Phật Thế Tôn đều tự cúng dường trà tỳ xá lợi. Giả sử chư Phật Thế Tôn ở tương lai, thân mẫu sinh thành cũng diệt độ trước, sau đó chư Phật đều tự cúng dường. Do phương tiện này biết Như Lai nên tự cúng dường cha mẹ, chẳng phải Trời, Rồng, Quỷ thần làm được”.

Vu lan tưởng nhớ mẹ cha. Cành hông sắc đỏ - màu yêu thương - Ảnh minh họa

Như vậy, chư Phật trong ba đời đều phải đích thân cúng dường xá lợi cha mẹ mình, bởi không ai có thể làm thay việc báo hiếu. Chư Phật còn thế huống là hàng phàm phu chúng ta? Cho nên, mỗi chúng ta hãy tự báo hiếu cho cha mẹ của mình, theo đúng lời Phật dạy, và đừng bao giờ vọng tưởng rằng cứ đến mùa Vu lan thì ghi tên ông bà tổ tiên cha mẹ và gởi tiền xin lễ kỳ siêu trong chùa là làm xong hiếu sự.

Phật dạy rất nhiều cách báo hiếu, nhưng tựu trung thì có hai cách chính, là hiếu thế gian và hiếu xuất thế gian.

Hiếu thế gian là cách thường tình ai cũng có thể làm được, đó là cung cấp cho cha mẹ cơm áo, thuốc thang, vật dụng, chăm sóc, thăm viếng, hầu cận… nhưng hơn hết là sự ân cần, thương yêu, kính trọng mẹ cha.

Người ta nói "của cho không bằng cách cho", nhất là cho cha mẹ. Cha mẹ cần nơi con cái không phải là những vật chất, thứ mà cha mẹ đã từng khổ cực tìm kiếm cho con. Cha mẹ cần ở nơi con sự trưởng thành và hạnh phúc, cần nơi con tình thương và quan tâm. Cho dù vậy, cách báo hiếu này cũng chỉ báo hiếu được phần nào công ơn của cha mẹ mà thôi, chưa thể gọi là tận hiếu.

Tận hiếu phải là hiếu xuất thế gian, tức là khuyên cha mẹ làm lành, giữ giới, ăn chay, niệm Phật.
Kinh Tỳ ni mẫu, quyển 2, nói: “Nếu cha mẹ nghèo khổ bần hàn, thì trước hết phải khuyên cha mẹ thọ Tam quy, giữ Ngũ giới hay Thập thiện, rồi sau đó mới cung phụng vật thực, y áo; bởi vì chỉ có cách báo hiếu theo Phật pháp mới có thể giúp cho cha mẹ mãi mãi xa lìa khổ đau, thoát khỏi bần hàn, được vui an lạc”.

Kinh Trung A hàm có ghi lại sự kiện Di mẫu của Phật, bà Cù Đàm Di, cúng dường Thế Tôn tấm y may bằng kim tuyến, Thế Tôn không nhận mà bảo bà hãy cúng dường đại chúng. Tôn giả A Nan đã trách khéo Thế Tôn bằng cách nhắc nhở rằng Cù Đàm Di có công nuôi dưỡng Thế Tôn khi thân mẫu của Ngài qua đời. Thế Tôn đồng ý rằng Cù Đàm Di đã đem lại cho Ngài nhiều lợi ích, nhưng chính Ngài cũng đã đem lại cho Cù Đàm Di nhiều lợi ích hơn nữa, đó là nhờ Ngài mà Cù Đàm Di quy y Tam bảo, nghe pháp Tứ đế, thành tựu tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ…

Đức Phật dạy: “Này A Nan, nếu có người nhờ người ấy mà được quy y Tam bảo, không nghi ngờ Tứ đế, thành tựu tín, giới…, thì người này cúng dường lại người kia suốt đời vẫn chưa thể đền ơn”.

Như vậy, chỉ bằng cách dẫn dắt cha mẹ vào đạo, hướng dẫn cha mẹ quy y Tam bảo, giữ Ngũ giới, niệm Phật cầu vãng sanh, nghe Phật pháp… mới có thể báo hiếu đến chỗ rốt ráo, mới được gọi là tận hiếu. Hơn nữa, khi con cái dẫn dắt cha mẹ vào đạo thì không những hiếu đạo được vuông tròn mà ngược lại cha mẹ còn mang ơn con cái. Tuy nhiên, chúng ta ai cũng biết rằng, một khi mình đã biết tu tập thì không bao giờ nghĩ rằng ai đó đã mang ơn mình, huống nữa là nghĩ cha mẹ mang ơn mình sao?

Đó là nói trường hợp cha mẹ chưa biết đạo. Trong trường hợp cha mẹ đã biết đạo, đã biết tu tập thì phận làm con chỉ cần noi gương cha mẹ mà tu tập cho tinh tấn thì đã là báo hiếu rồi.
Kinh Tăng nhất A hàm cho biết, người nào có hiếu với cha mẹ thì sẽ được năm quả báo thù thắng vi diệu, đó là: 1. ít bệnh, 2. đoan trang xinh đẹp, 3. có oai thế lớn, 4. được sanh trong gia đình thượng lưu, 5. giàu sang phú quý.

Nhưng, là người Phật tử, khi báo hiếu mẹ cha không ai nghĩ rằng mình báo hiếu để cầu năm phước báo trên. Mục đích của sự tu tập là đạt được giác ngộ giải thoát. Khi mục đích này đạt được thì phước báo đâu chỉ có năm sự như trên!

Hiếu theo thế gian chỉ trong một đời, đó là cái hiếu nhỏ; hiếu theo Phật giáo thời gian không thể tính hết, nhờ vậy cha mẹ được sanh Tịnh độ, phước thọ vô cùng, số kiếp như cát của sông Hằng, đó là đại hiếu. Vậy nên, mọi người hãy nhất tâm mà niệm Phật để báo hiếu mẹ cha.

(st)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 19/02/14 20:37 

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma Thứ 14 thuyết pháp tại Claremont College
Bạch Nga (Lozang Ngodrub) chuyển ngữ

Chúng ta cần nên làm quen với những tâm thái tốt, nhưng theo thói quen, chúng ta thường có những vọng tưởng phiền não, như sân hận, gây nên những chướng ngại lớn cho bản thân. Do đó, chúng ta cần phải nhận diện những cảm xúc này và đương đầu với chúng ngay tức khắc. Nếu chúng ta dần dần làm quen với việc kiềm chế những tâm thái xấu, thì sau nhiều năm, một người trước kia hay giận dữ cũng có thể trở nên bình tĩnh.

Có người cảm thấy rằng ta sẽ mất đi sự độc lập nếu ta không để cho tâm mình đi rong theo ý muốn, mà lại cố gắng điều phục tâm. Sự thật không phải như vậy, nếu tâm ta đang tiến triển một cách đúng đắn, thì ta đã có sự độc lập rồi, nếu không thì ta cần phải điều phục tâm mình lại.

Liệu chúng ta có thể loại bỏ những vọng tưởng phiền não hay không, hay chỉ có thể ức chế những cảm xúc ấy thôi? Đối với Phật giáo, bản tính chân thật của tâm là ánh sáng trong (thanh quang), còn những ô trược thì bất định, vô thường và có thể tách rời khỏi tâm. Nói một cách triệt để thì bản tính của tâm là không có tự tính.

Nếu những cảm xúc phiền não, như sân hận (oán ghét), thuộc về bản tính của tâm, thì ngay từ lúc tâm phát khởi, nó đã luôn chứa đầy sự oán ghét, vì sự oán ghét đó chính là bản tính của tâm. Tuy nhiên, rõ ràng là điều này không đúng, vì chỉ trong những hoàn cảnh nào đó thì chúng ta mới giận dữ, chứ không phải lúc nào chúng ta cũng như vậy. Điều này cho thấy rằng tính chất của sự sân hận và tính chất của tâm khác nhau, mặc dù nếu nói sâu xa hơn thì cả hai đều thuộc về tâm thức và đều có tính chất sáng ngời và hiểu biết.

Hoàn cảnh nào là nền tảng cho sự sân hận phát sinh? Sân hận khởi phát vì chúng ta áp đặt lên các hiện tượng một đặc tính ít lôi cuốn hơn hay xấu xa hơn đặc tính thực sự trong các hiện tượng đó. Từ nền tảng của sự áp đặt này, chúng ta giận dữ với điều gì cản trở lòng ham muốn của mình. Do đó, nền tảng của tâm thù hận oán ghét là một nền tảng không đúng đắn. Ngược lại, tâm từ bi thì lại có nền tảng đúng đắn. Về lâu dài, nếu có sự xung đột giữa một tâm thái dựa trên nền tảng tốt và một tâm thái trái ngược thì tâm thái dựa vào nền tảng đúng sẽ thắng.

Do đó, nếu chúng ta trau giồi những tâm thái tốt dựa trên nền tảng đúng đắn một cách đều đặn trong một thời gian dài, thì những tâm thái có nền tảng không đúng sẽ dần dần giảm đi. Chẳng hạn như khi chúng ta rèn luyện thể lực để nhảy xa, thì căn bản luyện tập là thân thể vật chất thô thiển của mình, do đó chúng ta chỉ có thể nhảy xa đến một mức độ nào đó mà thôi. Tuy nhiên, vì tâm là một thực thể chỉ bao gồm sự trong sáng và ý thức, khi nó được rèn luyện dần dần, chúng ta có thể phát triển những tâm thái hữu ích một cách vô giới hạn.

Chính chúng ta biết rằng tâm có thể ghi nhớ rất nhiều điều; nếu ta ghi nhớ một việc nào đó, rồi lại ghi nhớ thêm một việc khác nữa, cuối cùng chúng ta có thể lưu trữ rất nhiều trong trí nhớ của mình. Hiện tại, chúng ta không thể ghi nhớ một cách phi thường vì chúng ta chỉ sử dụng những tầng lớp tâm thức rất thô sơ, nhưng nếu chúng ta sử dụng được những tầng lớp tâm thức vi tế hơn, thì chúng ta sẽ có thể lưu trữ thêm nhiều điều hơn nữa trong trí nhớ của mình.

Phẩm chất của tâm thức có thể phát triển vô tận. Khi ta càng áp dụng và gia tăng những tâm thái đối kháng với những cảm xúc phiền não, thì phiền não sẽ ngày càng giảm đi và cuối cùng sẽ bị tận diệt. Người ta tin rằng vì tính chất của tâm chỉ là ánh sáng và hiểu biết, tất cả chúng ta đều có đầy đủ những điều kiện căn bản cần thiết để đạt được Phật quả.

Tư tưởng Phật giáo dựa trên tính chất thiết yếu của tâm là sự sáng ngời và hiểu biết, từ đó ta có thể chứng minh rằng tâm dần dần sẽ hiểu biết được tất cả. Điều này, trên khía cạnh triết lý, hỗ trợ cho quan điểm cho rằng những tâm thái tốt có thể được gia tăng vô hạn định.

Về phương diện hành trì hàng ngày, nếu ta nhận diện được bản chất của tâm và tập trung vào đó thì sẽ rất hữu ích. Lý do khiến chúng ta khó nhận diện được bản tính của tâm là vì những ý niệm của chúng ta che phủ lên bản chất này. Do đó, trước nhất, đừng nhớ lại những điều đã xảy ra trong quá khứ, đừng nghĩ tới những gì sẽ xảy ra trong tương lai; hãy để cho tâm tự nhiên trôi chảy mà không cần ý niệm. Để cho tâm nghỉ ngơi trong trạng thái tự nhiên và hãy quan sát nó. Lúc đầu, khi ta chưa quen với cách thực tập này, thì sẽ cảm thấy rất khó khăn, nhưng với thời gian, tâm sẽ hiện ra như nước trong veo. Khi ấy, hãy trụ trong trạng thái tâm không bị thêu dệt này và không để cho bất cứ ý niệm nào phát sinh nữa.

Buổi sáng sớm là lúc tốt hơn hết để hành thiền với phương pháp trên, vì đó là lúc ta vừa thức dậy, tâm đang sáng suốt nhưng các giác quan chưa hoàn toàn hoạt động. Nếu buổi tối hôm trước, ta không ăn quá độ hoặc ngủ quá nhiều thì sáng hôm sau tâm sẽ nhẹ nhàng và bén nhạy hơn. Dần dà rồi tâm của ta sẽ ngày càng trở nên vững vàng hơn; sự tỉnh thức và trí nhớ sẽ sáng suốt hơn.

Ta hãy nghiệm thử xem hành trì như trên có làm cho tâm ta tỉnh táo hơn trong suốt ngày hay không. Lợi ích tạm thời của hành thiền là tâm thức ta sẽ an lạc hơn. Khi trí nhớ trở nên khả quan hơn, ta sẽ dần dần phát triển được khả năng biết được quá khứ vị lai, do kết quả của sự tỉnh thức ngày càng gia tăng. Một lợi ích lâu dài là khi tâm ta đã trở nên minh mẫn và bén nhạy hơn, ta có thể sử dụng tâm mình trong bất cứ lãnh vực nào tùy ý.

Nếu ta có thể thiền một chút mỗi ngày, thâu nhiếp lại tâm ly tán, hướng tâm về bên trong, thì điều này sẽ giúp ích cho ta rất nhiều. Dòng ý niệm dựa trên những suy nghĩ thị phi (về những điều tốt, những điều xấu, vân vân và vân vân) sẽ ngưng lại .
Cách này sẽ giúp cho tâm ta được an trú trong vô niệm, khi dòng ý thức tạm thời ngưng nghỉ.

Ghi chú : Trên đây là bài dịch từ trang 18-20 trong quyển ’Kindness, Clarity,and Insight’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso, với sự đồng ý của Snow Lion Publications, http://www.snowlionpub.com. Jeffrey Hopkins dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ và cùng hiệu đính với Elizabeth Napper. Nhà xuất bản Motilal Banarsidass Publishers Private Limited ấn hành tại Delhi năm 1997 và Snow Lion Publications ấn hành tại New York năm 1996, ấn bản thứ 12.

Xin hồi hướng mọi công đức đến sự toàn giác của tất cả chúng sinh. Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Quan Âm Thiền Phật Học Viện, Ani Lozang Chophel, Lozang Ngodrub, Như-Ý Liên-Hoa dịch và hiệu đính tại Brisbane, Queensland, tài liệu phân phát nhân dịp Geshe Tashi Tsering thuyết giảng về đề tài trên tại Chùa Linh Sơn, 89 Rowe Terrace, Darra Queensland, vào ngày 14 tháng 4 năm 2007.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 21/02/14 11:34 

I. Nghi-Thức Cúng Gia-Tiên
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.
II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy
a. Cúng
Khi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.
b. Khấn (*)
Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.
Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)
c. Vái
Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).
d. Lạy
Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.
- Thế Lạy Của Đàn Ông
Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.
Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.

- Thế Lạy Của Đàn Bà
Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.
Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái
Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.

a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái
Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái
Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái
Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.
d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái
Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.
Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

IV Kết Luận
Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.
Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.

Khải-Chính Phạm Kim-Thư

(*) Góp ý thêm của TRANG CHỦ: Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được. Tuy nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn.

Lễ khấn gồm các thủ tục như sau: (Chỉ nhớ đại khái mong quý vị cao niên dạy dỗ thêm cho để hiệu đính cho đúng để đời sau dùng)

1. Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không đóng được cửa kín mít.

2. Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ Linh về hưởng lễ giỗ.

3. Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:

Duy .....quốc.....Tỉnh/Thị xa.... trang/gia tại... (số nhà). Việt lịch thứ 488..., thử nhật ... (ngày âm lịch) húy nhật gia phụ/mẫu/Tằng tổ v.v. là Hiển khảo/Tỷ.. (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ; với ông nội ngọai thì thêm chữ tổ - hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ mẫu/cô di v.v. (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, cô di tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo.

Cúng giỗ

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

* Ngày cúng giỗ

Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.
Nguyên ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ"; chiều hôm trước lễ chính kỵ có "lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

* Mấy đời tống giỗ

Theo gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can),; cụ (hay cô), ông bà, cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.

* Cúng giỗ người chết yểu

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mân, coi như người thân còn sốngtrong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.


Giỗ tết, Tế lễ

Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu hình hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống đực giống cái. Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới và một vài dân tộc ở miền núi nước ta.

Ở ta, hòn đá trên chùa, cây đa đầu đình, giếng nước, cửa rừng cũng được nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào đó. Người ta "sợ thần sợ cả cây đa" mà cúng cây đa, đó không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, quì trước tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, quì trước long ngai của thần, nhưng thần hiệu rõ ràng, chứ không phải khúc gỗ hòn đá như tục bái vật.

Ngày nay chỉ còn lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ, bình vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa gì, nhưng bình vôi tượng trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có bình vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngõ cũng mang bình vôi theo, có nghĩa là tạm lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ bình vôi thì đem mảnh bình còn lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đình chùa, không vứt ở chỗ ô uế.

Gỗ chò là loại gỗ quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây dựng đình chùa, nhà thờ. Dân không được dùng gỗ chò làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ chò, các cụ còn mặc áo thụng ra lạy.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 21/02/14 11:30 

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo

Lm Vũ Kim Chính, SJ
Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn", hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con".

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân".

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời".

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 20/02/14 18:28 

Danh vọng, địa vị , sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

1. Sống trong hiện tại:

Phật hỏi đệ tử:
- Cuộc sống người ta được bao nhiêu?
Các đệ tử thay nhau trả lời:
- 80 năm.
- Sai.
- 70 năm.
- Còn sai.
- 60 năm.
- Sai.
- Vậy người ta sống bao lâu?
Phật mỉm cười đáp
- Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở.

Lời bình:

Đừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại.

2. Sau khi chết người ta đi về đâu?

Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku.
- Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu?
- Tôi không biết.
- Tại sao thầy không biết?
- Vì tôi chưa chết.
- ???

Lời bình:

Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra.

3. Định mệnh nằm trong bàn tay:

Thời xưa, có vị tướng quyết tấn công địch dẫu quân địch mạnh hơn gấp nhiều lần. Trên đường
tiến quân, ông dừng chân ở một đền thờ cầu nguyện, xin giúp đỡ. Sau đó, ông rút ra một đồng xu và nói lớn với quân sĩ:
- Bây giờ, ta sẽ lấy đồng xu để xin keo.Nếu là sấp, quân ta sẽ thắng còn ngửa thì quân ta sẽ bại.
Chúng ta phó mặc mạng sống cho định mệnh. Đồng xu bay lên, xoay mấy vòng và rơi xuống
đất.
- Sấp rồi ! Chúng ta sẽ thắng ! Hãy xông lên chà nát quân thù ! - Ba quân reo hò phấn khởi.
Sau trận chiến, toàn bộ quân địch hùng hậu đông đảo bị đánh bại hoàn toàn. Vị phó tướng vui vẻ nói với tướng quân:
- Không ai có thể thay đổi được bàn tay định mệnh.

Tướng quân chỉ mỉm cười không đáp. Ông xoè tay đưa đồng tiền ra. Cả hai mặt đồng xu đều là mặt sấp.

Lời bình:

Thiên đàng rất công bằng đối với tất cả mọi người, không thiên vị dành riêng cho ai. Sự giúp đỡ duy nhất mà bạn có được là chính bản thân bạn !!!

4. Con sóng nhận thức:

Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình:
- Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.
Con sóng to cười đáp: - Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.
- Tôi không là sóng thế là gì?
- Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra
bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn
buồn bực gì nữa.
Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ:
- À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.

Lời bình:

Con người cho rằng "ngã" là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la.

5. Thiên đường địa ngục:

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
- Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không?
- Thế ngài là ai?
- Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn:
- A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm:
- Tao băm xác mi ra !!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
- Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
- Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
- Này là mở cửa thiên đường - thiền sư Ekaku mỉm cười.

Lời bình:

Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ!

Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.

6. Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo:

Có một bà lão biệt danh "mụ già hay khóc". Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà:
- Bà lão ơi, sao bà lại khóc?
- Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày.
- Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy.
- À, ông có lý.
Từ đó, "mụ già hay khóc" thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng.

Lời bình:

Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn.

7. Phật tại gia:

Yangpu về tỉnh Sichuan định tâm tìm kiếm Bồ Tát. Trên đường đi, Yangpu gặp một nhà sư. Nhà sư hỏi:
- Cậu đi đâu đấy?
- Tôi đi cầu Bồ Tát.
- Bồ Tát ở xa, chi bằng đi tìm Phật có hơn không?
- Tìm Phật ở đâu bây giờ?
- Khi cậu về nhà, thấy người đón cậu trên mình khoác cái mền, chân xỏ dép trái, đó chính là Phật.
Theo lời, cậu về nhà thì trời đã khuya. Mẹ cậu nghe con gọi cửa mừng quá vội khoác mền lên
người, xỏ dép trái. Bà chạy ào ra mở cửa và khi Yangpu thấy mẹ mình như vậy thì đứng chết lặng.

Lời bình:

Người ta tìm chân lý nhưng điều cần là thực thi ngay trong lòng, không thì khó mà gặp được.

8. Ngón tay chỉ mặt trăng:

Sư Wu Jincang hỏi Lục Tổ Huệ Năng:
- Con đọc kinh Đại Bát Niết Bàn bao năm rồi mà vẫn chưa hiểu. Xin tổ sư soi sáng cho.
Lục Tổ Huệ Năng cầm quyển kinh đưa cho ni sư, nói:
- Ta không đọc được chữ, con hãy đọc, ta sẽ giúp con hiểu.
- Tổ không đọc chữ sao ngài hiểu thông nghĩa được? - Jincang rất ngạc nhiên.
Lục Tổ Huệ Năng thủng thỉnh đáp:
- Chân lý không dựa vào chữ nghĩa. Nó giống như trăng soi trên trời. Trong trường hợp này,
chữ nghĩa giống như ngón tay trỏ vậy. Ngón tay chỉ trăng mà nó không phải là trăng. Xem trăng có cần ngón chỉ không?

Lời bình:

Ngôn ngữ văn tự đều là biểu tượng diễn chân lý. Đừng lầm chữ nghĩa với chân lý như đã lầm ngón tay với mặt trăng.

9. Ai đó:

Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu - vị sư trưởng đền này.
Đệ tử của Keichu vào báo:
- Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy.
- Ta không biết thống đốc nào cả - Sư trưởng trả lời.
Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki:
- Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả.
Kitagaki hiểu ra:
- Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki
muốn diện kiến.
- Để tôi thử lần nữa.
Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi:
- Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.

Lời bình:

Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được.

10. Càng vội càng chậm:

Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ:
- Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư?
- Có lẽ 10 năm.
- Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu?
Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp:
- Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.
Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng:
- Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.
- Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm - Vị sư phụ mỉm cười.

Lời bình:

Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.

11. Đèn đã tắt:

Một anh mù đến từ giã bạn mình. Người bạn cho anh một cây đèn lồng. Anh mù cười hỏi:
- Tôi đâu cần đèn lồng. Với tôi, sáng hay tối có gì khác.
- Tôi biết. Nhưng nếu không mang nó theo, trong bóng tối người khác có thể đụng vào anh.
- Ồ, vậy thì được.
Đi được một đoạn, bất ngờ anh mù bị một người đâm sầm vào. Bực mình, anh ta quát:
- Bộ không thấy đèn hả?
- Đèn của ông đã tắt từ lâu rồi mà.

Lời bình:

Người nào dùng lời kẻ khác để dạy người có thể giống anh mù này. Đèn đã tắt từ lâu, tuy nhiên anh ta không biết điều đó.

12. Bình thường tâm:

- Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào?
- Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ.
- Đó là những điều mà mọi người thường làm mà?
-Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan.

Lời bình

Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ?

Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày.

13. Thiền trong chén trà:

Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc:
- Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa.
Nan In cười đáp:
- Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không
cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được.

Lời bình:

Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

14. Con quỷ bên trong:

Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư
liền vấn ý sư Tổ:
- Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi.
-Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến.
Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình.

Lời bình:

Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra.

15. Đích tới có một đường đi không cùng:

Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian:
- Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau?
- Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây.

Lời bình:

Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn...

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Lời dạy của SƯ TỔ ĐẠT MA
Đã gửi: Thứ 5 20/02/14 16:01 

Tất cả tướng đều là giả tướng "phàm có tướng đều là hư vọng cả" - vô thường ko vững chắc duy chỉ có chơn tâm là thật nên Tổ Sư đã nói "vâng con đã xây xong, àh không phải nói là con đã 'tìm lại' mới đúng." Tìm lại đó là tìm lại dc chính mình = chơn tâm mình.

"Tay anh đang nắm quả đấm hay quả đấm đang nắm anh, Gà có trước hay trứng có trước...Nói qua nói lại cũng thế thôi...Tất cả là tuỳ duyên không nên cố chấp.... Người hiểu mình nhất chính là bản thân mình.... Hiểu người là thông minh, hiểu mình là trí huệ."

"Các con chỉ biết ngồi mà ngủ không biết tại sao phải ngồi thiền thì không bao giờ gặp được đại đạo. Tất cả phải đi từ cơ bản, cơ bản chính là "Tâm". Tội lỗi là do tâm sanh và cũng do tâm diệt... Thiện Ác cũng do tâm mà ra. Vậy hãy dùng tâm mà suy xét..."

"Chưa hề chịu khổ thì chưa biết oán mà kêu oán, chưa chảy máu thì chưa biết đau, chưa từng bị giết thì chưa biết cảm giác bị giết: sợ hải, oán thù...Hãy ở gốc độ của họ mà suy nghĩ...Muôn loài vạn vật đều có sinh mạng như nhau..." không ai có quyền giết ai, giết là kết nhân và sẽ trả quả khi nào đến lúc.

"Nghe như không nghe, thấy như không thấy, biết như không biết, đó mới là chân lý..." Hãy để tâm tự tại, tỉnh lặng...

"Hữu duyên thiên lý nan tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng" Vua Lương Võ Đế có duyên với Phật nhưng tâm còn ác... chấp trước vào công đức nên không có công đức, vì chổ chấp trước đó là tâm ngã của phàm phu, "công đức có được khi chuyển hoá tâm phàm phu thành tâm thánh nhân. Nên bồ tát bố thí ko nhận lấy phước đức cho nên phước đức nhiều..."
Tổ sư hoá thân thành thỏ nhi tìm người tâm đạo...

"Muốn tâm an thì phải nhìn lại bổn tâm mình,... muốn biết nhân đời trước thì nhìn quả đời này, muốn biết quả đời sau thì nhìn nhân đời này..."

"Người biết mà không nói, người nói mà không biết... Đời sau người nói lý thì nhiều mà hiểu thì không có bao nhiêu mà người hiểu đạo nhiều nhưng hành đạo lại ít, ... Tổ sư dạy không chấp vào tướng ác nhân của ai và không nên xem thường bất cứ ai, vì họ có thể bỏ đi cái ác mà trở về thiện.....

"Như đoạn cuối Tổ Sư hiện bày cái chết để độ bọn thổ phỉ" thân thể rồi trở về với tro bụi nó là giả nên đừng tạo oán thù, nhân ác cướp của giết người để phục vụ cho cái thân dc sung sướng... thổ phỉ cảm thấy hổ thẹn... đoạn này rất hay, rất ý nghĩa. dạy ta nhiều điều, quan trọng là "chúng sanh có Phật tánh" nên ko chấp vào nơi tướng mà khinh kẻ khác... A Di Đà Phật...

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: CHỮ TÂM
Đã gửi: Thứ 7 22/02/14 21:03 

Ở đời mỗi người một số phận, một hoàn cảnh rất khác nhau: Giàu nghèo, sang hèn, học vấn cao thấp, uy phong quyền lực, tiểu tốt vô danh... Bất luận là người thế nào cũng có thể so sánh được với nhau bằng một đơn vị chung, đó là “tâm”.

Thiện, ác, chính, tà, trung, gian, tốt, xấu...đều được thể hiện qua tâm. Sướng hay khổ cũng ở tâm. Tâm nhàn thì sướng, tâm không nhàn thì khổ. Chỉ một cái tâm khổ thì dù có bao nhiêu cái sướng khác cũng không bù đắp nổi.

Tâm còn là thước đo để khẳng định giá trị cuộc sống mỗi người. Bất luận đẳng cấp nào, nếu "tâm" thiện là thánh và "tâm" ác là quỷ. "Tâm" không phụ thuộc bởi phú quý, địa vị, chức tước.
Hãy rộng lòng nhân ái vị tha kể cả với những kẻ đã từng gieo thù rắc oán cho ta, hành hạ ta đủ cách. Nếu suy nghĩ ở khía cạnh khác thì vô tình họ đã giúp ta việc rất lớn. Đó là họ kích thích, thôi thúc để vì tự ái và tự trọng buộc ta phải quyết chí vươn lên hơn hẳn con người cũ của ta. Ta được như hôm nay, một phần là nhờ họ.

Vì thế, những ý nghĩ trừng phạt, trả thù tội ác do họ đã gây cho ta là không nên. Ta sống để trở thành người lương thiện chứ không phải sống để gieo thêm tội ác. Đời luôn cần ở ta lòng từ bi bác ái. Vả lại, họ không hoàn toàn là người bỏ đi. Phạm sai lầm không có nghĩa thành vô dụng. Mọi thứ ở đời đều có thể biến đổi và cải tạo được.

Đức Phật tổ dạy: "Oán không bao giờ diệt nổi oán. Chỉ có tình thương mới hóa giải được thôi". Cuộc đời ngắn ngủi, khi nhắm mắt xuôi tay người nào cũng thế, đều chỉ mang theo hai thứ: Phước đức và tội lỗi. Phước đức gắn liền với lời ca ngợi và lòng biết ơn. Tội lỗi đi kèm với sự khinh bỉ và nỗi oán hận. Mọi thứ khác như quyền lực, giầu sang... đều vô nghĩa.

Không ai giúp mình, che chở, nâng đỡ và cứu mình bằng chính phước đức của mình. Cũng chẳng có ai hành hạ và cướp đi của mình tất cả bằng chính tội lỗi của mình. Bởi thế, hãy cố tu rèn tích góp phước đức và loại dần tội lỗi. Phước đức làm cho con người đáng yêu khi đang sống, đáng kính khi đã chết, còn tội lỗi thì ngược lại.

Có kẻ rất giầu có, đầy quyền lực mà không được trọng, trong khi có người rất nghèo khó, chẳng chút uy quyền mà chẳng ai dám khinh. Bởi giá trị hơn kém nhau là ở cái " tâm " . Tự đánh giá mình, hay đánh giá người khác đều phải lấy " tâm " làm căn cứ.

Hãy sống với nhau bằng " tâm " và đối xử với nhau bằng " tình ". " Tâm " lớn thì " tình " nặng và ngược lại. Hai thứ đó giống như kim cương không chịu tác động bởi thời gian, bởi tiền tài danh vọng, bởi chức tước, quyền lực...Dù hoàn cảnh khó khăn, thử thách khắc nghiệt thế nào vẫn luôn toả sáng.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: SÂN
Đã gửi: Thứ 7 22/02/14 21:08 

“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi đối diện với một người hay một điều kiện không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn, bất bình vì bị xúc phạm… nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. Hầu như ai cũng từng nổi giận, trong một thời điểm nào đó, với một mức độ nào đó.

Sân hận là biểu hiện cho năng lượng của tâm khi tham ái không được thoả mãn. Sở dĩ sân hận sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta”. Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay. Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận. Sân hận là cánh cửa mở vào địa ngục vì nó dẫn đến sự huỷ diệt bản ngã.

Nhưng nên nhớ rằng trên đời này không ai tránh khỏi bị khiển trách, bị chê bai, khó tránh khỏi miệng thế gian như Đức Phật đã từng đưa nhận xét trong Kinh Pháp Cú:

(Pháp Cú 227)
Người con Phật hãy nghe đây
Chuyện không phải chỉ đời này mà thôi
Từ đời xưa đã nói rồi:
“Làm thinh thời sẽ có người chê bai,
Nói nhiều cũng bị chê hoài,
Dù cho nói ít cũng người chê thôi”.
Làm người không bị chê cười
Thực là chuyện khó ở nơi cõi trần.
Trong quá khứ, trong tương lai và trong hiện tại chưa hề có người nào bị tất cả mọi người chê bai hay được tất cả mọi người khen ngợi, đúng như lời Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 228)
Ở đời toàn bị chê bai
Hay toàn nghe tiếng người ngoài khen ta
Từ xưa chẳng thấy xảy ra,
Tìm trong hiện tại thật là khó sao,
Tương lai cũng chẳng có nào.
Nhưng vì bị chê bai mà nổi sân thời tai hại vô cùng vì lúc nóng giận thì con người không còn đủ bình tĩnh để tự kiểm soát hành vi và ngôn ngữ của mình. Khi sân hận phát khởi, nó có khả năng hủy hoại công đức và tâm an lạc. Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra.” Và: “Một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức.” Đức Phật khuyên: “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các ngươi.”

Phải tu tâm để đạt tới “vô sân”. Vô sân là không nóng nảy, hết giận hờn. Chúng sinh bị qua nhiều kiếp sinh tử luân hồi chính vì không thắng nổi lòng sân. Chư Phật được tự tại, giải thoát, là do dứt trừ được lòng sân tận gốc. Điều khó nhất là diệt trừ phẫn nộ ngay từ trong tâm. Khi tâm chúng ta không còn nghĩ đến giận hờn thì tự nhiên cơn phẫn nộ sẽ không bộc phát.

Trong khi đốn cây để cất tịnh thất cho mình, thầy Tỳ kheo nọ vô tình làm tổn hại đến cái chồi non của một vị thần cây. Vị này nổi giận, muốn giết thầy nhưng kịp nghĩ suy nên kiềm chế được cơn sân hận của mình đang phát sinh. Ðức Phật tán dương và dạy:

(Pháp Cú 222)
Khi cơn giận dữ bùng ra
Ai mà ngăn được mới là người hay
Giỏi như hãm lại được ngay
Chiếc xe đang chạy chở đầy, phóng nhanh,
Nếu không thì bản thân mình
Cầm cương hờ hững tài tình gì đâu.
Đại đức Mục Kiền Liên hỏi thăm nhiều vị Trời nhờ công đức gì mà được tái sinh vào cảnh trời. Các vị này kể ra những hành động xem ra có vẻ không quan trọng lắm như chân thật, nhẫn nại và bố thí v.v… Khi ngài Mục Kiền Liên bạch hỏi Đức Phật vậy những hành động tuy nhỏ nhưng tốt lành có thể nào dẫn đến các cõi trời không, Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 224)
Nói lời chân thật luôn luôn,
Dẹp cơn nóng giận dỗi hờn khó coi,
Dù ta có ít của thôi
Cũng chia bố thí cho người đến xin,
Nhờ ba việc tốt lành trên
Đưa ta đến cõi chư thiên, cõi trời.
Giảng về quả phúc của người cúng dường đến bậc hoàn toàn thanh tịnh, Ðức Phật dạy rằng cỏ dại làm hại ruộng vườn thời lòng sân hận cũng làm hại loài người. Vì vậy người nào diệt hết lòng sân hận thì người đó đáng được ngưỡng vọng và khâm phục:

(Pháp Cú 357)

Cỏ hoang làm hại ruộng vườn
Lòng sân gây hại nhiều hơn cho người,
Ai lìa sân hận được rồi
Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng
Hưởng về phước báu vô vàn.
Voi là một con vật quan trọng hàng đầu trong số những thú vật được con người huấn luyện để sử dụng. Giống như voi với sức mạnh có thể bứng gốc một thân cây, quấn vòi quanh thân cây ấy để mang đi dễ dàng, Đức Phật dạy rằng con người cũng có thể tạo cho mình tiềm lực vật chất, nghị lực tinh thần, lòng kiên nhẫn và sức mạnh, chẳng khác một con voi thuần thục. Luyện được lòng nhẫn nhục mới là khó:

(Pháp Cú 321)
Luyện voi dự hội, tài thay
Luyện voi vua cưỡi cũng hay vô cùng,
Nhưng mà nếu luyện được lòng
Luôn luôn nhẫn nhục, chẳng còn nổi sân
Khi nghe phỉ báng bản thân
Mới là điêu luyện, muôn phần tài hơn.
Đức Phật dạy rằng tự chế ngự được mình mới là điều rất quý và người chịu cố gắng, đủ nhẫn nại để tự huấn luyện mình thời cũng sẽ được hưởng kết quả tốt lành như người đã khéo huấn luyện các con thú vật như la, ngựa và voi. Con người thuần thục, giới đức trang nghiêm là hơn tất cả:

(Pháp Cú 322)
Con la được huấn luyện qua
Trở nên thuần tánh, tỏ ra tốt lành,
Ngựa nòi sinh chốn sông xanh
Sau khi huấn luyện, trở thành ngựa hay,
Voi ngà to lớn quý thay
Sau khi huấn luyện voi này tuyệt luân,
Con người nếu chính bản thân
Tự mình thuần hóa được luôn chính mình
Mới là người thật tài tình!

Đức Phật khuyên chúng sinh hãy từ bỏ cả tham lẫn sân. Ngài ví một chiếc thuyền như thể xác, như tấm thân con người do năm uẩn tạm hợp. Thân này sẽ tan rã vì vô thường, nên xét kỹ thời thấy nó quả thật trống không. Nước trong thuyền là những tư tưởng xấu cần diệt trừ. Tát cho khô nước tức là dập tắt ngay lửa tham sân. Khi thuyền khô cạn nước thời thuyền trở nên nhẹ nhàng để mau chóng qua bờ. Thân tâm dẹp sạch tham dục và sân hận thời trở nên thanh tịnh, đó là điều kiện tốt để sớm chứng được cảnh Niết Bàn:



(Pháp Cú 369)
Tỳ Kheo tát nước thuyền này
Thuyền không nhẹ nhõm xuôi ngay theo dòng,
Tham và sân trừ diệt xong
Thân này cũng nhẹ thoát vòng nhiễm ô
Niết Bàn mau chóng qua bờ.
Sân hận là tình trạng bất ổn của tâm. Đối với Phật giáo, hoàn toàn không có cái gọi là sân hận chánh đáng. Sự sân hận, dù ở mức độ nhẹ nhất cũng là bất ổn. Nó được xem như thuốc độc gây hại cho “tâm”. Đức Phật kêu gọi chúng ta lấy tình thương báo đáp thay vì thù hận. Lấy oán báo oán thời oán ấy chất chồng. Lấy ân báo oán thời oán ấy mới tiêu tan. Khi sân hận có mặt thì hạnh phúc không thể hiện diện trong tâm. Nếu chúng ta muốn thế giới này bớt bạo động và trở nên nhân ái hơn thời trước hết chúng ta phải đến với người bằng lòng nhân ái, phải an hoà và trầm tĩnh. Đức Phật từng dạy:

(Pháp Cú 5)
Khắp nơi trong cõi dương gian
Hận thù đâu thể xua tan hận thù
Chỉ tình thương với tâm từ
Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm
Đó là định luật ngàn năm.
Khuynh hướng của con người là mong cầu hạnh phúc và loại bỏ đau khổ nên chúng ta nên tu tập để diệt trừ tâm sân hận. Đó không phải là vấn đề cá nhân mà còn là vấn đề xã hội, bởi vì nếu chúng ta muốn thay đổi xã hội, trước hết hãy thay đổi chính mình. Phật thuyết: “Vì vậy, các ngươi phải rèn luyện chính bản thân mình”. Ngài nói tiếp: “Nếu tâm bình thì ác khẩu không khởi, tâm chỉ còn niềm cảm thông trọn vẹn và cởi mở, một tấm lòng đầy từ ái, không còn chi phối bởi bất cứ ác nghiệp nào. Với tâm từ bi rộng lớn, sâu thẳm vô biên, ta sẽ cảm hoá những kẻ ác nghiệp thoát khỏi sân hận và oán thù”.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người nào không nổi sân, thì tâm không khổ não, tâm không tranh giành, tâm nhu hòa ngay thẳng, tâm từ bi như Phật, thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sinh, thân tướng trang nghiêm được chúng sinh tôn kính và vì có đức nhẫn nhục nên sẽ được mau sinh lên cõi Phạm Thiên.

Khi nói về hậu quả của sự giận dữ, tác phẩm “Hành Hạnh Bồ Tát” có ghi mấy câu:
“Bao nhiêu công đức tốt đẹp
Tích lũy trong một ngàn kiếp
Như bố thí, cúng dường chư Phật
Tất cả đều tiêu tan trong một cơn giận dữ.”

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Món quà đáng quý nhất
Đã gửi: Thứ 7 22/02/14 21:18 

Một ngày nọ, có một tín đồ đến thỉnh giáo thiền sư: “Con là người đã có gia đình, nhưng con lại đang rất yêu một người con gái khác, con phải làm thế nào bây giờ?”.

Thiền sư nói: “Con có chắc chắn rằng cô gái ấy thực sự là người con yêu nhất trên đời này không?”.
“Vâng, người đó cho con những giây phút đẹp nhất, cô ây thực sự rất tuyệt vời”, tín đồ khẳng định.

Thiền sư không trả lời trực tiếp câu hỏi của anh ta mà chỉ nói với tín đồ: “Con hãy nhìn 3 cây nến trong cái lư hương trước mặt, cây nào sáng nhất”. Tín đồ nói: “Độ sáng đều như nhau, làm sao có thể nhìn ra được cây nào sáng nhất ạ”.

Thiền sư nói tiếp: “Con hãy cầm lấy 1 cây, để trước mặt. Giờ dùng tâm để nhìn xem cây nến nào sáng nhất”.

“Đương nhiên cây nến đặt trước mặt là cây nến sáng nhất rồi ạ”, tín đồ trả lời.

Thiền sư lại nói: “Bây giờ con hãy để 3 cây nến như hiện trạng ban đầu và hãy nhìn thật kỹ xem trong ba cây, cây nào sáng nhất”.

Tín đồ nói: “Nếu để như lúc đầu thì độ sáng như nhau, vốn không thể nhìn ra cây nào sáng nhất”.

“Đúng là như vậy”, thiền sư cười đáp.

“Thực ra việc nhìn thấy 3 cây nến cũng giống như việc con gặp người phụ nữ kia trong cuộc đời mình vậy. Khi để nó ở trước mặt, dùng tâm nhìn nó sẽ càng cảm thấy nó đẹp nhất, nhưng khi đã để nó về chỗ cũ thì lại không hề thấy chút ánh sáng nào từ nó. Cho nên kiểu tình yêu này, chỉ như trăng dưới nước, căn bản không vượt qua nổi thử thách của thời gian, cuối cùng cũng chỉ là hư không mà thôi”.

Dừng lại một lúc, vị thiền sư nói tiếp: “Trong cuộc sống hôn nhân, người ta thường lờ đi những ưu điểm của đối phương, thay vào đó lại phóng đại những khuyết điểm. Cái gì mới là tình yêu chân chính? Có thể đồng cam cộng khổ, bao dung cho nhau, đó mới là tình yêu chân chính. Nó có vẻ bình thường, nhưng lại rất sâu lắng, là tình cảm đáng được trân trọng suốt cuộc đời”.

Tín đồ nghe xong, trước mắt bỗng phảng phất hình ảnh người vợ vì để cho mình an tâm làm việc đã từ bỏ cơ hội đi công tác ở nước ngoài, vì để cho mình có được sự ấm áp những ngày đông giá rét mà khổ sở học đan áo len… Trong lòng tín đồ bỗng chốc như tỉnh ngộ, anh ta cảm ơn thiền sư, chạy như bay về nhà.

Lòng người luôn vì sự mù quáng nhất thời mà đi lạc hướng, vì sự cô đơn nhất thời mà tìm sai chốn về. Kỳ thực, nơi luôn luôn mở rộng cửa đón ta chính là nhà, người có thể hi sinh vì ta chính là người thân yêu của ta trong ngôi nhà đó. Nhà chính là bến cảng cho chúng ta tránh gió bão, là chốn về cho tâm hồn mỗi người và là món quà vô giá để chúng ta suốt đời trân trọng yêu thương.

Tìm thấy người tự nguyện cùng mình đối diện, cùng mình gánh vác, cùng mình chia sẻ, có thể cùng mình trải qua những tháng ngày sống giản đơn mà hạnh phúc, đó mới chính là món quà đáng quý nhất trên đời.”

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 28/03/14 14:05 

Biết tha thứ cho những người làm ta đau đớn sẽ mang lại một cảm giác yên bình mà ta không thể có được khi ôm riết lấy mối hận thù. Ngoài ra, tha thứ còn làm ta khoẻ mạnh hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.

Một nghiên cứu tại Đại học Hope ở Michigan, Mỹ, đã cho thấy con người bị căng thẳng về tim mạch đáng kể khi họ hình dung kế hoạch trả thù những người làm đau mình. Nhưng sức ép sẽ giảm đi rất nhiều khi họ mường tượng đến cảnh tha thứ cho những người phạm lỗi.

Các nhà khoa học tại Đại học Stanford cũng tìm thấy những ai biết thứ tha có các cơn giận dữ và triệu chứng stress ít hơn rất nhiều so với những người giữ mãi mối hận. Để vết thương mau lành, hãy làm theo những lời khuyên sau:

- Đừng chờ đợi câu xin lỗi

- Chúng ta thường câu nệ rằng: "Tôi sẽ không tha thứ chừng nào hắn chưa nói lời xin lỗi". Nhưng làm như vậy chỉ khiến chúng ta phải ôm nỗi hận trong nhiều năm mà rốt cục chỉ mình mình khổ. Như thế cũng tức là chúng ta để cho sự bình yên của mình nằm trong tay kẻ khác. Vì vậy, hãy giải quyết cơn giận và nỗi đau của mình ngay từ bây giờ.

- Thông cảm với người phạm lỗi

- Người ta có thể đã hành động vì sự vô tâm, nỗi lo sợ hoặc niềm đau của chính họ. Có một câu nói rằng: Đằng sau mỗi anh chàng đểu cáng đều có một câu chuyện buồn. Hãy tự đặt mình vào vị trí của người lầm lỗi, hoặc viết một bức thư cho chính mình dưới quan điểm của người ta.

Nhà tâm lý Robert Karen phát biểu: "Chúng ta thường quên rằng kể cả người yêu chúng ta nhất cũng có thể làm ta tổn thương và đôi khi phản bội ta. Nó không phải lúc nào cũng là dấu hiệu kết thúc mối quan hệ".

Nghĩ về sự nhẹ nhõm khi mình được người thân yêu tha thứ. Thường sẽ đau đớn hơn rất nhiều khi chính mình phải suy ngẫm về tội lỗi của mình. Nhưng cần phải làm thế để tìm lại sự cân bằng.

Thực hiện một hành vi tượng trưng

Nếu bạn không thể hiện sự tha thứ một cách công khai thì bạn sẽ chưa tin rằng mình đã hoàn toàn tha thứ. Chẳng hạn, giơ cao một cục gạch và thả xuống khi bạn sẵn sàng tha thứ. Hoặc thắp một ngọn nến và hình dung nỗi giận cũng tan theo dòng sáp.

Nhớ rằng tha thứ chưa phải là lãng quên.

Những cảm giác đau đớn sẽ vẫn tồn tại cho dù bạn đã bỏ qua chuyện cũ. Có những lúc bạn sẽ cần phải làm mới lại sự tha thứ của mình. Nhưng vượt qua sự hận thù sẽ làm bạn thảnh thơi bước tiếp. Nghiên cứu cũng cho thấy những ai tha thứ sẽ cảm thấy nỗi đau không còn nặng nề như trước.

Cuối cùng, đưa bản thân vào danh sách tha thứ.

Tha thứ cho người khác cũng chính là tha thứ cho chính mình.

(ST)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 07/04/14 23:00 

Một lần quỳ trước Phật, tôi đã cầu xin Phật ban cho tôi sức khỏe và sự giàu sang. Phật lắc đầu, mỉm cưởi rồi nói: Ta không phải là một vị thần để có thể ban cho con sức khỏe và sự giàu sang.

Con muốn có sức khỏe thì con hãy chăm lo rèn luyện thân thể và giữ gìn chế độ sinh hoạt cho hợp lí, muốn có được sự giàu sang thì con phải chăm chỉ làm việc và chăm phát tâm bố thí cứu giúp người nghèo khó.

Một lần quỳ trước Phật, tôi đã cầu xin Phật ban cho tôi có được một sự nghiệp công danh rạng rỡ. Phật lắc đầu, mỉm cười rồi nói: Ta không phải là một vị thần để có thể ban cho con một sự nghiệp công danh rạng rỡ. Muốn có được một sự nghiệp công danh rạng rỡ, con hãy tinh tấn học tập cho thật giỏi một nghề mà con hằng yêu thích.

Một lần quỳ trước Phật, tôi đã cầu xin Phật ban cho tôi một người yêu thật xinh đẹp. Phật lắc đầu, mỉm cười rồi nói: Phàm những gì mắt con nhìn thấy được đều là hư dối, tứ đại giai không, cái đó chẳng thật. Con hãy giữ trong mình một tâm hồn chân thành, trong sáng, và dùng tâm hồn chân thành, trong sáng đó đối đãi với tất thảy những người con quen, rồi con sẽ có được một người yêu có tâm hồn chân thành, trong sáng giống như là con. Vẻ đẹp của tâm hồn chân thành trong sáng, đó mới là vẻ đẹp lâu dài và không hư dối.

Một lần quỳ trước Phật, tôi cầu xin Phật ban cho tôi luôn có được trí tuệ sâu rộng. Phật lắc đầu, mỉm cười rồi nói: Trí tuệ của ta bao trùm khắp hư không và công bằng với tất cả chúng sinh, con chăm chỉ học tập chừng nào thì con sẽ có được trí tuệ chừng đó.

Một lần quỳ trước Phật, tôi đã cầu xin Phật ban cho tôi có được lòng từ bi quảng đại , để tôi có thể chải lòng thương yêu với tất thảy chúng sinh, kể cả là những chúng sinh ghét tôi, thậm chí có ý gây hại cho tôi. Phật gật đầu, mỉm cười và nói: Ta tán thán lời cầu nguyện này của con.

Một lần quỳ trước Phật, tôi không cầu xin Phật ban cho tôi bất cứ thứ gì, tôi hành lễ năm vóc sát đất tỏ lòng tôn kính Ngài và cầu nguyện cho tất thảy chúng sinh đều hữu duyên với giáo pháp của Ngài, đều có được sự thiền định, trí huệ, lòng từ bi, đức độ, khoan dung giống như Ngài. Ngài không nói gì, chỉ mỉm cười nhìn tôi rồi như bất động.

(Trần Văn Khắc)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: KINH DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT
Đã gửi: Thứ 6 04/04/14 16:44 

---- ----
Ngài BẤT KHÔNG TAM TẠNG
phụng chiếu dịch

Chính thực tôi nghe :
Một thời, Đức Phật ở núi Gia-La-Đà cùng với chúng Đại Tỳ-Kheo một vạn hai nghìn người và ba vạn sáu nghìn vị Bồ-Tát ở đó. Lại có Chư Thiên, bộ Long, quỷ Dạ-Xoa, Người và Không-phải-Người, còn các Bộ khác nữa. Lại có vua Kim-Luân, vua Ngân-Luân và các vua Luân-Vương khác nữa, đều từ ở mười phương đi tới.

Khi đó, Đức Thế-Tôn vừa nói xong pháp Đại-Thừa Vô-Y Hành, có vua Đế-Thích tên là Vô-Cấu-Sinh bạch Phật rằng :

" Lạy Đức Thế Tôn ! Con muốn hộ đời, Phật diệt độ về sau này, chúng sinh thời mạt-pháp nên cứu giúp bằng cách nào ?"

Phật bảo vua Đế-Thích rằng :"Có một vị Bồ-Tát gọi là DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG, mỗi ngày cứ buổi sáng sớm vào thiền định, rồi đi giáo hóa 6 ngã, cứu khổ ban vui. Nếu có người nào ở nơi Tam-đồ, được thấy hình tướng hoặc nghe danh hiệu Duyên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-Tát, thì được sinh Nhân Thiên hoặc sinh Tịnh-Độ. Nếu ở 3 ngã Thiện mà được nghe tên Duyên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-Tát thì được quả báo hiện tại, sau sinh về cõi Phật. Nghe tên còn thế nữa là chuyên lòng nhớ niệm, Tâm Nhãn sáng tỏ, quyết được thành tựu.

" Cũng thế Bồ-Tát lại ban cho Mười Phúc : một là nữ-nhân sinh nở dễ dàng, hai là thân căn đầy đủ, ba là trừ hết mọi bệnh, bốn là thọ mệnh lâu dài, năm là trí-tuệ thông minh, sáu là của báu dư dật, bảy là mọi người kính yêu, tám là thóc lúa được mùa, chín là thần minh gia hộ, mười là chứng đạo Bồ-đề ".

" Lại còn tám điều đáng sợ cũng trừ hết : một là mưa gió phải thời, hai là nứơc khác không dám khởi binh đến xâm chiếm, ba là trong nước không có giặc làm phản, bốn là không có tai nạn nhật-nguyệt thực, năm là các ngôi sao không biến điềm xấu, sáu là quỷ-thần không dám lại nhiễu hại, bảy là nạn đói khát không phát sinh, tám là nhân dân không tật bệnh ".

Phật bảo vua Đế-Thích : "Về đời sau đây, nếu có chúng-sinh nào thọ trì Kinh này và cung-kính cúng-dường Duyên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-Tát thì chỗ người ấy ở trong 5 do-tuần không có các tai-họa như ác mộng, ác tướng và mọi sự không hay, Quỷ Thần Vỏng-lượng, Quỷ Cưu-bàn-trà không dám tự tiện làm hại. Thần Thiên-Cẩu, Thần Thổ-Công, Thần Quang Thái-Tuế, Thần Núi, Thần Cây, Thần Sông Bể, Thần Nước, Thần Lửa, Thần Đói-Khát, Thần Mã, Thần Rắn, Thần Trí-nhớ, Thần Linh, Thần Đường, Thần Nhà-bếp... Những Quỷ Thần đó nếu nghe thấy Kinh này và danh-hiệu của Bồ-Tát thì nhả các tà khí, tự ngộ được Bản Không chứng đạo Bồ-đề ".
Khi bây giờ Đế-Thích bạch Phật rằng :

" Lạy Đức Thế-Tôn ! Ngài Duyên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-Tát ở trong sáu đường giáo-hóa chúng-sinh bằng cách nào mà chúng-sinh được độ ? "
Phật bảo vua Đế-Thích rằng :

" Thiện-nam-tử ! các Pháp không vắng không trụ ở tướng sinh-diệt, tùy duyên sinh ra, thân sắc không giống nhau mà tình-dục cũng vô lượng, đều độ khắp cả.

" Duyên-Mệnh Bồ-Tát hoặc hiện ra thân Phật hoặc hiện thân Bồ- Tát, hoặc hiện thân Bích-Chi Phật, hoặc hiện thân Thanh-Văn, hoặc hiện thân Phạm-Vương, hoặc hiện thân Đế-Thích, hoặc hiện thân Diệm-Ma-Vương, hoặc hiện thân Tỳ-Sa-môn, hoặc hiện thân Nhật Nguyệt, hoặc hiện thân Ngũ- tinh, hoặc hiện thân Thất-tinh, hoặc hiện thân Cửu- tinh, hoặc hiện thân Chuyển-Luân Thánh-Vương, hoặc hiện thân các Vua nước nhỏ, hoặc hiện thân Trưởng-giả, hoặc hiện thân Cư-sĩ, hoặc hiện thân Tể-quan, hoặc hiện thân Phụ-nữ, hoặc hiện thân Tỳ-Khưu, Tỳ- khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc hiện thân Trời, Rồng, Dạ-Xoa, Nhân và Phi Nhân, hoặc hiện thân Y-Vương, hoặc hiện thân Dược-thảo, hoặc hiện thân người đi buôn, hoặc hiện thân người nông-dân, hoặc hiện thân Tượng-vương, hoặc hiện thân Sư-tử vương, hoặc hiện thân Ngưu- vương, hoặc hiện thân Mã-hình, hoặc hiện thân Đại-địa, hoặc hiện thân Sơn-vương, hoặc hiện hình Đại-hải.

" Trong 3 cõi có 4 loài sinh và 5 hình, không loài nào không phải là thân Duyên-Mệnh Bồ-Tát biến hiện. Như thế là Tự Thể của Pháp-thân hiện ra. Hiện chân thân du hành 6 ngã độ thoát chúng- sinh, hay dùng một tâm thiện, phá 3 cõi hữu-lậu cũng bởi một thiện tâm.

" Nếu chúng-sinh đời vị-lai, không hay phát tâm tín hướng, hãy nên nhất tâm lễ-bái, cúng-dường Duyên-Mệnh Bồ-Tát thì dao gậy cũng không tới mình, thuốc độc cũng không hại nổi, bùa-chú yểm-mị, khỏi thị quỷ và những tà-thuật khác nữa, những tai-nạn ấy trở về họ phải chịu, cũng như ngữa mặt nhổ lên trời, ngược gió tung tro, hại lại bản-thân mình ".

Bấy giờ vua Đế-Thích lại bạch Phật rằng : "Lạy Đức Thế-Tôn ! Cớ sao gọi là Duyên-Mệnh Bồ-Tát ? Tướng đó như thế nào ? "

Phật bảo vua Đế Thích rằng :

" Thiện-Nam-Tử ! Bậc Chân Thiện Bồ-Tát thì Tâm sáng tỏ và viên mãn cho nên gọi là Như-Ý-Luân, Tâm không quản ngại nên gọi là Quán-Tự-Tại, Tâm không sinh-diệt nên gọi là Duyên-Mệnh, Tâm không tồi-phá nên gọi là Địa-Tạng, Tâm không biên-tế nên gọi là Đại Bồ-Tát, Tâm không sắc-tướng nên gọi là Ma-Ha-Tát. Các ông nên tín-thụ, tâm chớ phân biệt và cũng chớ quên mất ".
Bấy giờ đại-địa 6 thứ chấn động, Duyên-Mệnh Bồ-Tát từ đất xuất hiện lên, gối bên hữu quì thẳng, cánh tay và bàn tay ngang vai, gối bên tả duổi xuống, tay cầm tích-trượng mà bạch Phật rằng :
" Con mỗi ngày cứ buổi sáng sớm thì nhập thiền-định đi vào các địa-ngục, khiến cho chúng-sinh ly hết khổ nạn. Đời này và đời sau thế-giới nào không có Phật, con cũng có thể dẩn-dắt chỉ đường và tế-độ cho chúng. Nếu Phật diệt-độ về sau này, tất cả nam-nữ muốn được con ban phúc, không cần phải hỏi ngày xấu hay tốt, sạch hay không sạch, chỉ cần người ấy hiếu-dường với phụ-mẫu, kính thờ sư-trưởng, nói năng và khí-sắc lúc nào cũng thường hòa, không làm oan người dân, không giết hại sinh mệnh, không phạm tà-dâm. Nếu trong 10 ngày trai hay 6 ngày trai, ngày 18 hay 24 những nên tu-chính lấy tâm, chuyển đọc Kinh này và xưng danh-hiệu của con thì con lấy Pháp Nhãn và Uy Thần chuyển ngay nghiệp-báo khiến cho đuợc phúc-quả hiện tiền, chứng khỏi tội vô-gián lại được chứng đạo Bồ Đề.

" Con từ đời quá-khứ không biết bao nhiêu kiếp đến nay, thấy tất cả chúng sinh trong lục-đạo, đồng một thể pháp-tính, không trước không sau, không sai không khác, bởi nghiệp vô-minh mà thấy các tướng khác nhau, sanh trụ dị diệt, lúc được lúc mất, khởi niệm bất-thiện tạo mọi nghiệp ác, vòng quanh lục-thú, kiếp kiếp cùng làm cha-mẹ với nhau, đời đời cùng là anh-em quyến-thuộc hết, đều thành Phật cả.

" Sau khi con thành Phật, nếu còn sót một người nào chưa độ, con thề chưa thành Phật. Nếu chúng-sanh nào biết cái Nguyện của con, đời này và đời sau có sở-cầu điều gì, không được thỏa mản, thì con thề không thành Chánh-Giác ".

Khi đó Phật khen ngợi ông Duyên-Mệnh Bồ-Tát :

" Hay lắm thay ! Hay lắm thay ! Chân thiện-nam-tử ! Sau khi Ta diệt độ rồi, những chúng-sinh tội khổ ở đời ác mai sau phó-chúc cho ông. Đời này đời sau, dẩn-dắt khéo léo, chớ để chúng sinh sa vào ác thú bằng gảy móng tay, nữa là đọa vào địa-ngục A-tỳ vô-gián ".

Ngài Duyên-Mệnh Bồ-Tát bạch Phật rằng :

" Lạy Đức Thế Tôn ! Xin Thế-Tôn chớ lo, con sẽ cứu vớt chúng-sinh trong 6 ngã, nếu có chúng-sinh nào thống khổ, con sẽ chịu thay cho. Nếu không đúng thế, con thề không thành Chánh giác ".

Khi bấy giờ Thế Tôn lại lấy bài kệ mà khen rằng :-

" Hay thay ! Hay lắm thay !
Ông Duyên-Mệnh Bồ-Tát
Coi hữu tình như bạn
Chúng-sinh lúc sống thời
Ông sẽ là mệnh chúng
Chúng-sinh lúc chết thời
Ông lại làm đạo-sư
Chúng-sinh không hiểu biết
Vô phúc mà chết yểu
Ta diệt độ về sau
Ở trong thời Mạt Pháp
Quốc-độ nhiều tai khởi
Nhân Vương bất chính loạn
Giặc phương khác tiến lại
Đao binh thời chiến hậu
Sẽ nên nhớ tưởng niệm
Ông Duyên-Mệnh Bồ-Tát
Đời này và đời sau
Cầu gì không mản nguyện
Không đúng Ta thuyết Pháp
Thực là không có lý "

Bấy giờ tam-thiên đại-thiên thế-giới 6 lần chấn động. Ngài Văn- Thù Sư-Lợi Bồ-Tát, Ngài Phổ-Hiền Bồ-Tát, Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát, Ngài Hư-Không-Tạng Bồ-Tát, Ngài Thánh Quán Tự-Tại Bồ Tát Ma-Ha-Tát, các Ngài cùng lên tiếng khắc niệm mà bạch Phật rằng :
" Lạy Đức Thế Tôn ! Chúng sinh đời vị-lai, nếu nghe thấy Kinh này và Bồ-Tát Duyên-Mệnh, là chúng con cũng đều tùy-thuận người đó và hiện ở trước người đó, làm cho Tâm Nhãn thấy rõ, có cầu việc gì cũng được viên-mãn. Nếu không được như thế, thì chúng con thề không thành Chánh Giác ".
Khi đó, vua Phạm-Vương, vua Đế-thích, Tứ Đại Thiên-Vương, mưa các thứ thiên hoa cúng-dường Như-Lai, rồi bạch Phật rằng :

" Lạy Đức Thế Tôn ! Chúng sinh đời vị-lai, nếu cứ tự chính tâm mình, không tranh phải trái, không bó sự thưởng phạt, mà trì Kinh này và niệm danh-hiệu Duyên-Mệnh Bồ-Tát, chúng con và quyến-thuộc chúng con sẽ ủng hộ người đó, không rời ngày đêm, khiến cho cõi nước trong trăm do-tuần không có các tai-nạn, nhân-dân nước ấy đều được an-ổn, lúa tốt được mùa, cầu gì cũng đầy đủ. Nếu không như thế, thì chúng con không phải là người hộ-thế và cũng không bao trở lại được tính Bản Giác "

Lúc đó có hai Vị đồng-tử đứng hầu hai bên tả hữu, một người tên là Chưởng-Thiện đứng ở bên tả, mặc áo sắc trắng cầm hoa sen : Điều-Ngự Pháp-Tánh ; một vị tên là Chưởng-Ác đứng ở bên hữu, mặc áo sắc đỏ, cầm chày Kim-Cương : Hàng-Phục Vô-Minh. Phật bảo đại chúng :
" Hai vị đồng tử : Pháp-Tánh và Vô-Minh, cũng như hai tay và hai chân của Duyên-Mệnh Bồ-Tát, trong Tâm không động, cũng như bản-thể chữ A. Nếu có chúng-sinh nào biết được tâm đó, thì quyết định thành tựu, liền diệt tam-độc và được lực tự-tại, muốn nguyện sinh vào cõi Phật nào, tùy nguyện được sinh.

" Nếu đời vị-lai, tất cả chúng-sinh cung-kính cúng-dường Duyên- Mệnh Bồ-Tát không sinh nghi, hoặc đời hiện-tại cầu gì cũng được đầy đủ, sau sinh Tịnh-độ được Nhân vô-sinh ".
Phật thuyết Kinh này rồi, tất cả đại-hội Tâm rất vui mừng, tin chịu vâng làm.
Phật nói Kinh Duyên Mệnh Địa Tạng Bồ Tát xong.

KINH DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT--Hết.

(Ngài Bất Không Tam Tạng
phụng chiếu dịch)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 5 03/04/14 17:14 

Tác giả: Phlanhoa

Tôi đã có bài đăng “Đạo Phật giáo và Đạo Gia phong thuần Việt nên hiểu thế nào cho đúng?” nhằm phân tích rạch ròi các quan niệm duy tâm, giúp cho bà con có thể phân minh rạch ròi về vai trò của Trời đất - Phật - Thần – Thánh – Gia tiên. Nay nhân dịp thư nhàn đầu xuân, tôi xin đăng đàn để tiếp tục nội dung. Từ chỗ nhận định được vai trò, vị trí ảnh hưởng của thần thần linh, tôi sẽ giới thiệu với bà con một bài tổng thể về cách tự viết bài vị, tự lập bát hương, ai thì được thờ ai, cấp bậc nào? bài trí và khấn vái như thế nào đối với các gia đình không theo đạo Phật giáo.

Tôi nhấn mạnh bài này dành cho các gia đình không là đệ tử chay tịnh của Phật. Năm ngoái khi ba tôi hiển linh, đã có nhắc nhở con cháu rằng: “Các con đã không là đệ tử cửa Phật thực thụ (nghĩa là không phải người tu hành), thì khi cúng khấn, câu đầu tiên các con phải kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ nước Việt; sau đó kinh lạy các vị Việt Nam Thánh Quốc mới là phải đạo, còn việc nam mô...hãy để khi đi lễ chùa”. Đó là ba tôi nói vậy bởi ông có chí khí của một vị tướng lĩnh, nhưng trong lịch sử Việt Nam, từng có những vị trước và sau khi đăng ngôi, từng là đệ tử của chay tịnh, vậy thì việc “Nam mô a di đà…” cũng không có gì lỗi đạo cho lắm. Tuy nhiên, việc khấn vái phải theo trật tự trên dưới rõ ràng. Phật có nguồn gốc từ con người, cho nên dù có phép thần thông quảng đại đi chăng nữa, thì cũng không ngoài vòng cương tỏa của Trời - Đất. Vậy thì khi khấn vái phải lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ trước, rồi mới đến Phật. Tham khảo các bài sớ cúng của các dòng họ, tôi thấy các cụ xưa cũng thường theo trật tự: Chư Thiên – Chư Địa – chư Thần – Chư Phật - Chư thánh – Thành hoàng làng – Gia Tiên, không phải như con cháu bây giờ để Phật lên trước trời đất? Ví dụ: Con sám hối lạy chín phương trời, năm phương đất, chư Phật mười phương chẳng hạn…

Quay lại vấn đề chính đã nêu ra ở trên, để thờ cúng trong nhà bà con cần chuẩn bị những gì? - Xin thưa chúng ta cần:

1. Rường thờ

2. Hương án

3. Bài vị

4. Bát hương

5. Hoành phi

6. Đối liễn

7. Lễ vật (hương, đăng, hoa, quả, nước)

8. Sớ cúng

Và tôi sẽ giải thích ý nghĩa, phương cách thực hiện từng mục trên như sau:

1. Rường thờ: có nơi gọi là giường thờ, gọi là giường thờ vì giường thờ vốn có mành hoặc rèm che, là nơi nghỉ ngơi của linh hồn tiên tổ. Nhưng vì giường là thứ dành cho người phàm tục, sợ phạm húy với tổ tiên, nên nhân dân gọi chệch thành “rường” chỉ khi cần thắp hương mới vén rèm lên. Khi xong rồi thì phải kéo rèm che kín lại không cho khách khứa nhìn thấy hương án, ngoại trừ ba ngày tết.

Phía trước cửa rường thờ, hai bên là hai câu đối, bên trên cùng là hoành phi, bên trong là hương án (bàn thờ), rường thờ được chia làm hai bậc cao thấp, trái phải, bên trái cao hơn một chút thờ ngũ vị tài thần, bên phải thấp hơn một chút thờ gia tiên; Hoặc phía sau cao hơn thờ tài thần, phía trước thấp hơn thờ gia tiên.

2. Hương án(香案) : “Án” là cái bàn, “hương án” là cái bàn để bày lễ vật thắp hương, nhân dân gọi nôm na là bàn thờ. Hiện nay các nhà ít khi có mành che nên có thể nói là không còn rường thờ mà chỉ có bàn thờ (hương án).

3. Bài vị (簰位)

“Bài” là cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. “Vị” là chỗ đứng. “Bài vị” còn được gọi là “Thần chủ”, là một tấm thẻ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sinh, ngày chết, chức tước, quê quán, dùng để tế lễ và thờ phụng.

Cách viết chữ lên bài vị:

- Chức danh của vị gia tiên được thờ phụng, ví dụ: Cao tổ khảo (kị), hoặc Tằng tổ khảo (cụ), Tổ khảo (ông); Hiền khảo (cha)

- Chức tước và công danh (nếu có) của vị gia tiên được thờ phụng;

- Tuổi thọ: nếu từ 60 tuổi đổ lại thì ghi hưởng dương, từ 61 trở lên mới ghi hưởng thọ

- Vai vế trong dòng họ: Con trưởng thì ghi họ rồi thêm “mạnh công”, nếu là con thứ thì ghi họ rồi thêm “quý công”, sau đó mới tên huý của vị gia tiên.

Ví dụ:

- Hiền khảo / tiền đảng viên ĐCSVN-Đại tá quân đội nhân dân VN – Liệt sĩ chống Mỹ - Huân chương chiến công hạng nhất / hưởng dương ngụ tứ tuần Trần Mạnh Công tự Văn An phủ quân 1915 – 1968);

Xem thêm ở bài: “Cấu trúc thờ cúng trong nhà thờ họ và tổ chức tề lễ ”

4. Bát hương: Phương pháp làm bát hương hiện nay trong nhân dân thường phụ thuộc vào thầy cúng, hoặc thầy chùa. Có người nói sau khi làm bát hương phải được thầy chùa đem “Mật tông kinh” cầu nguyện làm phép mới linh, tôi e là không phải đối với những gia đình không là đệ tử cửa Phật?

Còn thầy cúng thì chẳng ai có thể kiểm nghiệm nổi thần thông quảng đại của thầy ở mức nào, mà chỉ thấy bát hương đắt đỏ thôi rồi, cho nên nhiều gia đình cũng than vãn “tiền mất tật mang”. Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa lên đây phương pháp sắm sanh bát hương, ai tin tôi cứ theo mà làm. Thiết nghĩ, đạo nghĩa đã dạy việc thờ cúng phải làm theo tiếng gọi từ lương tâm, linh hồn có thể xâm nhập được vào trong trí não của mình để lắng nghe hư thực, nên có thờ ắt có thiêng mà không nhất thiết phải có “Mật tông kinh”. Chỉ cần ấn định danh phận cho vị gia tiên muốn thờ trong bát hương là đủ, cách làm bát hương như sau:

Chọn mua bát hương: Tuỳ theo khả năng tài chính có thể chọn đồ gốm hoặc đồ đồng. chữ khắc trên bát hương nên chọn chữ “Phước”. Hình con vật nên chọn một cặp rồng - phượng cùng châu vào biểu tượng của thái cực (vòng tròn âm dương). Chọn như vậy thì âm dương mới hài hoà, mới hỗ trợ cho sự sinh tồn vững bền của dòng tộc. Nếu bát hương chưa có biểu tượng âm dương thì vẽ nó lên giấy rồi dán bên dưới bát hương. Bát hương mua về phải rửa sạch bằng nước thơm ngũ vị hương (có bán tại tiệm bán bát hương), lau khô;

Bỏ gì vào trong bát hương?

- Thần sa, chu sa : theo quan niệm của người xưa, thần sa, chu sa có khả năng từ tà khí, nghĩa là bát hương thỉnh cho vị gia tiên nào thì vị gia tiên đó hiển nhiên là chính khí hiển linh, tà khí không vào phá bát hương được. Thần sa, chu sa bà con có thể tìm đến tiệm thuốc đông y để mua, tuy nhiên tuyệt đối không được bỏ nhiều, mỗi bát hương chỉ khoảng 1 – 2gr

- Tro: Dùng rơm sạch để đốt lấy tro, ở thành phố không có rơm thì mua thật nhiều hương về đốt lấy tro.

- Một chùm tua rua ngũ sắc nhỏ kết bằng 5 sợi chỉ năm màu;

- Một tờ giấy mộc nhuộm đỏ viết nội dung giống như trên bài vị, nếu vị gia tiên được thờ phụng có mộ thì tốt nhất xin một chút đất mộ và rút ba chân hương ở mộ rước về càng linh; Nếu là bát hương chung thì lập danh sách tất cả những người muốn thờ cũng theo nội dung bài vị, hoặc ghi chung “Gia tộc hoặc chi tộc…(họ: Nguyễn Văn, Lê Huy…) bài vị linh thần”, rồi ghi thêm “Phúc lộc thọ toàn”;

- Đối với “thất bảo”, tôi chỉ thấy ở miền Nam ảnh hưởng của đạo Cao Đài, còn như Xứ Nghệ An đổ ra thì không có món này.

Gấp bài vị cho vuông vắn lại, rồi dùng một mảnh giấy trang kim (giấy kẽm tráng kim tuyến vàng mục đích là nhỡ có bị cháy cội hương, lớp giấy kẽm sẽ bảo vệ để bài vị không bị cháy lẫn vào cốt tro bên ngoài) gói tất cả các thứ: đất mộ, tiền, chỉ ngũ sắc, giấy bài vị, thần sa, chu sa tán bột mịn để vào, gói tờ giấy trang kim lại cho vuông vắn, để xuống dưới đáy bát hương, sau đó mới đổ tro lên cho đầy. Cắm 3 cội hương rước tứ ngoài mộ về, lau sạch bên ngoài và để trang nghiêm lên hương án, phía trước bài vị.

Chú ý: bát hương mỗi khi được định vị trên hương án rồi thì kiêng kỵ bị xê dịch vị trí, gia đạo sẽ gặp chuyện chẳng hay. Do đó, nếu cẩn thận thì nên dùng keo hai mặt dính chặt xuống. mỗi năm chỉ được sửa sang bát hương từ sau 23 – 30 tháng chạp mà thôi.

Bát hương thờ ngũ vị tài thần theo phong tục thuần Việt hoàn toàn không giống với Trung Quốc, ngũ vị tài thần của Việt Nam là Hoàng thiên, Hậu thổ, là vua trời vua đất của nước Việt và ba vị tam tài Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân chủ về cơm no áo ấm, sức khoẻ; Thổ địa long mạch tôn thần chủ về đất đai long mạch và sự tiềm ẩn của cải sinh sôi; Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần chủ về tiền tài, thóc gạo đã thu hoạch, gặt hái về (tôi đã có nói trong bài thờ cúng táo quân).

Đối với bát hương thờ ngũ vị tài thần, đứng trong khuôn viên nhà mình mà nhìn ra cổng thì bên trái là long mạch, đào sâu xuống đến khi đụng phải nước, lấy một chút đất lẫn nước ở đó, cùng với một chút tro giữa lòng bếp hợp lại trộn với thần sa, chu sa rồi cũng gói vào tờ giấy trang kim với tiền âm dương, tua rua ngũ sắc mà để xuống đáy bát hương trước khi đổ tro lên cho đầy.

Lập bát hương cho người mới mất: Thủ tập lập bát hương như đã hướng dẫn trên. Sau đó giờ Tý nửa đêm, đem bát hương ra để trên nóc nhà để gọi nhập hồn. Cách khấn như sau:

- Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ

- Kính lạy Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân Thổ địa long mạch tôn thần Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần

- Kính lạy Thanh hoàng bản xứ... (tên địa phương cư ngụ)...

- Kính lạy Gia tiên nhà..... (Nguyễn Trọng, Lê Huy....chẳng hạn)...

Cho phép hồn về nhập nơi cư ngụ!

Tiếp đến, cầm năm hương lạy bốn phương tám hương xong thì bắt đầu gọi hồn:

- Hú ba hồn bảy (chín) vía ...(họ tên người chết)... về nơi cư ngụ! (một lần gọi xong thì tách một cây hương huơ một vòng tròn lên trời rồi cắm vào bát hương. Nếu người chết là nam thì gọi 7 lần; nếu người chết là nữ thì gọi 9 lần. Gọi đủ số lần thì đem bát hương để vào vị trí bàn thờ lập cho người mới chết).

Bát hương của người mới chết phải chờ hết khó mới được nhập vào bàn thờ gia tiên.

Thủ tục nhập bát hương của người hết khó vào bàn thờ gia tiên:

Bước 1: Làm lễ cẩn cáo với gia tiên để xin phép

Bước 2: Hoặc là đem nguyên bát hương của người hết khó để lên vị trí được quy định cấp bậc trên bàn thờ gia tiên; hoặc là chỉ rút phần cốt hương và ba cội hương từ bát hương của người mới chết nhập vào bát hương thơ chung của gia tiên. Bát hương cũ đem thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất. Coi như hoàn tất thủ tục nhập.

Mỗi nhà chỉ nên có 2 - 3 bát hương trên một rường thờ mà thôi: Một bát thờ ngũ vị tài thần để ở vị trí cáo nhất; Một bát thờ gia tiên, Một bát hương thờ bà cô ông mãnh; gia đình nào mà dân chủ thì lập thêm một bát thờ đàng ngoại, bát hương này để ở vị trí thấp hơn một chút so với bên nội. Tuy nhiên tôi cung nói rõ, nếu gia đình cư ngụ trên đất hương hoả của nhà nội, thì không thờ ngoại được, mà chỉ có những cặp vợ chồng tự mua đất tạo dựng cơ nghiệp thì mới có thể thờ ngoại.

Việc lập bát hương thờ phụng phải chọn ngày lành tháng tốt. Có nhiều cách để chọn ngày, nhưng kinh nghiệm của tôi thì lấy ngũ hành tương khắc tương sinh làm trọng. Trước hết bà con căn cứ vào ngũ hành để chọn ngày sinh nhập cho gia chủ. Ví dụ gia chủ mạng kim thì chọn ngày thổ, gia chủ mạng thổ thì chọn ngày hoả, gia chủ mạng hoả thì chọn ngày mộc. Chọn ngũ hành thôi chưa đủ, ngày ngũ hành đó còn phải là ngày có ngôi sao hoàng đạo, riêng đối với việc lập bát hương thờ phụng này ta nên chọn ngày / giờ có ngôi sao Tư mệnh chủ về sự phúc đức để khởi sự sẽ được phúc đức lâu bền. Đặc biệt việc khởi tạo thờ phụng mà vòng định sinh của gia chủ rơi vào cung phúc đức hay thiên y thì sự linh thiêng sẽ tăng gấp bội.

5. Hoành phi: là vật trang trí bên ngoài cho thêm phần trang trọng, cho nên có thì đẹp đẽ hơn lên, còn như chưa có điều kiện thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng cả, đối liễn cũng vậy. Hoành phi còn gọi là “biển”, “bức hoành”, vốn là một bức thư họa. thay vì đối liễn được viết dọc, thì hoành phi được viết ngang, dạng như một câu khẩu hiệu ngắn khoảng 3 – 5 chữ treo ở phòng khách, nhà thờ…Thông thường hoành phi trang trí ngang bên trên, còn hai câu đối được treo dựng hai bên, ví dụ bức hoành phi dưới đây được treo ở bàn thờ gia tiên, hoặc ở nhà thờ tổ:


光留德

Đức lưu quang

(Đức độ tỏa sáng)

6. Đối liễn: Hay còn gọi là câu “đối liên” là những câu chữ Hán hay chữ Nôm, có nơi dùng chữ quốc ngữ viết từng cặp dọc đi đôi, và ý nghĩa cũng đi đôi, thể hiện trên chất liệu vải, gỗ, hoặc giấy, ví dụ như một số câu đối sau đây:

Mộc xuất thiên chi do hữu bản

Thủy lưu vạn phái tổ tùng nguyên

(Cây chung ngàn nhánh sinh từ gốc

Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn)

Hoặc là:

Nhật nguyệt quang chiếu thập phương

Tổ tông lưu thùy vạn tuế

(Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ

Đức Tổ Tông muôn thuở sáng ngời)

Ái Quốc mạc vọng Tổ

Nhân dân tiên mục thân

(Yêu nước chớ nên quên Tổ tiên

Thương dân trước phải hòa thân thích)

7. Lễ vật:

- Thứ bắt buộc phải có khi thắp hương : Hương – đăng (đèn) – hoa – ngũ quả - nước (5 chén + một bình)

- Vàng tiền thì cúng đốt vào các dịp trọng đại như tết, giỗ, ngoài ra thì rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười. Khi cúng tiền vàng, phải ghi rõ tên của vị gia tiên được hưởng lộc trước khi hoá vàng.

- Đối với cỗ mặn, to nhỏ tuỳ tâm và tuỳ khả năng tài chính của gia chủ, nhưng chỉ nên bày lên mâm, đặt lên một cái bàn riêng rẽ để phía trước bàn thờ với đầy đủ bát, đũa, thìa, muỗng, chén uống rượu như thể dọn mâm tiệc đãi khách. Chờ cho cháy hết 2/3 chân hương thì con cháu được phép phá cỗ.

8. Sớ cúng: Tôi có xem dăm ba cái sớ cúng của các dòng họ ở Nghệ Tĩnh, Tất cả đều một phom mẫu như nhau nội dung thế này:

Sớ Khấn lạy Trời Phật Thần Thánh

(mẫu)

Duy!

Việt Nam Cộng Sản Hoàng Triều

Nhâm Thìn Niên tuế, Đinh Mùi nguyệt (tháng), ……Nhật (ngày), …..Khắc (giờ)….

… tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc …(họ)…Từ đường gia tộc)

Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên Hậu thổ (một vái)

Con kính lạy! Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân - Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần - Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần (một vái)

Con kính lạy các Chư vị Việt Nam Thánh Quốc

Con kính lạy Thành hoàng bản địa.... (tên địa phương)...

Tín chủ con là:

…. và gia quyến, cùng nhất tâm cúi lạy Chư Thiên, Chư Địa, Chư Thần, Chư Phật, Chư Thánh;

Cúi lạy Thành hoàng bản thổ đại vương thần thánh gia ân, cho phép gia quyến chúng con được mời Tổ tiên của chúng con về tại địa chỉ: … tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc Lê / Nguyễn / Trần.... Từ đường gia tộc) để bàn bạc việc gia đình đại sự là …

Lòng thành lễ mọn, hương đăng, hoa quả, trà rượu, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét cho chúng con được thể theo sở nguyện. Đồng thời cúi xin linh thiêng phù hộ độ trì cho chúng con khởi sự dược hanh thông mọi bề, phúc đức an lành, gia đạo vẹn toàn như ý.



Cẩn cáo ! (Ba lạy)



Sớ khấn gia tiên

(Mẫu: Sau khi khấn Trời Phật Thần Thánh)



Cận di phỉ lệ chi nghi cảm kính cáo vu:

(Hoặc nói theo Quốc Ngữ: Hương đăng hoa quả thanh tước chi nghi lên trước linh đài kính cẩn báo cáo!)

- Tằng Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê (Nguyễn/Võ/Trần…) mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy cố nội)…thụy chất trực phủ quân

- Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà cố nội)…từ thuận phu nhân

- Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân

- Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà nội)…từ thuận phu nhân

- Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân

- Hiền khảo (cha) ….xướng như trên bài vị….

- Hiền tỉ (mẹ)… xướng như trên bài vị

Hậu duệ con là Lê/Nguyễn/Bùi quý công … (tên đệm và tên chủ nhà)…cùng toàn thể gia quyến. Nay nhân …( lý do cúng: giỗ / rằm…)…

Cây có cội, nước có nguồn, ơn Tiên Tổ vun trồng công đức.

Lòng thành lễ mọn, hương, đăng, hoa, quả, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng. Cúi xin các Vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo / Cao, Tằng, Tổ, Tỉ, cùng các vị Đường Bá (bác), Đường Thúc (chú), Đường Cô (cô), Bào Huynh (anh trai), Bào Đệ (em trai)… chứng giám lòng thành, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm, cho phép tín chủ được cử hành lễ …

Muôn vàn đội ơn Gia tiên linh thiêng phù hộ độ trì cho hậu duệ cháu con được muôn đời Tấn phúc, tấn lộc, tấn tài, tấn bình an, gia đạo vạn sự vẹn toàn như ý!

Cẩn cáo !

9. Ai thì được thờ ai? Tôi đã có bài về tại sao người Việt Nam nhận mình là con của Rồng, nhân đây tôi cũng nói luôn vì sao chúng ta lại là cháu tiên?

Chúng tai ai mà không thường được nghe hàng ngày hai chữ “gia tiên”. Vậy thì thiết nghĩ cũng nên có kiến thức hiểu biết xem “tiên” là ai?

Tiên của người Việt không phải là các tiên nữ ở trên thượng đế. Người Việt gọi chức danh của những người đã khuất trong bài sớ như sau:

- Cha/mẹ thì gọi là hiền khảo/hiền tỉ

- Ông/bà thì gọi là tổ khảo/tổ tỉ

- Cụ thì gọi là tằng tổ khảo/tằng tổ tỉ

- Kị thì gọi là cao tổ khảo/cao tổ tỉ

- Và từ vị thân sinh của cao tổ khảo đồ về trước đến đời thứ 2 được gọi là tiên tổ khảo

- Đời thứ nhất gọi là thuỷ tổ

Như vậy thì đã rõ tiên là ai, và tập quán người Việt quy định cấp bậc được phép thờ phụng tiên tổ như sau:

- Trưởng tộc: phải thờ tất cả từ thuỷ tổ - tiên tổ - cao - tằng - tổ - khảo đổ xuống,

- Trưởng chi họ: phải thờ 4 đời gồm : Cao tổ - tằng tổ - tổ - khảo (cao tổ được lên tiên khi trong chi họ có thế hệ thờ cúng mới, ví dụ khảo chết thì con trưởng đảm nhiệm ngôi vị thờ cúng, lúc đó Cao tổ khảo được rước bài vị sang nhà thờ tộc để làm lễ lên tiên. Nếu dòng họ nào chưa có nơi thờ tự dòng tộc chính thống, thì bài vị tiên tổ được xếp cất vào một hòm gỗ không tiếp tục thờ phụng nữa);

- Con trưởng trong gia đình thì thờ 3 đời: Tằng – tổ - khảo

- Con thứ trong gia đình thì chỉ thờ khảo, hoặc tổ - khảo mà thôi

Như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giới thiệu về phương pháp thờ cúng trong gia đình. Hy vọng ai đã quan tâm thì nên đọc cho kỹ, hiểu cho thấu đáo để thờ phụng cho đúng ý nghĩa, thoát khỏi sự u mê của các thầy cúng bày trò dị đoan lừa tiền dân chúng. Tu tâm mà giữ lấy cái chân thiện mỹ, cái phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời

(Sưu Tầm)

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 01/04/14 16:59 

Xin Quý vị chỉ cần nhớ :

* Ðêm Bảy : ngủ trên 7 giờ trong một đêm

* Ngày Ba : một ngày ăn ba bữa hay nhiều hơn.

* Vô ra không tính : mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước.

1. Câu châm ngôn thứ nhất:

“Trong thiên hạ, không có chuyện làm biếng mà có thể có một thân thể khỏe mạnh.”

2. Câu châm ngôn thứ hai:

-Ði với những việc không vui vẻ của dĩ vãng và nghịch cảnh, không thấy khó chịu.
-Ðối với những ngày sắp tới không có ước vọng quá cao, nhưng luôn cầu bình an hạnh phúc.

Ba DƯỠNG

1. Bảo dưỡng.
2. Dinh dưỡng.
3. Tu dưỡng.

Bốn QUÊN

1. Quên tuổi tác.
2. Quên tiền tài.
3. Quên con cái.
4. Quên buồn phiền.

Năm PHÚC

1. Có thân thể mạnh khỏe, gọi là phúc.
2. Có vui thú đọc sách, gọi là phúc.
3. Có bạn bè tri kỷ, gọi là phúc.
4. Có người nhớ đến anh, gọi là phúc.
5. Làm những việc mà mình thích làm, gọi là phúc.

Sáu VUI

1. Một vui là hưu nhưng không nghĩ.
2. Hai vui là con cái độc lập.
3. Ba vui là vô dục tắc cương.
4. Bốn vui là vui vẻ vấn tâm mà không xấu hổ..
5. Năm vui là có nhiều bạn hữu.
6. Sáu vui là tâm tình không già.

Bẩy SUNG SƯỚNG

1. Biết đủ thường sung sướng.
2. Biết giải trí khi nhàn rỗi.
3. Biết đắc chí tìm niềm vui.
4. Khi cấp thời biết tìm niềm vui.
5. Biết dùng người làm vui.
6. Biết vui khi hành thiện.
7. Bình an là vui nhất.

Tám CHÚT XÍU

1. Miệng ngọt ngào thêm một chút nữa.
2. Ðầu óc hoạt động thêm một chút nữa.
3. Nóng giận ít thêm một chút nữa.
4. Ðộ lượng nhiều hơn một chútnữa.
5. Lòng rộng rãi thêm một chút nữa.
6. Làm việc nhiều thêm một chút nữa.
7. Nói năng nhẹ nhàng thêm chút xíu nữa.
8. Mĩm cười nhiều thêm chút nữa.

Chín THƯỜNG

1. Răng thường ngậm.
2. Nước miếng thường nuốt.
3. Mũi thường vê.
4. Mắt thường động.
5. Mặt thường lau.
6. Chân thường xoa (bóp).
7. Bụng thường xoay.
8. Chi thường vươn.
9. Hậu môn thường co bóp.

MƯỜI NGUYÊN TẮC KHỎE MẠNH

1. Ít thịt, nhiều rau.
2. Ít mặn, nhiều chua.
3. Ít đường, nhiều trái cây.
4. Ít ăn, nhai nhiều.
5.Ít áo, tắm nhiều.
6. Ít nói, làm nhiều.
7. Ít muốn, bố thí nhiều.
8. Ít ưu tư, ngủ nhiều hơn.
9. Ít đi xe, đi bộ nhiều.
10. Ít nóng giận, cười nhiều hơn.

Lưu ý 10 điều trên nếu thấy quá nhiều và khó nhớ. Xin Quý vị chỉ cần nhớ :

- Ðêm Bảy : ngủ trên 7 giờ trong một đêm.
- Ngày Ba : một ngày ăn ba bữa hay nhiều hơn.
- Vô ra không tính : mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước.

(ST)
Bạn đang xem trang 1 / 2 trang [ Đã tìm thấy 35 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh