Hôm nay, Thứ 3 02/06/20 12:48

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 8 kết quả

Người gửi Nội dung

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Đức Phật A-di-đà là ai?
Đã gửi: Thứ 4 10/07/13 19:28 

Đức Phật A-di-đà là ai?

Trong cuộc sống hàng ngày của dân gian, chúng ta rất quen thuộc với nhóm từ “Nam mô A Di Đà Phật” Vậy nhóm từ đó có ý nghĩa là gì ? Muốn hiểu tường tận ý nghĩa nhóm từ đó, chúng ta phải có một trình độ khá cao về khoa học.
Nam mô có nguồn gốc là từ Namah (tiếng Phạn) hoặc Namo (tiếng Pali) có nghĩa quy y, kính lạy, quy phục, đem mình về với. Nam mô A Di Đà Phật (南 無 阿 彌 陀 佛, chú ý chữ 無 phải đọc là mô chứ không phải vô) là Hán dịch từ tiếng Phạn Namah Amitabhàya buddhàya có nghĩa là quy y Đức Phật A Di Đà.
A Di Đà (zh. 阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: amitābha và amitāyus. Amitābha dịch nghĩa là “vô lượng quang” – “ánh sáng vô lượng”; amitāyus có nghĩa là “vô lượng thọ” – “thọ mệnh vô lượng”.
A Di Đà được thế gian hình tượng hóa thành vị Phật của thế giới Tây phương cực lạc, nơi chỉ có vui mà không có khổ.
Vô lượng quang biểu hiện ý nghĩa không gian vô tận, cùng khắp không gian. Vô lượng thọ biểu hiện thời gian vô cùng, thời gian không giới hạn. Các ý nghĩa này là muốn hiển thị Tâm linh bất nhị của Đạo Phật. Bất nhị cũng không phải là một, mà là không có số lượng. Cùng khắp không gian, cùng khắp thời gian và không có số lượng, đó mới là ý nghĩa thực sự của danh xưng A-Di Đà tức là vô lượng quang, vô lượng thọ. Cùng khắp không gian, cùng khắp thời gian, không có số lượng cũng có nghĩa là không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, đó là vì Tâm như hư không vô sở hữu hay Phật tánh bất nhị, bất biến, bất sinh bất diệt, cũng có nghĩa là Niết Bàn (Nirvana).
Phật (Buddhàya) không phải là một vị thần linh, mà chỉ là một người giác ngộ, tự mình thân chứng bản tâm bất nhị là bản thể của vũ trụ vạn vật. Kinh điển Phật giáo nói rằng khi Đức Phật Thích Ca ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề, thì các thần thông, là những thuộc tính vốn có của tâm giác ngộ, hiện ra đầy đủ, nên: Về mặt không gian Ngài nhìn thấy suốt cả Tam thiên đại thiên thế giới, còn gọi là Tam giới tức là Ba cõi thế giới, bao gồm Dục giới [欲 界 sa.(tiếng sanskrit) kāmaloka, thế giới mà chúng ta đang sống]; Sắc giới [色界, sa. rūpaloka thế giới cõi trời nơi chúng sinh có thọ mạng lâu dài hơn cõi thế gian] và Vô Sắc giới [無色界, sa. arūpaloka, thế giới nơi chúng sinh không còn thân thể vật chất mà chỉ còn tinh thần, ý thức]. Về mặt thời gian, Ngài nhìn thấy suốt cả quá khứ vị lai không có bắt đầu, không có kết thúc. Về mặt số lượng, Ngài nhìn thấy vô lượng vô biên thế giới, vật thể, chúng sinh, không phân biệt lớn nhỏ, từ vũ trụ bao la đến thế giới vi mô của những vật thể cực kỳ nhỏ bé mà ngày xưa không có danh từ diễn tả, nên tạm gọi là vi trần (hạt bụi nhỏ). Thật ra Ngài nhìn thấy cả thế giới hạ nguyên tử ( Sub Atomic) thấy cả những vật thể như hạt quark, electron, neutrino. Cái thấy đó vô cùng siêu việt, Ngài nhận ra cả những khoảnh khắc thời gian cực ngắn gọi là sát-na nhiều lần nhỏ hơn một giây đồng hồ (second). Đó gọi là chánh biến tri, biết cùng khắp không gian thời gian. Vì sao cái biết lại tuyệt đối như vậy ? Bởi vì Thích Ca chính là Tâm bất nhị, chính là Tam giới. Bộ Kinh Thành Duy Thức Luận (成唯識論 ) của ngài Huyền Trang dịch, đã tổng kết : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Tức là cái vũ trụ tưởng đâu là ở bên ngoài, độc lập khách quan, cũng chỉ là biến hiện của Tâm mà thôi. Cái tâm linh giác ngộ đó, mọi chúng sinh đều có sẵn, và không hề thua kém chút nào so với Phật Thích Ca, bởi vì đều chung một Tâm bất nhị, nhưng vì mê muội chạy theo thế giới vật chất nhỏ bé tầm thường, chúng không “ngộ” được mà thôi, và vì không giác ngộ nên chúng trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi đầy đau khổ. Đức Phật thấu hiểu tính chất trống rỗng của nguyên tử vật chất, một điều mà phải đến cuối thế kỷ 20, nghĩa là 25 thế kỷ sau thời Đức Phật, những nhà bác học hàng đầu của nhân loại mới hiểu, khi họ khám phá ra hạt quark với đặc tính lạ lùng.
Một hạt quark đơn lẻ không tồn tại, phải 3 hạt quark hợp lại mới thành lập được hạt proton hoặc hạt neutron, đây là 2 thành phần của hạt nhân nguyên tử. Rồi các điện tử (electron) xoay quanh hạt nhân tạo thành nguyên tử vật chất, rồi các nguyên tử của 4 loại nguyên tố C, H, O, N tạo thành các phân tử hữu cơ, từ đó hình thành sinh vật và con người. Nhưng quark và electron cũng như tất cả mọi hạt cơ bản khác (subatomic particles) cũng chỉ là hạt ảo. Do đó cái vũ trụ hình thành từ hạt ảo chỉ có trong tâm tưởng chứ không phải sự thật khách quan ở bên ngoài. Chính vì Đức Phật hiểu bản chất trống rỗng của nguyên tử, Ngài mới đưa ra thuyết triết học tánh không Śūnyatā (Emptiness) của vạn vật. Tại sao từ bản chất là không lại xuất hiện thế giới, vũ trụ, vạn vật ? Đó là do trùng trùng duyên khởi, sự kết hợp có điều kiện mà hạt nhân đầu tiên lại không thể khẳng định, chẳng hạn một hạt quark thì không tồn tại, nhưng 3 hạt quark hợp lại thì xuất hiện hạt proton hoặc hạt neutron, để rồi từ đó hình thành nguyên tử và vạn vật. Đức Phật tạm đưa ra thuyết “thập nhị nhân duyên” để giải thích sự hình thành của vật chất và sinh vật trong đó có con người. Ngày nay với việc phát minh ra máy vi tính, con người đã chứng minh một cách rõ ràng rằng những hiện tượng ảo trên màn hình vi tính như : hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chữ viết v.v… chỉ là trùng trùng duyên khởi của điện tử (electron) quy về hai trạng thái của dòng điện, có dòng điện chạy qua (số 1), không có dòng điện chạy qua (số 0), từ đó hình thành kỹ thuật số theo hệ thống nhị phân, và phát triển thành công nghệ thông tin với vô số ứng dụng như hiện nay.
Trở lại với thế giới đời thường, Đức Phật thấy rằng tất cả sơn hà đại địa, nhà cửa lâu đài, vạn vật, con người đều chỉ là nhân duyên (sự kết hợp có điều kiện) của cái không (trống rỗng không là gì cả, cái hư không vô sở hữu (không phải là sự thật tuyệt đối). Chỉ có cái bản tâm bất nhị, bất biến, bất sinh bất diệt, vô ngã (không phân biệt ta và người), vô lượng (không có số lượng), tuyệt đối ( vô phân biệt, không có các cặp phạm trù mâu thuẫn) mới đích thực là mình, tất cả chúng sinh đều có chung một tâm đó. Vì thế Ngài nói rằng : tất cả chúng sinh đều là Phật đã thành (chứ không phải sẽ thành) bởi vì cái bản tâm đó đã sẵn có (trước khi vũ trụ được thành lập) chỉ cần buông bỏ cái tâm nhỏ hẹp, mê muội, chấp trước (không phải là mình thật) để hòa nhập vào cái tâm vô lượng quang, vô lượng thọ (tức A Di Đà), cái đó còn gọi là Niết Bàn 涅槃, sa. nirvāṇa tức là bất sinh bất diệt hay là không còn sinh diệt (diệt tận 滅盡).
Những kiến giải của Đức Phật về thế giới đã được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay thừa nhận. Kể sơ như sau :
Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).
Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức người phát minh ra nguyên lý bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật)
Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).
Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại)
Stephen Hawking (nhà toán học và vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết) nói : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiên hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘hiện tiền’ ).
Thế giới lượng tử (quantum world) là thế giới nào ? Đó cũng chính là thế giới vật chất, sinh học và tâm lý mà chúng ta đang sống chứ chẳng phải thế giới nào khác. Vấn đề không gian, thời gian, số lượng là không có thật, cũng được hiện tượng rối lượng tử chứng minh một cách rõ ràng, cụ thể và chắc chắn.
Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) mới được khoa học chứng thực gần đây là thực nghiệm tiêu biểu xác nhận tính tương đối của không gian, thời gian và số lượng, tức là cả ba đại lượng trên đều không độc lập tồn tại. Hiện tượng rối lượng tử là hiện tượng các hạt cơ bản như photon, electron, proton, neutron, và kể cả nguyên tử, có thể xuất hiện đồng thời tại hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khiến người quan sát không thể xác định chúng là một hạt cùng lúc ở nhiều vị trí, hay là nhiều hạt giống hệt nhau ở tại các vị trí khác nhau. Nhưng điều quan trọng là nếu có sự biến đổi của một hạt ở vị trí này thì tất cả các vị trí khác đều biến đối y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách bao xa. Nicolas Gisin, nhà vật lý của Đại học Geneve phát biểu : “điều thú vị ở đây là tự nhiên có thể tạo ra các sự kiện cùng xuất hiện ở nhiều địa điểm”
Năm 2002, nhà vật lý Australia gốc Trung Quốc Ping Koy Lam cùng cộng sự tại Đại học Quốc gia Australia ở Canberra (ANU) đã thực hiện thành công thí nghiệm chuyển thông tin theo nguyên lý hoàn toàn mới dựa trên “tương tác ma quỷ” (spooky action at a distance) tức hiện tượng rối lượng tử, của các quang tử (photon). Đúng vào lúc một chùm laser chứa những dữ liệu thông tin nhất định bị huỷ tại một vị trí trong phòng thí nghiệm, thì nhóm của Lam đã thấy xuất hiện một chùm laser khác giống hệt như thế tại một vị trí khác cách vị trí ban đầu 1 mét. Mặc dù chùm sáng không hề chuyển động từ điểm này đến điểm kia nhưng vì hai chùm sáng giống hệt nhau nên người quan sát có cảm tưởng rằng, chùm sáng đã được di chuyển tức thời, từ điểm này đến điểm kia.
Trong một thí nghiệm khác gần đây hơn, các nhà khoa học tại Geneve, Thụy Sĩ tạo ra những cặp photon hoặc các gói ánh sáng. Chúng được chia ra rồi truyền qua cáp quang được Swisscom cung cấp, đến hai trạm tại hai ngôi làng thuộc Thụy Sĩ cách nhau khoảng 11 dặm (18 kilômét). Các trạm khẳng định rằng từng cặp photon vẫn kết nối với nhau – bằng cách phân tích một photon, các nhà khoa học có thể dự đoán tính chất của photon kia. Hai photon đã tương tác với nhau một cách tức thời. Nếu cho rằng hai photon đã chuyển tín hiệu cho nhau thì tín hiệu đó phải di chuyển với tốc độ không tưởng, gấp hàng vạn, hàng triệu lần tốc độ ánh sáng.
Hiện tượng rối lượng tử xác định rõ ràng rằng không gian, thời gian và số lượng là không có thật, các đại lượng này chỉ phát sinh trong tâm thức của người quan sát khi có đủ điều kiện. Khoa học hiện đại hiểu rằng người quan sát có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hiện tượng. Nhận thức này đối với giới khoa học là mới, nhưng đối với Phật giáo thì không mới vì đã được nói tới từ lâu trong kinh điển. Ngày nay chúng ta chẳng những giải ngộ được không gian, thời gian, số lượng là không có thật mà còn thực nghiệm được, nhờ vào thế giới ảo của điều khiển học (cybernetics) và internet. Chẳng hạn những dòng chữ này, bài viết này, có thể đến với các bạn ở bất cứ nơi nào trên thế giới, bất cứ lúc nào, không tùy thuộc vào vị trí mà bạn đang ngồi (nghĩa là khoảng cách không gian không có thật) miễn có đủ nhân duyên. Nhân duyên là bạn có một máy vi tính nối mạng hoặc một thiết bị cầm tay (laptop, netbook, smartphone, ipad hoặc máy tính bảng, có hỗ trợ wifi hoặc 3G). Bạn hoàn toàn có thể đọc bài viết, nghe audio, xem video. Tất cả vô ngại. Tuy nhiên, thực tế vẫn có thể trở ngại khi wifi hoặc 3G không đủ mạnh, hoặc thiết bị không hỗ trợ đầy đủ. Điều này cũng giống như chúng sinh bị vô minh, sở tri chướng che khuất, không diệu dụng được đầy đủ khả năng như Đức Phật, không phải vì khả năng kém hơn Đức Phật, chỉ vì bị quá nhiều che khuất.
Song bởi vì đa số chúng sinh không đủ lòng tin ở tự tâm của mình là Phật, là giác ngộ, vì đã nhiều đời nhiều kiếp sống trong mê lầm, giống như một kẻ bần cùng rách rưới, lê tấm thân nghèo khổ đi ăn mày, không biết, không tin rằng trong người mình có một viên ngọc như ý vô cùng quý giá, muốn gì được nấy, nên không thể đem ra dùng. Do đó Đức Phật mới bày ra tám vạn bốn ngàn pháp môn để thích ứng với từng loại căn cơ mê muội của chúng sinh, trong đó có pháp môn Niệm Phật còn gọi Tịnh Độ Tông (淨土宗 chữ 土 trường hợp này đọc là độ, không đọc là thổ) người tu cứ niệm Nam mô A Di Đà Phật để cầu vãng sinh về cõi giới Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà, cõi giới đó không còn sinh tử luân hồi, nên chúng sinh được an tâm tu hành cho đến giác ngộ. Thật ra đó chỉ là một thứ Hóa Thành Dụ (một tòa thành ảo giả lập để dẫn dắt người tu vào tạm trú vì đường đi quá xa) chứ không phải cứu cánh đích thực, bởi vì ngay danh xưng A Di Đà đã cho thấy chỗ đến là tâm giác ngộ cùng khắp không gian thời gian, A Di Đà không phải là ai xa lạ, chính là bản tâm của mỗi người.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 7 20/08/11 1:34 

Mật Giáo được thuyết minh do Đức Thích Tôn Như Lai hay Đại Nhật Như Lai, chuyển danh là Đại Tỳ-lô-giá-na Phật (Phạn ngữ: MAHAVAROCANA) Pháp thân của Ngài Phổ Hiền Bồ-tát (SAMANTABHADRA), thị giả của Đức Thích-ca Mâu-ni, thì trở thành Kim Cang Thủ Bồ-tát hay Kim Cang Tát-đỏa (VAJRAPANI), thị giả của Đức Đại Nhật. Pháp thân Phật, Đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, ở tại cõi trời MA HÊ THỦ LA THIÊN, tức Kim Cang Pháp giới cung, qua ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích-ca ở tại cõi Ta-bà này, sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, đang lúc thọ hưởng pháp lạc, đã vì Ngài Kim Cang Tát-đỏa và các vị Đại Bồ-tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà xiển dương giáo pháp bí mật. Đó là thời gian khởi nguyên của Tông Chơn Ngôn vậy.

Ngài Kim Cang Bồ-tát đích thân chịu làm lễ “Quán Đảnh”, kế thừa pháp mầu nhiệm của Đức Đại Nhật Như Lai, lãnh thọ lời Phật dạy, đem giáo pháp ra hoằng hóa và kiết tập thành 2 bộ kinh: Kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh lập thành Thai Tạng Giới Mandala và Kim Cang Giới Mandala. Tại sao 2 Mandala này được gọi là Thai Tạng và Kim Cang?

–“Đại Nhật Kinh Sớ” giải thích: “Ước về Thai Tạng do nhân duyên cha mẹ giao hợp, thần thức mới gá vào trong thai, rồi do gió nghiệp tượng thành lần lần lớn lên. Đến khi đứa bé được sinh ra thì gân xương, chi tiết đã hoàn thành, các căn đều đầy đủ. Từ đó đứa bé lấy theo tộc tánh cha mẹ. Cũng thế, hành giả y theo “Chơn Ngôn Môn” học tập Đại bi muôn hạnh, tịnh tâm lần lần hiển hiện. Do tâm Đại bi, những việc làm đều vì kiến lập chúng sanh, khiến cho thành tựu sự vui trong pháp giới vô tận. Rồi từ đó, công quả viên mãn, lên ngôi Vô thượng Bồ-đề, được vào giòng giống của Như Lai. Cho nên Đại bi Thai tạng là ước theo dụ mà đặt tên. Đó là y theo Thánh thai bi trí của chư Phật vào nơi đạo tràng tam mật tương ứng, nương phương tiện khéo để thành tựu chủng tử Bản giác của mình và tất cả chúng sanh vậy.

–Còn “Kim Cang Đảnh Sớ” có nói: “Kim Cang bao gồm 2 ý nghĩa “bền chắc” và năng dụng “cứng bén”. Bền chắc nên không thể phá hoại, cứng bén nên có thể phá hoại các vật khác.

Nói “bền chắc” là ví cho chân lý Bí mật chẳng thể nghĩ bàn của thật tướng, luôn luôn vẫn thường còn, không thể phá hoại. “Năng dụng cứng bén” là dụ cho trí dụng của Như Lai có công năng dẹp phá hết hoặc chướng, làm hiện rõ chân lý thật tướng. Lại theo thế gian, Kim Cang có ý nghĩa không thể phá hoại, chất báu trong các thứ báu và là vật thù thắng trong các chiến-cụ. Đây là tiêu biểu cho Pháp Thân. Nói không thể phá hoại là tiêu biểu cho Pháp Thân của tất cả Như Lai: không sanh, không diệt, không trước, không sau, bền bỉ thường còn không hư hoại. Nói chất báu trong các thứ báu là tiêu biểu cho thật tướng “Trung Đạo” đầy đủ hằng sa Công đức. Nói vật thù thắng trong các chiến-cụ là tiêu biểu cho lý “Đệ Nhất Nghĩa Không”, tất cả phiền não không thể đối địch. Đạo lý ấy như thế, không phải Trời, Người, hay chư Phật tạo tác ra được, nên gọi là Kim Cang.
Ngài Kim-Cang Bồ-tát đã viết 2 quyển kinh Đại Nhật và Kim Cang Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài lưu pháp lại trong một cái tháp sắt được gọi là “Nam Thiên Thiết Tháp”.

Về sau, Ngài Long Thọ Bồ-tát khai tháp sắt Nam Thiên này, nhờ thần lực gia trì, chính Ngài thấy Ngài Kim Cang Tát-đỏa mật truyền cho Đại Pháp và chú phúc lại 2 bộ kinh Đại Nhật và Kim Cang.

Ngài Long Thọ Bồ-tát (NAGARJONA 150-250 D.L) là người mạn Nam Ấn Độ, cực thông minh đỉnh ngộ. Ông là bậc thầy tổ của 8 tông phái Đại thừa Phật giáo, ngoài ra còn quán triệt đạo lý của mỗi tôn giáo khác trên đất Ấn lúc bấy giờ. Lập trường thuyết giáo của Ngài vững chắc cho đến nỗi không có một học phái Đại thừa nào sau Ngài vượt qua nổi khi giải thích về những giáo lý căn bản của Phật dạy. Mật tông Phật giáo cũng như các tông phái Đại thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường không lý của Ngài (Trung Quán). Ngài được so sánh như là Phật Tổ tái thế.

Ngài Long Thọ về sau truyền pháp này cho Ngài Long Trí, là một cao tăng tại viện Đại học Nalanda.

Đại học đường Nalanda là trường Phật giáo lớn nhất ở Ấn Độ. Nơi đây rèn đúc các vị cao tăng Mật Giáo và các tông phái Đại thừa khác. Chư vị Tổ Sư nối nhau mà truyền đạo phần nhiều đều dạy học tại trường ấy. Các Ngài Vô Trước, Thế Thân đều từng là giáo sư tại viện đại học đầu tiên này của Phật giáo. Giới Hiền Luận Sư cũng đã nối tiếp làm Thượng tọa tại đây. Lúc ông đã trên trăm tuổi, Huyền Trang ở Trung Quốc sang vào năm 633 và đã thụ pháp với ông. Các cao tăng hoằng truyền Mật Pháp ở các nước khác sau này đều xuất thân từ đây.
Ngài Long Trí sau khi thọ pháp với ngài Long Thọ, đã truyền pháp và giáo hóa các nước miền Nam Thiên Trúc và Tích Lan. Ngài Long Trí đã thọ hơn 700 tuổi.

Mật Giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản và về hướng Nam để qua mấy xứ Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Cao Miên, Lào… để trở thành 2 ngành Mật Giáo chính: Mật tông Nam Tông và Mật tông Bắc Tông.( trích tư liệu từ nguồn mật pháp phật giáo tinh hoa yếu lược ).
Do một nhân duyên, Minh Thiên được biết đến mật chú Chuẩn đề từ một vị cư sĩ trong đời thường đã hướng dẫn Minh Thiên chuyên tu về pháp Chuẩn đề, dựa vào cái gốc căn bản đó và thông qua quá trình tiếp xúc học hỏi thêm từ các bậc thiện tri thức khác và hòa thượng Thích Nhật Quang , Minh Thiên đã dần hoàn thiện thêm kiến thức về mật pháp Chuẩn đề , hội nhập vào phần tinh túy nhất và phát triển nó theo đúng chánh pháp của nhà phật.
con đường tu tập và tìm hiểu về mật pháp vẫn còn dài, những kiến thức mà Minh Thiên biết vẫn chỉ là giọt nước trong đại dương phật pháp, nhưng Minh Thiên tin rằng với tâm cầu đạo chân chính với mục đích làm lợi ích phổ độ cho chúng sinh thì từ kiếp này đến vô lượng kiếp về sau Minh Thiên sẽ luôn luôn hoàn thành được tâm nguyện của mình trong kiếp đời này và vô lượng kiếp về sau đúng như một trong tứ hoằng thệ nguyện : phật pháp vô biên thệ nguyện học, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Minh Thiên.

I

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Sợ Ma
Đã gửi: Thứ 7 01/06/13 21:18 

Sợ Ma

Hỏi:

A Di Đà Phật,

MQ có một câu hỏi xin Chú Diệu Âm hoan hỷ cho: Nếu một người bị yếu bóng vía và hơi thường sợ ma thì có nên để họ tham gia vào cuộc hộ niệm cho ngườ sắp lăm chung không?

xin cám ơn chú D.A

MQ

Trả lời:

Yếu bóng vía hay sợ mà thì nên niệm Phật nhiều, niệm Phật thật thành tâm. Mỗi câu niệm Phật thành tâm thì có 25 vị Bồ tát gia trì. Có Bồ tát gia trì thì còn ma nào dám chọc nữa mà sợ.

Thiếu niềm tin vào Phật pháp mới sợ ma. Không hiểu Phật pháp mới sợ ma. Thường làm việc ma mới gặp ma. Tâm ma mới gặp ma. Tục ngữ thế gian có câu, "Ma bắt coi mặt người ta, mặt ai méc-méc thì ma bắt hoài". Vậy thì đừng sợ bậy bạ nữa nhé.

Vì thực ra chính mình là một con ma rất lớn, lớn hơn những con ma khác mà không hay. Chính mình là ma mà lại sợ ma, thành ra con ma "Mình" làm cho con ma "Người" bất an. Rốt cuộc ai cũng phải sợ mình! Sợ mình thì lìa xa mình. Vô hình chung, chính mình tách ly đại chúng, sống âm thầm neo đơn trong cảnh ma!

Tâm sợ ma thì tâm luôn nghĩ đến ma. Tâm luôn nghĩ tới ma thì ma cứ hiện mãi trong tâm. Ma hiện mãi trong tâm thì tâm thấy ma hằng ngày. Tâm thấy ma hằng ngày tức là hằng ngày đang sống với cảnh ma. Sống với cảnh mà thì dễ thành ma. Thân là người mà tâm là ma thì làm sao có ngày giải thoát?

Đây chính là tự mình trói buộc mình đó. Tự mình tạo tất cả cảnh giới cho chính mình. Nhất thiết duy tâm tạo. Tâm chấp vào đâu sẽ đi về cảnh giới đó. Cho nên, nếu cứ nghĩ về ma thì sau khi chết dễ đi về đường ma. Thế gian gọi là, "Sống làm người, chết làm ma", thật đúng vô cùng. Tất cả đều tại chính ta muốn vậy. Làm ma khổ lắm, sướng ích gì đâu mà chạy theo con đường đó?!...

Một người nào đó còn sợ ma thì mời đi hộ niệm làm chi? Chờ khi nào hiểu đạo rồi mới đi hộ niệm cũng chưa muộn vậy!

Hiểu đạo là sao? Là người thành tâm niệm Phật, ngày ngày nghĩ Phật, giờ giờ tưởng Phật, quyết định tương lai sanh về nước Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói, "Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai tất định kiến Phật". Nghĩa là, người luôn luôn nhớ đến Phật, luôn luôn niệm Phật. Được vậy, nếu không bây giờ, thì cũng tương lai, chắc chắn sẽ gặp Phật.

Gặp Phật có ý nghĩa là thành Phật, chứ không phải là móng tâm cầu thấy này thấy nọ đâu nhé.

Tại sao lại gặp ma? Vì không hiểu pháp Phật. Vì không làm theo lời Phật dạy, mà lại làm ngược lại kinh Phật. Phật dạy "Ức Phật, niệm Phật" thì gặp Phật. Còn mình lại "Ức ma, niệm ma", thì tương lai nhất định gặp ma. Gặp Phật hay gặp Ma đều do chính mình tưởng tới, nhớ tới, niệm tới. Tất cả đều do chính tâm mình tạo ra cả.

Như vậy, gặp Phật hay gặp Ma đều do chính mình muốn chứ có ai tạo ra cảnh tượng này đâu. "Gặp Phật" chắc chắn phải hay hơn là "Gặp Ma" chứ.

Hiểu đuợc đạo lý này, thì xin thành tâm khuyên người nào sợ ma đó hãy mau mau từ bỏ ý niệm này đi. Bỏ đi là hết, tất cả đều được giải quyết.

Nhìn xác người chết mình sợ ma vì mình đang nghĩ đến người đó có linh hồn, linh hồn không còn trong cái xác nữa thì thành ma. Xin hỏi, khi nhìn một xác chết của con heo tại sao mình không sợ? Có lẽ mình cho rằng con heo không có linh hồn chăng?

Quá sai lầm!

Phật dạy, tất cả mọi sanh vật đều có Tánh-Linh. Tánh-Linh này là Phật. Tánh-Linh bình đẳng, với thánh không mê, với phàm không ngộ, với người không hơn, với vật không kém. Tánh-Linh vẫn là vậy. Mê-Ngộ, hơn-kém... đều do chính chúng sanh tạo lấy mà thôi. Người thế gian thường hạ cấp Tánh-Linh này xuống thành "Linh hồn", thành "Vong hồn", thành "Ma". Khi mê, thấy chúng sanh giống như Ma. Sợ sệt!... Ngộ rồi thấy chúng sanh đều là Phật. Cung kính...

Rõ ràng, Phật hay Ma đều do tự tâm, kính hay sợ cũng do chính tâm của mình người tạo ra.

Ví dụ cụ thể, một người không biết đường tu, ngu muội tham chấp vào gia tài, điền sản, quyến luyến nhà cửa, khi chết dễ dàng đầu thai thành loài bàng sanh, như con heo trong chuồng. Thân là heo mà linh hồn của con heo đó, trước đây không lâu, lại chính là người chủ trong gia đình đó. Khi còn làm người thì được cung kính, nể vì. Khi làm heo rồi bị khinh bỉ, hất hủi...

Người sợ ma, không dám nhìn xác người, mà lại vui vẻ nhìn xác heo chết. Không ngờ xác heo và xác người tuy hai mà một.

Người ngồi gần người chết thì sợ mùi "Tử khí" mà lại mạnh dạn banh xác con heo, lóc xương, cắt mỡ, tìm miếng thịt nạc. Xác người chết, thì được thành kính, tụng kinh, niệm Phật, thắp hương, đốt trầm... mà lại sợ, trong khi mổ xẻ xác heo thì phẩn tiểu khai thối, máu thịt tanh hôi... mà nhiều người lại thấy thơm! Đâu là ma, đâu là Phật đây?

Con nười có biết đâu, trong lúc banh thây họ ra tìm miếng thịt nạt, thì có một linh hồn đang nhìn chăm chăm, đang căm hờn tột độ, đang nguyền rủa thậm tệ, và quyết sẽ trả mối thù sát mạng phân thây này...

Cách biệt giữa Ma và Phật chỉ có Mê và Ngộ. Người chưa muốn vãng sanh thành Phật vì chưa Ngộ. Người cứ nghĩ tới Ma vì đang Mê. Mê làm Ma, Ngộ làm Phật.

Ngộ ra đạo lý này thì thấy chính mình là một vị Phật, một vị Phật thì an nhiên, thanh tịnh, sống thì niệm Phật, khi xả bỏ báo thân thì về Tây phương gặp A-Di-Đà Phật, thành Phật, tận hưởng an vui cực lạc, giải thoát. Sống chết tự tại, còn gì nữa mà lo?

Không chịu ngộ ra đạo lý này thì mê muội cứ tiếp tục mê muội. Mê muội thì sống mà tâm thần bất tịnh, không an, sợ ma... Khi chết thì tâm hồn hoảng hốt, kinh hãi, không còn sáng suốt, mù mù mịt mịt, bị ma dẫn theo cảnh ma, để thành ma, đời đời kiếp kiếp lang thang khổ cực. Làm sao được vui đây!

Hãy mau mau ngộ đi. Sống thì niệm Phật hộ niệm cứu độ chúng sanh. Chết thì liệng báo thân đi, vãng sanh về Tịnh độ một đời cực lạc, sung sướng, thành tựu đạo quả. Vui quá.

A-di-đà Phật

Diệu Âm

(14/06/2009)

[/size]

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 15/03/13 10:11 

Khi di chuyển nơi ở có cần phải tôn lại bát hương không ?
Đây là một vấn đề mà rất nhiều người hay gọi điện hỏi Minh Thiên,thấy nó là vấn đề chung mọi người hay quan tâm nên hôm nay Minh Thiên xin được trả lời chung cho tất cả, hy vọng nó sẽ góp thêm phần kiến thức cho các bạn về thờ cúng tại gia.
Trong một gia trung thường thờ 5 bát hương, đó là bát hương phật.thổ công, gia tiên, tổ cô và tài thần.
Khi gia đình bạn hoặc công ty hay cơ sở kinh doanh vì điều kiện gì đó mà phải chuyển đến nơi khác sinh sống hoặc kinh doanh thì bát hương thờ phật hay những vị thần thánh có uy quyền bao phủ lãnh thổ ví dụ như tam tòa thánh mẫu, công đồng tam tứ phủ,đức thánh trần triều đại vương, hoặc như quan thánh đế quân thì bạn không phải tôn lại chỉ trừ trường hợp bạn muốn thay đổi cho to đẹp hơn thì không nói.
Bát hương gia tiên bà tổ cô đã tôn một lần rồi thì không phải tôn lại nữa khi di chuyển đến nơi ở mới, chỉ trừ trường hợp bạn muốn thay đổi cho to đẹp hơn.
Nhưng riêng bát hương thờ các vị thần linh cai quản bản gia bản địa bản thổ ví dụ như thổ công, thổ địa, chúa đất, tài thần thì khi bạn đến nơi ở mới thì phải tôn lại..tại sao như vậy?
Đơn vị hành chính cai quản địa phận dưới âm giống hệt như trên dương trần,mỗi địa phận bản đất đều có những vị thổ công, thổ địa tài thần khác nhau cai quản từng bản đất khác nhau, cũng giống như cánh sát khu vực mỗi phường được nhà nước phân công chỉ quản lý một địa phận riêng biệt..vì thế khi bạn đến nơi ở mới thì bạn cần phải tôn lại bát hương hay hô thần nhập tượng để thỉnh vị thần linh ở nơi ở mới đến chứng nhận và bảo hộ công việc làm ăn cũng như an ninh đời sống chứ còn những vị thần linh nơi cũ không có theo đến chỗ mới để bảo hộ cho bạn đâu vì trách nhiệm của họ chỉ trong khu vực họ quản lý mà thôi, nếu họ lại mò đến chỗ mới thì gây ra cảnh loạn âm sẽ bị sự trừng phạt của thiên đình vì vượt quá trách nhiệm quyền hạn.
Một số người hỏi tôn bát hương ở đền chùa hay ở nhà tốt hơn , Minh Thiên xin trả lời như sau :
Bát hương thờ phật thánh nên tôn ở chùa, đình, bản điện thì tốt hơn vì nơi đó tập trung nhiều linh khí, nhưng nó lại còn phụ thuộc vào năng lực của người thầy nữa.
Một bát hương dù có tôn ờ chùa , đình đền mà gặp một người thầy chưa đủ kiến thức và năng lực thì có tôn cũng vẫn chả có tí độ linh hiển nào, nhưng nếu dừ ở tại gia mà người thầy đó có đủ năng lực thì bát hương được tôn vẫn linh như thường.
Còn về phần bát hương thờ gia tiên, tổ cô , thần linh thổ công, thần tài tốt nhất các bạn nên tôn tại gia , vì khi hành pháp các vị đó cũng dễ dàng lai phó chứng lễ và an tọa vị ngự tại bát hương.
Đây là những kiến thức mà Minh Thiên được biết và có lẽ nó chưa chắc đã được đầy đủ, rất mong có thêm nhiều ý kiến đóng góp của các anh chị em khác trong giới tâm linh để giúp cho vấn đề này được hoàn thiện hơn.
Minh Thiên.
Diễn đàn MATVIET.ORG.
Email : minhthien.matviet@yahoo.com
Phone : 0943666611.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 09/07/14 18:22 

Linh thiêng đền Hai cô đường Yên phụ.

Có một lần tôi đi xe máy chở người bạn có việc đi qua quãng đường Yên phụ con , đến đoạn gần khách sạn Thắng lợi thì tôi bị ngứa cổ và quay đầu nhổ một bãi nước bọt, bạn tôi liền kêu lên hình như anh vừa nhổ nước bọt vào trước cổng một cái đền gì đấy..
Xe chạy rất nhanh nên tôi cũng không kịp ngoái lại nhìn , và tôi tự an ủi : thôi có phải mình cố tình đâu, chẳng may thôi, mình có nhìn thấy đâu và có ai bắt lỗi người không cố tình bao giờ.
Xe chạy lòng vòng quanh mấy con phố rồi đi về hướng đường Liễu giai khách sạn Deawoo, bỗng tự nhiên có hai chú cảnh sát tuýt còi mời tôi đưa xe lên vỉa hè kiểm tra giấy tờ mặc dù tôi đi đúng tuyến đường và đội mũ bảo hiểm đầy đủ, sau một hồi xem xét chỉ ra các loại lỗi kết quả là tôi bị phạt mấy trăm K.
Việc mất tiền thì không có gì đáng nói , nhưng lúc đó thì tôi giật mình và nghĩ lại , hình như tôi đã làm sai điều gì đó và tôi hỏi người bạn : thế có đúng là lúc đó anh nhổ nước bọt vào trước cửa cái đền gì đó phải không ?
Người bạn trả lời : vâng đúng mà, đúng là lúc đó anh nhổ nước bọt vào cổng đền mà, em có quay đầu lại và nhìn thấy rất rõ đó là cái đền mà.
Tôi bảo anh hiểu rồi, có nghiã là bây giờ mình sẽ phải sắm đồ quay lại tạ lỗi vị nào đó được thờ phụng tại ngôi đền đó.

Sau khi đưa người bạn về thì tôi đi sắm ít đồ lễ rồi quay lại nơi đó,lúc đó đã rất muộn và tôi cũng lo đền đã đóng cửa.
Phóng hộc tốc đến đó, xa xa tôi vẫn thấy ánh đèn vàng từ trong đền hắt hiu chiếu ra, khi đến trước cưả thì tôi thấy vẫn còn một chị trông đền tầm trung niên đang ngồi trơ trọi trên chiếu.
Thấy tôi vào chị ngẩng đầu lên cười và bảo đáng lẽ chị đóng cửa về sớm rồi, nhưng không hiểu tại sao tới giờ này như có ai đó cứ giữ chân chị lại không cho về , hóa ra là các vị ngự trong đền muốn chị ở lại để chờ tôi tới lễ các vị, bởi vì ở đây đến giờ này ít khi có người đến lễ lắm ngoại trừ mùng một ngày rằm, vì thế nếu như bình thường thì chị sẽ đóng cửa đi về từ cách đó một tiếng rồi.
Ngôi đền này có một lối kiến trúc bên ngoài cửa đền bên phải bên trái có cây hương thờ phụng cô bé, cậu bé, bước vào trong đền chính giữa gian ngoài là thờ phụng Công đồng tứ phủ, Ngũ vị tôn ông, dưới gầm là hạ ban các quan Năm dinh ngũ hổ, bên phải thờ phụng đức thánh Trần, bên trái thờ Hai cô thủ đền.
Khi đi vào gian trong thì chính giữa phụng tự Tam tòa thánh mẫu, bên phải là Tam vị chúa mường,bên trái phụng tự Chầu lục có bảng hiệu tôn xưng là vị Chầu bà thủ đền.

Sắp đặt đồ lễ dâng lên, tôi quỳ trước chính điện chắp tay kính cẩn sám hối bề trên về sự việc buổi chiều và nguyện cầu chư vị linh thiêng xin hãy phù trì cho công việc hành pháp của tôi trên đường đời gặp được nhiều bình an thuận lợi.
Sau khi lễ bái xong ra ngồi trà nước với chị trông đền , tôi có hỏi lai lịch của ngôi đền thì chị cho biết như sau :
Ngôi đền này vẫn thường được gọi là Miếu Hai Cô , về sau được sửa sang nâng cấp lên thì được gọi là Đền Bảo An Linh Từ tại số 151 phố Yên Phụ con thuộc Quận Tây Hồ - thành phố Hà Nội.
Khi còn bé chị trông đền vẫn được ông bà kể rằng ngày xưa có hai cô thanh nữ đi chèo thuyền du ngoạn Tây hồ, chẳng may trời nổi giông bão lật thuyền làm hai cô tử nạn, xác giạt trôi về phía đường Yên phụ con lúc đó chưa thành đường phố như bây giờ, dân làng thấy vậy bàn nhau ngày mai sẽ mua quan tài để an táng người xấu số, nhưng không ngờ qua một đêm thì hai cái xác hai cô biến mất , thay vào đó là hai nấm đất đùn cao, thấy sự lạ như vậy dân làng bèn lập cái miếu nhỏ thờ hai cô, trải qua thăng trầm lịch sử bây giờ cái miếu nhỏ đó đã kịp trở thành cái đền lớn khang trang ngay mặt đường Yên phụ con đối diện với khách sạn Thắng lợi và có tên gọi là Bảo an linh từ.
Kể từ khi làm lễ tạ lỗi chư vị thánh thần và hai cô ở đó, khi ra về công việc của tôi đúng là có nhiều thay đổi theo chiều hướng rất thuận lợi, đúng là biết đến cô thì nhẹ như tên, không biết thì nặng như hòn đá đeo, thấy sự linh thiêng nơi đền cô như vậy nên cứ mỗi khi đi xa về gần, nếu có dịp tôi lại đến chỗ hai cô lễ bái, lễ bái thôi chứ thật ra cũng chẳng cầu xin cái gì, với lại mình cứ cầu xin mà không chịu làm ăn học hành nghiên cứu tu tập nâng cao ngiệp vụ tâm linh thì thánh thần nào mà phù hộ cho được mãi.
Về việc cầu xin thì thật ra không có thánh thần cô cậu nào linh thiêng tự nhiên cho mình tài lộc hoặc giải hạn hộ cho mình , trước mắt họ phải nhìn thấy mình thành tâm kêu cầu và nhất tâm nương dựa vào họ thì họ mới soi xét quả phúc của mình trong tương lai chắc chắn vẫn còn dầy hoặc hạn này có thể lùi lại được thì họ mới nương theo đó mà thi triển thần lực giúp cho mình được như ý , cũng chỉ là vấn đề mình vay chính tiền của mình trong tương lai thôi, hoặc tạm thời lùi lại hạn ách mà mình đáng lẽ phải trả ngay bây giờ, vì thế nếu khi mình đã giải quyết được xong vấn đề khó khăn về mặt tài chính hoặc tai qua nạn thoát thì nên biết sống sao cho phải đạo với trời đất thánh thần và với những người xung quanh đã giúp đỡ mình tai qua nạn thoát, và nên tu tập một pháp môn của nhà phật , hành thiện tích phúc là việc nên làm để tích lũy công đức trả nợ cho tương lai, nhưng không phải vì biết những điều như trên mà ta không đi cầu xin thánh thần nữa , không có sự tác động trung gian của họ thì còn lâu việc ta mong muốn mới giải quyết được, vậy là chỉ cần trong 10 người đến cầu mà có 3 , 4 người được việc thì tiếng tăm về sự linh thiêng của ngôi đền đó cũng đã truyền đi rất xa rồi.
Một vị thần linh cũng giống như một người thầy trên trần gian, lúc khí số đến lúc phát và vượng thì phần lớn ai đến cầu xin giúp đỡ việc gì cũng trót lọt vì lúc đó họ có khả năng chuyển vận nghiệp thiện đến nhanh hoặc việc ác của thân chủ lùi chậm lại ,lúc đó ta gọi đó là người thầy giỏi hoặc thần thánh ngôi đền đó linh thiêng, nhưng một khi thần thánh cũng như người trần , một khi khí số đang lên mà không có đường tu tập để tích phúc thì cũng giống như bình ắc quy không sạc cứ dùng mãi sẽ hết điện, lâu hay mau là do phúc dày hay mỏng , khi phúc hết thì người trần gọi là mất lộc còn thần thánh đền miếu thì được gọi là hết thiêng.
Tất cả những ai hay đi lễ đều biết đền cô Chí mìu trên tuyến đường đi Lạng sơn, nhiều năm về trước nơi đó còn là nơi hoang vu, nhưng khi khí số của ngôi miếu đó đến vận phát thì lập tức khách thập phương đổ về cầu cúng xin lộc rồi vì được việc nên người nọ đồn thổi người kia , theo tâm lý đám đông họ cứ tấp nập rủ nhau đến , đa phần là được việc ,biến nơi hoang vu đó trở thành đền phủ nguy nga rộng lớn , và tất cả mọi người phần lớn đều không biết rằng mình đang xin và rút ruột chính cái túi tiền của mình trong tương lai mà thôi, cô bé Chí mìu cũng chỉ nương theo cái phúc của mình mà giúp cho mình, cũng giống như nhân viên ngân hàng khi thấy một khách hàng tiềm năng chắc chắn phải có nhà cửa thế chấp thì mới giúp họ vay vốn ngân hàng kèm theo sự trả lãi, đương nhiên khi bạn vay xong hoặc trước khi vay bạn cũng phải có chút lòng thành với nhân viên đó thì việc mới nhanh và trôi chảy được,vì thế bạn có thấy ai tay trắng mà đến ngân hàng vay được tiền không, cũng vậy cô Chí mìu vì là thần thánh nên có thiên nhãn nhìn thấy được quá khứ tương lai thấy được quả phúc mình vẫn có thì mới giúp chứ cô chả bao giờ lấy tiền hay phúc của chính mình ban cho ai hết, vì thế mười người đến cầu xin thì chỉ vài người có đủ điều kiện được giúp còn đâu về không, nhưng từng đấy người được cô giúp cũng đã thành câu chuyện để đồn thổi về sự linh thiêng của cô rồi, nếu bạn mà có thiên nhãn nhìn được tương lai của mình thì tôi tin chắc bạn sẽ chẳng đi đâu lễ bái hết, nhưng vì bạn không nhìn được tương lai của mình, bạn hôm nay bị nguy ngập về tài chính, bạn lo sợ về hạn ách đang xảy ra, vì thế mà bạn phải tìm đến sự cứu giúp là những người thầy trần gian và các vị thần linh ngự trong đền phủ, họ chính là trung gian thúc đẩy vận tốt đến nhanh , vận xấu chậm lại chứ họ không hề hóa giải được mọi sự như bạn lầm tưởng, cái khác nhau là người thầy trần gian nếu là người thầy am hiểu về luật của trời đất và phật pháp thì sau khi giải quyết xong vấn đề cho bạn thì sẽ trực tiếp chỉ bày cho bạn một con đường tu tập để bạn hóa giải nghiệp xấu còn tồn đọng lại trong tương lai, còn các vị thần thánh lại phải gia trì lực tác động để bạn sẽ đi gặp được một vài bậc thiện tri thức để thông qua trung gian đó chỉ dẫn cho bạn con đường tu hành giải nghiệp tích phúc, nhưng tại sao thầy trần gian và thần thánh lại phải thúc đẩy bạn tu hành, bởi vì họ biết rằng cũng giống như nhân viên nhà băng họ sẽ phải đứng ra chịu trách nhiệm với nhà băng khi giới thiệu thân chủ vay nợ nhà băng, nếu thân chủ không chịu đi làm kiếm tiền trả nợ ngân hàng, thì đến hạn không trả được thì đương nhiên nhân viên đó sẽ bị nhẹ thì khiển trách , nặng thì mất chức, những người thầy nào không hiểu nguyên lý này lúc khí số đang lên cứ bạ ai cũng giúp mà không có hướng dẫn thân chủ con đường tu tập và hành thiện tích phúc trả nợ nghiệp cũng như bản thân mình không có sự tu tập giải nghiệp thì khi vận số đã hết cuộc đời sẽ rất thê thảm, đó là tại sao ta nhìn thấy nhiều người thầy tâm linh khi về già bị lâm vào thảm cảnh vì phải gánh trên lưng rất nhiều món nợ trần gian là thế.
Trở lại câu chuyện của tôi, tôi có căn nhà và gian thờ Phật thánh ở phố Thành công, căn nhà này nó đã xuống cấp quá rồi, anh em bạn bè mỗi khi đến chơi đều khuyên tôi nên chuyển đi , nhưng tôi cũng rất ngại việc đi tìm nhà, tìm xong rồi lại còn phải khâu chuyển dọn đồ đạc ban thờ, rồi đến nơi mới lại phải an vị lại bát hương ban thờ, nhưng cái chính nhất nếu lần này mất công đi tìm nhà thì căn nhà đấy theo Huyền không phi tinh nó phải thuộc cách cục Châu bảo tuyến vượng tinh đáo sơn đáo hướng và bát trạch tọa hướng nhà hợp và sinh vượng theo tuổi tôi, nó phải nằm trong chỗ mọi người thuận tiện đi lại, để tất cả điều này phù hợp tôi nghĩ chắc sẽ khó khăn đây, nhưng căn nhà cũ thật sự cũng đến lúc không thể ở được nữa rồi, càng ở càng lụn bại, tất nhiên là theo tuổi tôi thôi, chứ người khác đến ở có khi lại hợp tuổi và ăn lên làm ra.
Trong lúc suy nghĩ như vậy thì tôi chợt nhớ đến ngôi đền hai cô ở chỗ đường Yên phụ con, ngôi đền này bây giờ đang đến vận phát lên như đền cô Chí mìu ở Lạng sơn , nhiều người dân sống ở xung quanh đó rất lâu mà không biết đến sự tồn tại của ngôi đền, nhưng khi họ có việc khó khăn thì hai cô linh thiêng đã báo mộng cho họ được biết và họ tìm đến lễ bái thánh mẫu, lễ bái hai cô xin giúp đỡ này nọ, và quả nhiên họ được việc, và thế là họ lại sắm sanh lễ vật đến tạ hai cô và kể lại chuyện này cho chị trông đền biết.
Thế là tôi liền sắm lễ đến đền Hai cô dâng lễ và trình bày vấn đề , tôi cũng phát nguyện nếu Hai cô giúp cho tìm được căn nhà đúng như ý con mà không tốn sức tìm kiếm thì sau khi dọn đến nhà mới con sẽ đăng một bài lên vài trang mạng để mọi người được biết đến sự linh thiêng của Hai cô mà đến kêu cầu lễ bái..
Dường như Hai cô từ trên ngôi cao đã nghe thấu lời nguyện cầu của tôi nên lúc đó tuy tôi đang quỳ trước linh tượng hai cô mà tôi thấy toàn thân nhẹ bẫng đi như mất thân , có một cái gì đó ấm áp đang lan tỏa toàn thân tôi, tai tôi như nghe tiếng thì thầm khe khẽ : được cô sẽ giúp cho con được như ý nguyện, nhưng khi được việc thì nhớ hứa gì thì phải làm đấy chớ quên.
Vài ngày sau đang nói chuyện về nhà cửa thì tự nhiên có người quen chỉ cho tôi một căn nhà ở phố Trúc khê ngay gần phố Huỳnh Thúc Kháng cắt ngang phố Nguyễn Chí Thanh, khi đến đó chỉ vừa đặt la bàn là tôi đã thấy tất cả cách cục về phong thủy phi tinh hoàn phù hợp với đúng những tiêu chí mà tôi đặt ra, vậy là tôi quyết định chuyển đến ở căn nhà đó rất nhanh không suy tính nữa.
Ngày hôm nay khi chuyện nhà cưả tôi đã an vị xong xuôi, nhớ đến lời hứa với Hai cô tôi dành thời gian viết bài này gửi đến các bạn đọc để các bạn biết đến sự linh thiêng nơi đền Hai cô, nếu các bạn có lúc nào đó bị bế tắc trong cuộc sống, bị vận xấu hạn ách đeo mang , có mong cầu trong cuộc sống thì các bạn cũng như tôi, hãy thành tâm đến chỗ Hai cô dâng lễ nguyện cầu với niềm tin Hai cô linh thiêng chắc chắn sẽ phù trì các bạn được hanh thông như ý trên con đường đời, tôi cũng nguyện cầu Hai cô trên ngôi cao chính vị minh đăng soi xét tâm thành và quả phúc của các thiện nam tín nữ đến dâng lễ nơi cô mà phù trì cho họ đắc sở cầu như ý sở nguyện dã tòng tâm , cho họ có thêm niềm tin và chỗ dựa về tâm linh nơi thánh thần đất Việt.
Minh Thiên.
Đống đa – Hà nội.
Sdt 0943666611
Email : minhthien.matviet@yahoo.com
Diễn đàn MATVIET.ORG
Bạn đang xem trang 1 / 1 trang [ Đã tìm thấy 8 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh