Hôm nay, Thứ 3 19/11/19 23:54

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Đã tìm thấy 93 kết quả

Người gửi Nội dung

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: CHUYỆN BA CON RẬN
Đã gửi: Chủ nhật 11/12/11 13:04 

CHUYỆN BA CON RẬN

Ba con rận hút máu một con lợn, tranh nhau ăn, đem nhau đi kiện. Một con rận khác gặp, hỏi: “Ba anh kiện nhau về việc gì thế?”

Ba con rận đáp: “Chúng tôi kiện nhau, vì tranh nhau một chỗ đất màu mỡ”.

Con rận kia nói: “Tôi tưởng các anh chẳng nên tranh lẫn nhau thế làm gì. Các anh chỉ nên lo đến con dao của người đồ tể giết lợn, ngọn lửa của bó rơm thui lợn mà thôi”.

Ba con rận nghe ra, biết là dại, thôi không đi kiện nữa, cùng nhau quần tụ, làm ăn với nhau, dù no, dù đói, cũng không bỏ nhaụ Con lợn thành ra mỗi ngày một gầy, người ta không làm thịt, cứ để nuôi, ba con rận nhờ thế mà no đủ mãị.

LỜI BÀN

Cùng có trí tuệ như nhau mà cứ tranh giành lẫn nhau cái lợi trước mắt, không nghĩ gì đến cái việc lâu dài cho cả toàn thể, thì trí khôn thật không bằng mấy con rận nói trong truyện nàỵ

Tranh nhau, cãi nhau, đánh nhau, kiện nhau, thì oan oan tương kết, lợi chẳng thấy đâu, chỉ thấy hại, hại cho mình lại hại cho cả đàn, cả lũ nữạ. Sao không biết : Sâu đục cây, cây đổ thì sâu cũng chẳng còn. Trùng hại vật, vật chết thì trùng cũng hết kiếp.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: CHUYỆN BA CON RẬN
Đã gửi: Thứ 2 12/12/11 23:45 

Thân gửi Nhất Tâm

Việc trao pháp cho người khác rất quan trọng, không phải ai cũng trao Pháp được đâu. Cái này thì không ai dạy ai được mà chỉ có thể tự mình khai sáng cho mình (Biết cách nhìn người mà trao Pháp).

Về cách trao Pháp (Nghi quỹ trao Pháp) Nhất Tâm muốn học nên gặp trực tiếp anh MT. Đôi khi phải tham dự nhiều lần cùng với người có kinh nghiệm rồi học dần dần chứ không thể DỤC TỐC BẤT ĐẠT.

Đọc thật nhiều -Hành cho thuần thục - Nghĩ thật kỹ - Làm cho cẩn thận.

" Diễn đàn mang tên Mật Việt nhưng e thấy rất ít bài viết về Mật Pháp"

Đã là "Mật" vốn ẩn nên không "Hiển". Đã "Hiển" rồi thì không còn là "Mật" nữa nên nhiều người vào sẽ thấy ít tài liệu tham khảo, học tập, nếu bạn cần tài liệu thuộc về Nghi quĩ Mật Pháp thì nên gửi thư riêng yêu cầu trợ giúp nhé. Những gì viết ra được trên diễn đàn thì mới viết, ai không hiểu thì lại nghĩ sai....vậy nên Tu Mật mới ít. Và cũng chính vì thế Mật Tông mới chính là CON DAO HAI LƯỠI.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: CHUYỆN BA CON RẬN
Đã gửi: Thứ 3 13/12/11 0:54 

Phúc Định cũng gửi nhat_tam!
Suy nghĩ kỹ trước mọi việc làm có tính quyết định. Đừng bắt chước ai về mọi thứ nếu điều đó không dành cho bạn. Làm kỹ thuật viên không thể ra maketing, làm nhân viên không thay được giám đốc thỏa thuận với đối tác, làm kế toán không tự ý thay nhiệm vụ thư ký, làm tín chủ không thay việc Pháp sư, làm hòa thượng không kiêm nhiếp sát sinh, làm người không vi phạm các nguyên tắc đạo đức, làm huyền thuật không tự phong cho mình nhiệm vụ...
Hóa độ và truyền Pháp là việc quan trọng, không vì thích - muốn - thể hiện - bức xúc mà áp dụng.
Con người có mệnh số, ai có duyên truyền Pháp người đó được truyền Pháp, ai không có duyên và vi phạm tôn chỉ của Đạo, bât cứ đạo nào cũng đều có tôn chỉ thống nhất, rạch ròi.
Xưa nay, học trò đi tìm thày chứ thày không đi tìm học trò. Học trò giỏi thì dễ thấy, thày giỏi khó biết. Thày nghiêm khắc nhất là vị thày yêu thương học trò nhất. Làm thày pháp là nguy hiểm, bởi mỗi chúng sinh đang phải tự lo hóa giải nghiệp chướng của chính mình còn chưa xong, bước vào đường đạo mang theo Pháp và Danh với Tâm linh hẳn phải chiến đấu với Ma quỷ. Nên chớ dại dột.
Làm thày phải tinh thông thiên địa nhân, am tường vạn vật biến hóa thịnh suy. Có những thứ quá khứ thực hành công năng tột bội nhưng nay áp dụng cũng khó thành. Có những thứ người có duyên ứng dụng thuần thục linh nghiệm nhưng người không có duyên chắc hẳn sẽ thấy vô duyên tới mức nào.
Dẫu có trí tuệ siêu phàm hiểu được mọi mệnh lý trời đất, nhưng số làm thày vẫn phải làm thày.
Chẳng cần hiểu đâu xa số anh muốn thành một Bác sĩ nhưng anh lại thành một giám đốc nặng đầu mà vinh dự.
Có những người muốn dứt bỏ thế tục để xuất gia - không có căn tu - tu mãi chẳng thành.
Chuyện thế gian còn muôn thứ để bàn. Chuyện thị phi biết càng ít càng tốt.
Mật tông là giáo chỉ bí truyền của Đại Nhật Như lai - Ứng hóa thân Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Truyền dạy. Đúng nghĩa mà nói, Bổn Tôn không truyền chỉ bằng kinh điển thống nhất, mà chỉ Khẩu truyền và Tâm truyền, những thứ ta đang học gọi là giáo lý kinh điển Mật Tông tất cả là do thành quả 6 tập hội kinh điển của các vị quốc vương giàu tình yêu Phật Pháp, giàu lòng thương nhân dân và chúng sinh mà các vị tăng ni thời đó ra sức củng cố.
Tất cả mọi thứ trước mắt là chiều theo ý muốn của bạn, vô hình chung bạn có lẽ cũng đang thấy Tham - Sân - Si ẩn tàng. Có điều có chịu công nhận nó không thôi.
Nên dừng lại vì nếu bạn muốn truyền Pháp, hãy để tôi hoặc một ai kiểm chứng bạn có duyên không đã.
Một người khổ luyện để nuốt được lưỡi kiếm sắc bén vào bụng, khi bạn yêu cầu người đó sẵn sàng đưa cho bạn những cách mà anh ta thực hành thành công một cách chân thật. Nhưng bạn không qua khổ luyện từ nhiều năm tháng đời kiếp thì chắc mạng khó toàn.
Thấy anh Dieuphaplienhoa góp ý vậy tôi cũng phải lên tiếng, không phải ngăn cản bạn mà là vì lợi ích của chính bạn.
Tại sao thấy Phật Thích Ca là Pháp Vương thì Xá Lợi Phất hoặc Mục Kiền Liên không tự cho mình là một vị Pháp Vương kiểu của mình đi mà một lòng một dạ xin thế tôn khai ngộ để giải thoát.
Bạn cũng thế, có năng lực - nhưng năng lực hóa giải cho chính bạn còn giỏi hơn là hóa giải và khai thị cho người khác. Tai sao bạn không thấy rõ ưu điểm của mình.
Hôm nay bạn là nhân viên kỹ thuật giỏi được ca ngượi nhưng bạn không thay được TGĐ tập đoàn VT Viettel. Nhưng tổng giám đốc tập đoàn không thể có khả năng kỹ thuật giỏi bằng bạn
Khi nào thày của bạn thấy bạn đã có công phu tu luyện tốt, cần dang tay nâng đỡ đời kịp thời thì bạn nên làm chưa muộn.
Và bạn có thể nói 1 chút về lý do bạn muốn điểm đạo cho họ được không

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: CHUYỆN BA CON RẬN
Đã gửi: Thứ 3 13/12/11 9:35 

LHDP tham gia diễn đàn Mật việt là mới nhưng không phải không hiểu về pháp tu của thầy Triệu Phước. Trước đây LHDP cũng được điểm đạo chắc cùng thời với anh Minh Thiên. Tham gia sinh hoạt bên VTHB và Tâm Mật không phải là ít. Tuy nhiên mình chưa có duyên với cách hành trì này (chưa có duyên chứ không phải Pháp này đúng hay sai).
Mình học là cho chính mình chứ bây hiện tại bây giờ mình cũng chưa nghĩ là mình học để làm Pháp sư.
Chắc bạn biết anh Colony ngày trước cũng lao đao vì việc điểm đạo và tu hành mà không có sự chỉ bảo như thế nào. Sau này dần dần khi duyên đến anh mới gặp được thầy và từ đó đường tu ngày càng thăng tiến.
Học Pháp không hề đơn giản trao Pháp cũng vậy. Mỗi một người một căn cơ, có người cả đời không niệm 1 câu Phật nhưng khi chết họ được tái sanh vào cảnh giới đẹp, bởi vì kiếp trước, muôn ngày kiếp trước họ tu hành ra sao, sư trờ giúp của những người khác.... Có người cả đời hành pháp như một Pháp sư nhưng kết cục thì sa vào trốn địa ngục bởi vì hành pháp sai.

Ngũ bộ chú và sau này tập trung lại là chú Chuẩn Đề trước đây không có nghi quỹ nên nếu bạn theo dõi bên VTHB bạn sẽ thấy thời gian đầu nó tạo cho con người rất nhiều ảo giác (tâm tưởng) họ cứ nghĩ mình là "Thiên Sứ" hay "Sứ giả" của Thượng Đế hàng ngày đối diện nói chuyện với toàn Phật. Bồ tát , họ nghĩ mình được phái xuống để cứu đời. Khi đã đi vào mê tâm thì nhiều chuyện đã xảy ra và kết cục của trang VTHB và một số thành viên bên đó như thế nào bạn đã biết.
Thời gian sau này khi được chỉnh sửa lại đã có Nghi quỹ (dẫu nhiều người còn thấy thiếu sót) nhưng ít ra những người hành trì sau này cũng ít gặp phải "tâm tưởng" như trước.
Người có duyên đến với Pháp trong thời này càng ít, chúng ta là người được gieo duyên nhưng phải biết ai đáng được gieo, ai không nên thuyết pháp. Khi họ muốn nhận Pháp phải hiểu con người đó như thế nào, căn cơ ra sao , họ đến với Pháp vì mục đích gì. Khi hội đủ các yếu tố mình mới trao Pháp. Trong quá trình hành trì của họ mình cũng cố gắng theo sát để chỉ bảo tránh cho người ta đi vào con đường Ma đạo.
Trao pháp giống như kiểu gặp ai cũng trao , coi Pháp mình trao giống như một món hàng đi chào mời thì cuối cùng mình được cái gì. Bạn có biêt nhiều người khi nhận Pháp chỉ để thỏa mãn sự tò mò...để mình giải quyết công việc cho họ được nhanh chóng... đưa sách cho họ họ để đó không ngó đến 1 trang...
Ho hành trì không có ai kèm , không có ai chỉ dẫn rùi tự cho mình là thánh .. là thần.. mình có áy náy hay không. Người ta bị như vậy cũng là do mình chứ đừng đổ lỗi cho "kiếp trước" hay "nghiệp" của họ.
Trồng 10 cây 10 cây xanh tốt còn hơn bạn trồng 100 cây mà có 1 hay 2 cây tốt sẽ chẳng ai bảo bạn là người chăm cây giỏi.
Vài lời chia sẻ, không có ý gì khác

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 13/12/11 10:30 

Những câu chuyện ly kỳ có thật xung quanh giếng chợ Bà Cô tưởng rằng theo thời gian sẽ bị lãng quên. Thế nhưng vài năm gần đây, tại xóm Chùa xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang lại có nhiều sự kiện xảy ra liên quan đến cái "giếng thần" này.

Giếng chợ Bà Cô chỉ sâu hơn 1 mét, nước trong vắt như mắt mèo và không bao giờ cạn. Bên giếng có một ngôi đình và một con chó bằng đá, người ta bảo rằng con chó đá xuất hiện cùng khi có giếng nhưng không ai biết giếng được đào tự bao giờ. Con chó đá đặt bên cạnh giếng được cho là thần giữ của bởi theo đồn đại bên dưới giếng có vàng và rất nhiều của cải từ đời xưa để lại.

Sự tích "giếng chợ Bà Cô"

http://vckm.landtoday.net/Library/images/18/2011/12/07_12/cu_nho_giengbaco.jpg

Từ thị trấn Đồi Ngô xuôi về xã Vô Tranh khoảng chừng 20 cây số. Con đường đất đỏ bụi mịt mù và đầy "đèo, dốc" lên xuống khiến chúng tôi phải mất ngót nghét hơn một giờ đồng hồ mới vượt qua được. Đặc sản nơi đây vẫn là vải nhưng vào độ mùa này chỉ có cây và lá. Đem câu chuyện về chiếc giếng chợ Bà Cô "thắc mắc" với cụ Bùi Thị Nhỡ tại thôn Tranh, chúng tôi như gặp được nhân chứng sống tại cái làng này, cụ Nhỡ đã từng chứng kiến bao biến đổi thăng trầm và trong đó có những câu chuyện ly kỳ xung quanh cái giếng.

Cụ Nhỡ năm nay ở cái tuổi 90 nhưng còn khỏe và minh mẫn lắm. Hỏi những chuyện từ thời cụ sinh ra đến nay cụ đều kể vanh vách. Cụ Nhỡ kể lại rằng, bố mẹ cụ và tổ tiên thân sinh cũng ở cái làng này cho đến ngay cả cụ bây giờ. Từ khi cụ Nhỡ sinh ra đã nghe bố mẹ và các bậc cao niên trong làng nhắc nhiều về giếng chợ Bà Cô. Cụ lớn lên đã thấy cái giếng này rồi, không biết nó có từ đời nào.

Giếng chợ Bà Cô trước đây còn có tên gọi khác là giếng đình, ngay bên giếng có một ngôi đình cổ nhỏ nằm tọa lạc soi bóng xuống đáy giếng. Ngay cạnh đó có một bãi đất trống rộng lớn và bằng phẳng được người dân sử dụng để làm nơi họp chợ. Chợ phiên chính là nơi thường xuyên dân làng tụ họp, diễn ra đúng ngày 15 hàng tháng, vào buổi đêm vì thời đó chưa có điện nên cha ông ta đã lợi dụng vào ánh sáng của trăng, chợ mua bán trao đổi chủ yếu bằng nông sản hàng hóa.


Cụ Bùi Thị Nhỡ.
Theo lời cụ Nhỡ kể lại, lớn lên ở cái thời trẻ con còn để tóc ba chỏm đã được nghe những câu chuyện ly kỳ quanh cái giếng. Nhưng vì còn bé nên cụ Nhỡ chưa ý thức được và quan tâm đến những câu chuyện mà ngày đó được cho là tầm phào, hoang đường như ai đó nghĩ là chỉ kể cho vui miệng hay lấy câu chuyện lạ làm quà mỗi khi bạn bè lâu ngày tề tựu.

Cụ Nhỡ còn nhớ như in, khi còn chăn trâu cắt cỏ đã được nghe đồn chuyện yểm long mạch hay bùa ngải gì đó tại giếng chợ Bà Cô mà khi lớn lên cụ mới hiểu và tin đó là chuyện có thật. Đồn rằng nơi đây, để yểm được bùa ngải, ma thuật thì ngày đó thầy phù thủy đã tìm chọn và bắt trong làng một cô gái có mái tóc dài, xinh đẹp nhất vùng và cô gái đó phải là người còn trong trắng trinh nguyên. Trước khi yểm bùa, phù thủy đã bắt cô gái đó ngậm một loại sâm củ khoảng chừng 3 tháng rồi sau đó mới nhấn chìm xuống giếng nước trong. Sau khi cô gái bị nhấn chìm xuống giếng nước thì chưa thể chết ngay mà còn sống được một thời gian bằng khoảng thời gian được ngậm sâm. Tên gọi giếng đình đổi thành giếng chợ Bà Cô cũng không phải bỗng dưng mà có. Nó xuất phát từ việc yểm bùa này.

Chuyện ly kỳ quanh cái giếng

Giếng chợ Bà Cô nằm bên cạnh một cánh đồng lúa chiêm trũng quanh năm màu mỡ phì nhiêu. Cụ Nhỡ khẳng định với chúng tôi là chưa bao giờ nước trong giếng bị cạn. Nước giếng trong và mát lắm, máy bơm nước công suốt lớn bơm cả ngày cũng không cạn được. Cả làng tôi từ bao đời đến mùa hạn hán lại thi nhau ra đó gánh nước về ăn uống và sinh hoạt.

Vì giếng nước rất trong và mát ngọt nên những khi khát nước dân làng đi ngang thường hay ghé vào giếng để uống nước. Những lời đồn thổi về cái "giếng thần" này cứ thế loan rộng ra. Nào là khi khát nước thì đến bên giếng mà xin rồi lẳng lặng mà uống chứ đừng nói thêm lời nào. Giếng chỉ được uống nước, không được rửa mặt hay tay chân. Khi uống nước thì chỉ biết uống rồi đi chứ đừng khen ngon hay chê bất cứ một lời nào.

Theo lời cụ Nhỡ thì giếng thiêng lắm, nếu ai vô tình hay cố ý vi phạm một trong những điều nói trên thì đều bị đau bụng quằn quại đến 3 ngày mới khỏi, uống thuốc gì cũng không lành được. Nặng hơn nữa là nhiều người ở các làng khác không biết đến những "lời nguyền" đó nên sau khi uống nước giếng chợ Bà Cô về nhà bị ốm liệt giường nằm đến đúng 3 tháng sau mới khỏi, đi bệnh viện cũng không phát hiện ra được căn bệnh gì.

Qua câu chuyện với ông Hoàng Văn Triệu nguyên là Chủ tịch Hội nông dân của xã Vô Tranh và là chủ nhân có ngôi nhà cách giếng chợ Bà Cô độ chừng 100m. Ông Triệu cho biết, khi về đây đã thấy cái giếng, bên giếng có một con chó đá ngồi với tư thế như để "canh" giữ giếng vậy.

Chó đá có chiều cao khoảng hơn 60cm, chiều dài khoảng 80cm và có trọng lượng độ ngót 3 tạ. Chó đá được tạc trong tư thế có 2 cái tai chóc ngược vểnh về phía trước, lưỡi thè ra như đang chăm chú theo dõi, phòng vệ hay sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào khi đã xác định người lạ. Hai chân trước con chó đá quỳ xuống như để lấy đà trước khi chạy xồm lên, dưới bụng nó có một cái bát hương cũng được đúc liền khối từ tảng đá xanh ấy. Dưới cổ chó đá được đeo một tràng hạt cườm hình tròn bằng đá xanh ngắt và óng ánh trông rất đẹp mắt.

Năm 1972, dân làng nơi đây bàn nhau "khai quật", dọn vệ sinh cho giếng chợ Bà Cô để nước giếng được trong và sạch hơn nhằm phục vụ cho sinh hoạt cho người dân trong thôn. Trước khi dọn giếng, các bậc cao niên, các thầy địa lí trong làng đều chuẩn bị một số lễ vật như mâm xôi con gà để cúng bái rồi mới tiến hành.

Anh Triệu là một trong những người tham gia tu bổ, sửa sang giếng cho biết, trước khi khai quật thì trên miệng giếng chợ Bà Cô có một tảng đá bằng phẳng, xanh bóng và to bằng chiếc chiếu một dùng để đậy kín miệng giếng lại. Dưới tảng đá xanh ấy là 4 thanh gỗ vuông vức được xếp theo hình vuông để làm giá đỡ cho tảng đá ấy. Những ai có mặt tại hôm đó đều không khỏi bất ngờ, khi tảng đá được nhấc ra khỏi miệng giếng thì xuất hiện một luồng khí lạ dễ chịu bốc lên từ miệng giếng có mùi thơm rất đặc biệt giống như mùi sâm lẫn với mùi thảo dược đun lên dùng để xông, tắm. 4 thanh gỗ có màu đỏ sẫm cũng có mùi thơm tương tự, không biết trải qua bao nhiêu thời gian nhưng những thanh gỗ ấy vẫn còn nguyên vẹn và không hề bị mối mục. Nhiều người cho rằng đó là gỗ sưa đỏ mà người xưa vẫn thường hay dùng để đóng quan tài và ướp xác người chết.

Dân làng tiến hành vệ sinh giếng, người múc nước, người vét bùn. Giếng chợ Bà Cô chỉ sâu hơn 1m, người dân thay phiên nhau múc nước nhưng phải đến quá một buổi nước trong giếng mới ngót được một nửa bởi nguồn nước mạch chảy ra từ đáy giếng rất mạnh không thể múc cạn. Dưới giếng có một tảng đá hình chữ nhật, tảng đá có chiều dài hơn 80cm, chiều rộng khoảng 60cm nhưng khi đó phải huy động 7 thanh niên lực lưỡng trong làng khiêng mới nhấc được ra khỏi giếng. Khi tảng đá được khiêng lên thì đột nhiên một cột nước trong miệng giếng phun lên trời với chiều cao tầm 7 - 8m khiến ai nấy cũng bất thần hốt hoảng.


Giếng chợ Bà Cô.

http://vckm.landtoday.net/Library/images/18/2011/12/07_12/cu_nho_giengbaco0.jpg

Nhắc chuyện con chó đá, ông Hoàng Văn Triệu kể lại, khi dọn giếng có rất nhiều người. Thấy con chó đá đẹp quá ai cũng muốn xin về đặt làm cảnh, xin không được có người muốn mua nhưng những người chủ trì hôm đó đều thống nhất không cho mà cũng không bán cho bất cứ ai bởi họ cứ nghĩ đó là "báu vật" của làng, hơn nữa trước đó đã có rất nhiều câu chuyện xảy ra khiến ai cũng phải sợ. Hôm đó có ông Bình, ông Thứ, ông Ngoạn… người trong làng đều có ý muốn sở hữu con chó đá. Bẵng đi thời gian, từ đó đến nay gần 40 năm, con chó đá nơi giếng chợ Bà Cô vẫn nằm nhất cử nhất động nguyên hình như từ khi nào vậy.

Khoảng cuối tháng 12/2008 (âm lịch), con chó đá hằng ngày vẫn ngồi cạnh bên giếng bị người lạ đánh cắp. Rồi bất ngờ hơn, sau đúng một năm kể từ ngày chó đá bị mất thì chủ nhân trộm cắp đã phải trả lại con chó đá về đúng về vị trí cũ. Ông Triệu kể lại rành mạch chuyện có sự trùng lặp đến từng chi tiết: "Tôi nhớ chính xác hôm đó cũng đúng vào ngày 27/12/2009, tỉnh dậy đứng trên sân nhà nhìn xuống giếng lại thấy con chó đá ngồi ở chỗ cũ. Chạy xuống gần xem thì thấy xung quanh giếng có một bát hương đang cháy dở và có rất nhiều hoa quả, tiền, vàng mã đốt quanh giếng".

Lấy làm lạ, đang khi có nhiều tin đồn thì sau đó vài hôm lại hay tin ông Nhi Hải ở xóm Trại Găng gần đó bị chết không rõ lí do. Xác định thông tin, người dân mới biết chính ông Nhi Hải là người đánh cắp con chó đá mang về nhà mình để cách đây đúng một năm. Ông Nhi Hải bị chết, ít ngày kế cận sau đó thì con trai của ông lại bị tai nạn giao thông rất may là qua cơn nguy kịch.

Chưa ai hiểu đâu là nguyên nhân và thực hư mọi việc, nhưng lời đồn thổi về giếng "thần", chuyện yểm bùa, yểm long mạch hay thứ ma thuật gì gì đó từ trước đến giờ thì đã có. Những câu chuyện quanh giếng chợ Bà Cô thêm một lần nữa được thêu dệt, thêm bớt và không ngớt lời truyền miệng. Nhiều người đặt câu hỏi có hay không những lời nguyền truyền kiếp từ cái giếng thiêng ấy.

Nhiều thầy địa lí, thầy cúng trong vùng cho rằng sự xuất hiện con chó đá bên giếng là để canh giữ của cải. Họ đồn rằng sau khi bọn giặc Tàu thua trận và bỏ về nước, chúng có rất nhiều của cải nhưng không mang đi hết được. Vì thế chúng chôn tất cả những thứ của cải vàng bạc châu báu ấy dưới lòng giếng và yểm phép thuật để hòng không một ai có thể chiếm đoạt được. Tin đồn dưới lòng đất sâu nơi giếng chợ Bà Cô có rất nhiều vàng, vì vậy vào năm 2006, nơi đây đã xuất hiện một nhóm người đến đây thăm dò vàng.

Qua bao đời, thực hư những câu chuyện quanh giếng chợ Bà Cô chưa có ai kiểm chứng. Nhưng góp nhặt những câu chuyện xung quanh cái giếng ẩn chứa, hiện hữu thần linh càng làm cho nét văn hóa tâm linh bản địa nơi đây thêm phần phong phú

Gửi Phúc Định :
ANh em mình làm 1 chuyến nhé

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: VIÊN NGỌC QUÍ
Đã gửi: Thứ 3 13/12/11 11:22 

VIÊN NGỌC QUÍ

Tổ Bát Nhã Ba La Mật được nhà vua dâng cúng một hạt bảo châu vô giá. Vua có ba vị hoàng tử. Tổ cầm ngọc hỏi các vị hoàng tử rằng:

- Trên thế gian này, còn cái gì quí hơn viên ngọc này không?

Hai vị hoàng tử lớn đều đồng ý với nhau rằng viên ngọc là quí nhất. Duy có vị hoàng tử út thưa:

- Bạch thầy, còn một thứ quí hơn nữa, đó là trí tuệ.

- Làm sao chứng minh được điều đó ?

- Thưa, viên ngọc này chỉ là một vật vô tri. Nó không thể tự xác định là quí hay tiện. Phải nhờ trí tuệ của loài người nhận định, nó mới trở thành một viên bảo châu vô giá ... Bằng không, nó chẳng hơn một hòn sỏi.

Tổ khen nhận. Về sau vị hoàng tử thông minh này xuất gia. Ðó chính là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma.

LỜI BÀN :

Với thế nhân của quí là ngũ dục, tức là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ. Với kẻ sĩ biết đạo thì cho của quí là những đức tính không tham, không sân ... Riêng tăng đồ nhà Phật thì quí nhất là trí tuệ. Chính nhờ có trí tuệ soi thấu rõ bản chất của vạn hữu mà chúng ta mới biết được tính chất vô thường, huyển ảo của ngũ dục. Cũng nhờ trí tuệ mà chúng ta hiểu ra rằng thiện, ác, tốt, xấu, thị phi ... chỉ là những phân chia giả định của loài người ... Và cũng chính trí tuệ là cái bền vững còn lại giữa thế gian vô thường sinh diệt này. Có lẽ vì thế mà trong Kinh điển nhà Phật thường nhắc đi nhắc lại rằng: "Duy tuệ thị nghiệp" nghĩa là "Chỉ có trí tuệ là sự nghiệp" chăng ?

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 13:12 

Y PHÁP BẤT Y NHÂN : Nghĩa là y theo giáo pháp, chẳng y theo người. Theo cách giải thích thông thường, Phật pháp là chân lý, quý giá và khó gặp, vì thế không nên đối chiếu, tỵ hiềm nơi tư cách người nói pháp để rồi bỏ lỡ cơ hội nghe pháp, tự thân mất sự lợi lạc. Cứ y theo giáo pháp của Phật mà tu hành, người nói ra giáo pháp ấy tốt hay xấu không quan trọng. Tuy nhiên, kinh Đại Bát Niết Bàn nói cụ thể hơn về vấn đề này, y pháp bất y nhân có nghĩa là y chỉ vào Pháp tánh tức Phật tánh, Như Lai vì pháp tánh thường trụ, không y chỉ vào người (nhân) vì là hữu vi tức vô thường, sanh diệt.

Y NGHĨA BẤT Y NGỮ : Nghĩa là y theo nghĩa lý, không y theo ngôn ngữ văn tự. Phật thuyết pháp với ý nghĩa sâu xa nhằm biểu đạt và thể nhập chân lý. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ diễn đạt Trung đạo đệ nhất nghĩa, giúp người tu nhận ra chân lý để hành trì và thân chứng, bởi thế không nên bám víu và quá cố chấp vào văn tự, vì “Ngôn dĩ tải đạo” mà thôi.

Y TRÍ BẤT Y THỨC : Nghĩa là y theo trí tuệ, không y theo vọng thức phân biệt. Chỉ có trí tuệ mới nhận chân được chân lý, thực tại còn vọng thức là thấy biết theo nghiệp, có tính tương đối và đa phần sai lầm. Chỉ có trí tuệ mới đầy đủ công năng quét sạch phiền não, thanh tịnh ba nghiệp. Còn thức dẫu thông minh, nhạy bén và lanh lợi đến đâu đi nữa cũng là sanh diệt, hư vọng và không đủ sức giác quán để chuyển hóa, diệt trừ phiền não. Vì vậy, “Duy tuệ thị nghiệp” chính là phương châm tu học của hàng đệ tử Phật.

Y LIỄU NGHĨA KINH BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA KINH : Nghĩa là y theo các kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo các kinh điển không liễu nghĩa. Theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, kinh điển được Phật tuyên thuyết tùy căn cơ chúng sanh nên có cao thấp, khác biệt. Dù mục tiêu cứu cánh vẫn là giải thoát sanh tử, song trên tinh thần phương tiện thì những kinh điển thuyết minh về con đường thể nhập Nhân thừa, Thiên thừa v.v… được gọi là kinh bất liễu nghĩa (chưa nói hết ý nghĩa thâm diệu, toàn triệt của giáo pháp). Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị giải thoát viên mãn (Phật quả) là kinh liễu nghĩa. Người tu hướng về Vô thượng Bồ đề, tất nhiên phải y cứ vào kinh liễu nghĩa để hành trì nhằm thành tựu giác ngộ rốt ráo, thành Phật.

Việc ứng dụng giáo lý Tứ y vào trong thực tiễn tu tập cực kỳ quan trọng. Chính giáo lý Tứ y đã vạch ra những yếu tố quan trọng cần phải nương tựa, y theo và những vấn đề không nên y cứ, nhằm vượt qua hết thảy chướng ngại để thành tựu Phật quả. Mặt khác, giáo lý Tứ y là một phương tiện thù thắng giúp cho người tu vận dụng giáo pháp một cách thông minh, linh động và nhuần nhuyễn đồng thời khai thác hết những tinh túy, đặc sắc của giáo lý để ứng dụng tu tập. Giáo lý Tứ y cũng chỉ là một phương tiện trong vô vàn phương tiện khác của giáo pháp, vì thế khi ứng dụng giáo lý Tứ y cũng cần sự linh hoạt, nhất là cần phải hiểu một cách chính xác vì :

Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN
LY KINH NHẤT TỰ TỨC ĐỒNG MA THUYẾT



Gửi các Đạo Hữu,

COLONY xin cảm ơn tất cả những lời chia sẽ của các đạo hữu : PĐ, DĐ, TM...bản thân COLONY cũng chỉ là một tu sinh đang trong quá trình nghiên cứu tu trì Mật Pháp nói về tuổi đời thì COLONY nhỏ hơn Sư Huynh TM, Sư Tỷ DĐ, còn Huynh PĐ chắc có lẽ là bằng tuổi, nói về kinh nghiệm tu tập Mật Pháp thì COLONY cũng chỉ mới nghiên cứu cũng chỉ hơn 03 năm thôi về cả đường đời & đạo COLONY là hậu bối nên rất cần được sự chia sẽ đóng góp ý kiến của các vị đi trước hầu ngày càng tốt hơn.

COLONY xin được mở rộng lòng từ hoan hỷ đón nhận tất cả những đóng góp & chia sẽ hết sức chân thành và chân tình của các chư đạo hữu dù cho sự chia sẽ đó có chưa đúng hay đúng thì nó không quan trọng bằng sự cảm ngộ của COLONY có được sau khi đọc các bài chia sẽ đó.

Mong muốn rằng diễn đàn luôn là nơi chia sẽ để mục đích cuối cùng là các chư vị đạo hữu đều làm sao chọn cho mình 1 con đường phù hợp với căn cơ của mình mà nhất tâm quyết chí bước đến cùng để quay về với bờ giác tri kiến Phật.

Thanks All

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: ĐẠO PHÁP
Đã gửi: Thứ 6 16/12/11 12:40 

ĐẠO PHÁP !

Đạo là gì ?

Đạo là điểm tựa tâm linh ,khi con người hay vạn vật đang bị chao đảo trong cuộc đời ,trong sự nghiệp hay cuộc sống thì họ tìm đến đạo là nơi dựa vào tìm lối thoát ,đạo là phương hướng kim chỉ nam để dìu chúng sanh bước ra khỏi bóng tối của cuộc đời ,và cũng xoa dịu những nổi khó khăn đau khổ ,cũng là giọt nước cam lộ tưới mát cuộc đời khi chúng sanh ko còn chổ bám để tiếp tục trên con đường hành trình.

Đạo là lẻ đúng mà từ tâm của con người nhận định hướng đến ,của từng cá nhân,những đạo lý đó sẽ trôi dần đến nhau ,cùng nhau kết lại thành từng phe ,từng phái ,từng môn cùng nhau phát triển thành bè bơi về một hướng thích hợp.

Đạo chính là chiếc bè để chúng sanh ngồi vào đưa chúng sanh qua sông mê đang đầy sóng gió ,người bước vào đạo là lòng tự nguyện bám vào mạn thuyền cùng ra khơi ,một khi đã ra khơi rồi phải đưng đầu với sóng gió mà do nghiệp lực của bản thân từ trong nhiều kiếp hay trong hiện tại luôn nổi lên như muốn dìm hết tất cả những con thuyền đạo trong con người.

Đạo đi đôi với lòng tín có nghĩa là tin ,ngưỡng là tôn sùng ,tin vào đạo lý do một vị đứng đầu với lòng tôn sùng kính trọng.Tin rằng với giáo lý của vị này sẽ dẫn dắt chúng sanh bước qua được ,giải thoát qua được những sóng gió.

Đưa hết thảy đến bờ giác ngộ .Đạo do con người đặt ra để mở rộng con đường giải thoát ,các đạo như đạo phật ,đạo cao đài ,đạo hòa hảo ,đạo thiên chúa ,đạo tin lành mỗi đạo đều là phương tiện để chúng sanh dựa vào mà thôi ,mỗi đạo sẽ có những phương pháp giáo lý khác nhau để chúng sanh tu tập riêng biệt miễn đó là thuốc cứu chúng sanh khi bị nguy cơ.

PHÁP

Pháp là những phương pháp cứu độ ,ví dụ thanh tịnh bên phật giáo thì tụng kinh niệm phật để thanh tịnh ,có người đọc thần chú. Có người ngồi thiền ,có người lạy lễ ,họ làm đủ cách để mong cho tâm bình an thanh tịnh ,chỉ để thanh tịnh thôi .

Thường ngày họ đã xáo trộn làm ko ít việc trái với lương tâm ,hoặc bị tác động quá nhiều làm tâm bất an rồi ,thì những phương pháp cứu tâm là liều thuốc cứu độ tâm. Tuy nhiên rất nhiều pháp môn để giải cứu đó, ko ai có thể phân nổi đâu là pháp chánh hay pháp tà.

Thế nào pháp chánh pháp tà ?

Bây giờ trước tiên tôi nói đến chánh đạo ,hồ ly tu đưa ra đạo pháp nó nói tôi tu chánh ,yêu ma đưa ra đạo pháp thì nói tôi tu chánh, cũng như cái hình bùa kia thô thiển kia cho là chánh pháp .chánh pháp là cái thực tiển một góc độ bản thân cho là chánh pháp.

Tà pháp khi người đối diện nhìn vào thấy chói con mắt gọi là tà pháp ,đối với đạo phật lấy tinh túy trong sáng của con người ,dạy con người sống yêu thương hòa thuận chứ ko dạy con người lấy trụy lạc để làm nền tảng tu học trên bùa chú.

Chánh pháp là thuận tâm có lý pháp mà bản thân cho là đúng ,hợp với đạo lý mình ,còn tà pháp là chỏi với lương tâm đạo đức ,là phương pháp dẫn chúng sanh đi vào mê muội ,âm u.

Vì vậy đạo đi đôi với cứu độ mà cứu như thế nào tùy theo đạo của từng cá nhân ,nơi nào hợp với cá tánh sẽ nhập vào đó ,tà tâm đi với tà đạo ,chánh tâm đi với chánh đạo.

Chánh hay tà đều có pháp giáo lý ,bên nào cũng sẽ đắc ở cách tu bên đó ,vì vậy loài yêu ma ma cũng đắc thành bên đạo của chúng ,và chúng chuyên đi phá phách ganh tỵ ,sân si,hại người hại chúng sanh ,mà ko ai thấy chúng là yêu ma .vì nó cũng nói tôi tu mà , cũng niệm A DI ĐÀ PHẬT nhưng khi hành thì mỗi người lại có cách đi riêng.

Người phàm phu hay ham mê gì thì chúng sẽ thuận cho nấy để dìu chúng sanh bước dần vào ma đạo ,cứ theo mong cầu của chúng sanh mà hiện.
Chúng sanh cứ như vậy bước lần bán linh hồn cho ngã quỷ cũng ko hay. Con vật tu ngàn năm để thành người trong khi đó chúng ta đã là người lại ko tu thì uổng phí một kiếp người.
Tu chánh hay tu tà do con người tự quyết định và lựa chọn ko ai bắt buộc ,vì ai cũng có ý thức ,trí tuệ để phân biệt .Tuy nhiên nhiều người đến chết cũng ko ngộ trong khi đứa bé lên ba đã biết đạo lý rồi.

Đạo nào cũng sẽ có những giới luật riêng để răn dạy giáo dục chúng sanh để ko bị vi phạm tội lỗi đạo vo vi là đạo phải có ý thức hành thiện chứ ko trói ,nghĩa là nhìn vào biết hành thiện hay hành ác chứ ko cần nhắc nhở giới cấm.

Ngày xưa những vị tu trên núi hay kể lại rằng rắn chuột bất kể con nào tu cũng có ngọc ,hạt ngọc đó do tu luyện trí tuệ mà thành ,nó cũng có tỏa hào quang ,nhưng loài vật tu thành,tánh nó vẫn nóng nảy tàn ác ,chỉ còn ý thức thiện thì sẽ hóa thành người ,loài vật có thể xuất nhập thể nhưng ko thể biến thành người hẳn ,nên mới có điển linh thú.

Những người tu thiền cũng đạt tỏa ánh sáng hào quang ,ánh sáng đó khiến quỷ ma tà đạo nhìn thấy phải sợ kính trọng ,người bình thường ko thấy nhưng súc phạm trúng người có tỏa hào quang sẽ bị xuống một bật giới tu ,nên làm người có đầy đủ đều kiện nên phải cố gắng tu đó là con đường giải thoát.
__________________

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 23/12/11 19:18 

Tỷ ơi nút Thank nằm ở bên dưới phải bài viết có mặt cười mầu vàng và có chữ Thank you ấy. Tỷ nhấp vào nút ấy là được.

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: VẤN NẠN
Đã gửi: Thứ 4 21/12/11 23:19 

1- Vấn nạn về tình yêu

Tình yêu, theo quan niệm của con người, là điều gì đó rất cao đẹp, rất lý tưởng. Song, tình yêu sẽ không có ý nghĩa và không thể định nghĩa ngoài những hành động yêu thương. Và, như đã nói, tình yêu là điều gì đó rất cao đẹp, rất lý tưởng, nhưng sự thể hiện của tình yêu lại là những gì rất trần tục. Và, như Plato đã nói, trong tình yêu bao giờ cũng chứa đựng mầm mống của sự yêu thích về tình dục. Cho đến khi tình dục được thỏa mãn, thì tình yêu trở thành bóng đêm

Như vấn nạn đã đặt ra, hẳn bạn đã hiểu đó là tình yêu gì rồi. Thực ra, tình yêu không phải là một sự hiến dâng tất cả như người ta nghĩ. Trong tình yêu bao giờ cũng có một cặp điều kiện, đó là yêu và được yêu. Yêu là một động lực bộc phát từ tâm thức, còn được yêu là một nhu cầu từ cảm thọ. Một người yêu, nếu không được yêu thì sẽ rơi vào khổ đau, thất tình. Người được yêu, nếu không yêu thì sẽ đánh mất tình yêu. Từ đó cho thấy rằng, tình yêu của con người bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở cái tôi và cái của tôi. Đó chính là cái tự ngã ở môỵi con người. Và chính cái tự ngã đó là cơ sở của mọi sự khổ đau. Nếu tình yêu thật tình là một sự hiến dâng không vị kỷ, tức không có nhu cầu nào trong tình yêu, thì đó quả thực là một tình yêu cao thượng, một thứ tình yêu sẽ sinh khởi hạnh phúc và bình an cho tất cả mọi người. Nhưng thực tế điều đó hiếm thấy. Vì lẽ, khi yêu thương, con người luôn chôn cất một bí ẩn trong lòng, đó là "nhu cầu được yêu", hay nói khác hơn là một sự đáp trả về tình yêu. Vì thế, chúng ta thấy rằng sự yêu thương của con người như là một nhu cầu của tâm thức mà tính khí của nó là sự trao đỗi qua lại. Đây không phải là tình yêu cao thượng và chân thật, vì nó có thể mất đi khi lòng người thay đỗi.

Trái lại, bản chất của tình yêu là một hạt giống vốn có đang nằm yên trong chiều sâu của tâm thức. Nó có thể trôỵi dậy bất cứ khi nào và ở đâu nếu gặp nhân duyên. Và nó cũng không bao giờ mất đi trong tâm thức của môỵi con người. Con người có thể chỉ đánh mất tình yêu khi có nhu cầu được yêu. Ngược lại, khi nhu cầu đó được buông xả, thì tiềm lực yêu thương luôn luôn có mặt trong con người. Vì đó là một đặc trưng của nhân tính. Nguồn mạch của tình yêu đó là không biên giới. Và như từ đầu đã nói, một tâm hồn nếu thiếu vắng sự yêu thương, thì ở đó chính là hỏa ngục. Nhưng nếu một tâm hồn khởi sự yêu thương theo kiểu trao đỗi qua lại, thì ở đó chính là cội nguồn của sự khổ đau. Do đó, tình yêu, theo quan niệm của Phật giáo, luôn luôn được xây dựng trên cơ sở của một tâm thức không bản ngã và không vị ngã. Nghĩa là chỉ có nguồn lực yêu thương chứ không có nhu cầu được yêu thương.

Nếu một lúc nào đó, bạn thất vọng trong tình yêu thì hãy nghĩ đến tiềm lực yêu thương của chính mình. Tiềm lực đó không bao giờ mất ; nó luôn luôn hiện hữu trong môỵi con người. Như thế, tình yêu cao thượng là một tình yêu không có tình dục, không có nhu cầu - đó là một sự hiến dâng và ban rải thật sự. Hãy yêu thương nhau bằng tình yêu cao thượng!

2- Vấn nạn về khổ đau và hạnh phúc

Mục đích của đời sống con người là hạnh phúc. Như một số người quan niệm, hạnh phúc là sự thỏa mãn các dục vọng. Nhưng sự thật của con người là dục vọng không bao giờ được thỏa mãn. Và, thực tế cho thấy rằng, càng đi tìm kiếm sự thỏa mãn các dục vọng, thì càng xa rời hạnh phúc. Vậy làm sao để có hạnh phúc ?

Trước hết, bàn về dục vọng. Theo Maslow, dục vọng của con người được chia thành 5 loại nhu cầu, đó là : 1) Nhu cầu sinh lý cơ bản, như ăn, ở, vệ sinh, tình dục... 2) Nhu cầu bảo toàn tính mạng. 3) Nhu cầu văn hóa-xã hội. 4) Nhu cầu được kính trọng, và 5) Nhu cầu tự khẳng định mình, hay còn gọi là nhu cầu bùng nỗ cá nhân. Nếu con người được thỏa mãn các nhu cầu trên, sẽ tìm được hạnh phúc. Và nếu như thế, sinh mệnh hạnh phúc của con người bấp bênh quá. Vì lẽ, sự thật, con người thường chỉ bất lực trước tình dục chứ không nhàm chán tình dục, trừ phi chuyển hướng tu tập ; con người chỉ bất lực trước cái chết chứ không ai muốn chết, trừ phi tự vẫn vì tuyệt vọng v.v... Đó là chưa nói đến sự lao đao, bôn ba để tìm kiếm một sự thưởng thức văn hóa, một sự được kính trọng, một địa vị xã hội v.v... Và tất nhiên, không ai có thể tìm kiếm được cái mình muốn mà không trải qua khổ đau hay là một sự trả giá, một sự đánh đỗi ; và khi đã tìm kiếm được rồi, nắm giữ nó cũng không phải là chuyện dễ. Ngay cả những việc "đơn giản" nhất của đời người như ăn, ở, vệ sinh.. cũng không phải là chuyện nhỏ. Để có ăn, được ăn và ăn ngon v.v..., con người phải đánh đỗi một chi phí cuộc đời - có cả mồ hôi và nước mắt. Tuy nhiên, cái vĩ đại nhất của con người là năng lực và ý chí ; họ có thể vượt qua tất cả để thành tựu mục tiêu của mình. Nhưng không vì vậy mà ai cũng tìm được hạnh phúc thực thụ. Tuy nhiên, hạnh phúc không phải là cái gì xa xôi, viển vọng. Tùy theo quan điểm của môỵi người mà hạnh phúc được thiết lập theo những thế cách khác nhau. Có người cho rằng có tiền là hạnh phúc ; hoặc có tình là hạnh phúc ; hoặc có cả hai là hạnh phúc ; hoặc không có gì hết là hạnh phúc như theo cách nói của một triết gia rằng : "Đến một lúc nào đó, tôi không còn bất kỳ một nhu cầu nào trên thế gian này, lúc đó tôi sẽ trở thành một người hạnh phúc nhất trần gian".

Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng, yếu tố hạnh phúc không phải là từ ngoài đem đến, mà nó được sinh khởi từ tâm thức. Cũng như tình yêu, hạnh phúc và khổ đau là hai yếu tố vốn thường trực trong môỵi con người. Vấn đề là ở chôỵ phải làm thế nào để nhận diện được nó trong một ý nghĩa trong sáng nhất. Con người đánh mất hạnh phúc thường là do mong muốn một hạnh phúc cao hơn hạnh phúc mà mình đang có. Nghĩa là, họ chỉ sống, khát vọng theo cái mình chưa có, chứ không phải sống theo và như cái mình đang có. Với một khát vọng như thế, tất yếu sẽ đưa đến khổ đau. Do vậy, ở đây đòi hỏi một sự thức tỉnh để tiếp nhận hạnh phúc từ đời sống thực tại - một đời sống không bị chi phối bởi những nuối tiếc quá khứ, cũng không bị chi phối bởi những khát vọng tương lai, một cuộc sống bây giờ và ở đây. Điều này không thể nói mà phải thực hành. Một ngày nào đó, chúng ta ngồi lại, dừng nghỉ mọi vọng tưởng và cứ nhìn lại cuộc sống hiện có của mình và hãy sống với cái hiện có của mình thì hạnh phúc sẽ đến ngay. Đó là một thứ hạnh phúc chỉ cóᠴrong thực tại, một thứ hạnh phúc không cần đi tìm kiếm. Và, nên nhớ rằng hạnh phúc và khổ đau là hai mặt của đời sống. Nhưng khổ đau chính là những chất liệu của hạnh phúc. Nếu không biết đến những giá trị của khổ đau, sẽ không bao giờ tìm được hạnh phúc.?

3- Vấn nạn về giá trị

Con người bao giờ cũng tìm kiếm những giá trị của cuộc sống, như : giá trị của hạnh phúc, của tình yêu, của vật chất, của tiền tài, của danh vọng v.v... Và ý nghĩa của đời sống con người chính là sự nối kết của các giá trị đó. Dựa trên cơ sở của những giá trị, con người luôn mong muốn tìm kiếm và xây dựng một giá trị vĩnh hằng. Vì thế, có hai giá trị được bàn đến, đó là giá trị lâm thời và giá trị tuyệt đối.

Thoạt tiên bàn về giá trị lâm thời hay còn gọi là công ước. Giá trị công ước của một vật thể chính là tính chất và tác dụng cơ bản của vật thể đó. Cũng như giá trị của đồng tiền là dùng để mua bán, trao đỗi thông qua sự xác định giá trị của sản phẩm, hàng hóa. Nhưng trong lĩnh vực tâm lý, giá trị luôn luôn biến đỗi tùy theo những trường hợp khác nhau và các giá trị mới luôn luôn được ra đời để thay thế cho những giá trị cũ. Có khi những giá trị mới là sự phát triển theo chiều hướng tích cực và có ý nghĩa hơn giá trị cũ. Cũng có khi những giá trị mới lại là sự suy thoái và biến thái của những giá trị cũ. Tỉ dụ, giá trị của cái tivi ngày nay sẽ cao hơn giá trị của cái tivi cách đây 50 năm. Đây là trường hợp của giá trị mới phát triển từ giá trị cũ. Trong trường hợp khác thì ngược lại. Tỉ dụ, giá trị của danh hiệu cử nhân ngày nay thì không bằng giá trị của danh hiệu cử nhân cách đây 30 năm, mặc dầu về phương diện giáo dục ở học đường ngày nay tiến bộ hơn trước đây rất nhiều. Trong một số trường hợp đặc biệt, thì giá trị cũ hoàn toàn được thay đỗi bằng giá trị mới, mà không có một sự kế thừa nào. Tỉ dụ, giá trị của hôn nhân ngày nay là do tình yêu của đôi lứa quyết định, chứ không phải do cha mẹ quyết định như ngày xưa. Điều đó cho thấy rằng các giá trị mà con người quy ước với nhau đều mang tính cách lâm thời. Có thể nói, mọi giá trị công ước của con người đều giống như giá trị của cái áo mới, nó sẽ phai tàn theo thời gian, và mất đi khi cái áo rách nát không còn sử dụng được nữa.

Ngược lại, giá trị tuyệt đối là giá trị chân thật, nó vượt ra mọi khuôn khổ, quy ước của con người, và nó tồn tại siêu thời gian, vĩnh hằng, bất tử. Đó là các giá trị chân lý, đạo đức, nhân bản, truyền thống và tình người v.v... Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả vẫn là giá trị của chân lý, của sự thật. Vì thế, mọi giá trị trong đời sống của con người, nếu được xây dựng trên cơ sở của chân lý thì đương nhiên sẽ tồn tại. Nhưng chân lý đó là gì ? Đó chính là sự thật vô thường, sự thật vô ngã. Nếu tình yêu được xây dựng trên đạo lý vô thường thì đương sự yêu đương đó sẽ không bao giờ tuyệt vọng khi mất đi người yêu hay tình yêu của người mình yêu (Em đi bỏ lại con đường, Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em - nhạc Trịnh Công Sơn). Nếu khổ đau được xây dựng trên đạo lý vô ngã, thì chỉ có khổ đau chứ không có cái "tôi khổ đau" và cái "tôi hết khổ đau". Trái lại, con người ta sẽ khổ đau vô cùng khi xem tình yêu như là một giá trị vĩnh hằng. Vì tình yêu thực sự là vô thường, nó sẽ mất đi khi lòng người thay đỗi. Sự ôm ấp và tiếc nuối về cái đã mất chính là nguyên nhân gây ra khổ đau. Cũng vậy, nếu khổ đau được dựng trên một bản ngã - ("cái tôi khổ" và "cái khổ của tôi") - thì khổ đau sẽ tăng lên gấp vạn lần. Do đó, mọi giá trị của nhân gian cần thiết được soi sáng bởi giáᠴrị của chân lý vô ngã, vô thường. Đức Phật dạy : "Tất cả pháp là vô thường. Tất cả pháp là vô ngã". Tất cả hiện hữu trên thế gian này luôn luôn thay đỗi, biến động như sự trôi chảy của một dòng sông. Tình yêu, hạnh phúc, khổ đau... cũng diễn ra như sự trôi chảy của một dòng sông.?

Khả tính vô biên của tình yêu

Tình yêu là một chủ đề nhiệm mầu nhất của cuộc sống. Nó luôn luôn mới lạ. Con người không thể sống mà không có tình yêu. Đó là tình yêu mình, yêu người, yêu đồng loại và dị loại. Tình yêu là lẽ sống đặc thù của con người. Vì, trong tình yêu, có cả lý trí và con tim. Con người sẽ không phải là người nếu không có tình yêu. Giá trị của tình yêu có mặt ở mọi góc độ của cuộc sống, như trong triết học, trong đạo đức, luân lý, trong văn học và văn hóa xã hội, và, vượt lên trên tất cả, là trong sự hiện hữu thiêng liêng của con người.

I/- TÌNH YÊU GIỮA NHÂN GIAN
1- Sự biểu hiện của tình yêu

Như chúng ta biết, nói đến tình yêu là nói đến một đặc tính chung nhất về con người, về trái tim của con người và về cách cư xử của con người với con người, cũng như với muôn loài. Vì lẽ đó, từ đặc tính chung nhất và phỗ quát này, nó được biểu hiện qua nhiều thể cách khác nhau tùy theo môỵi đối tượng khác nhau, như tình mẹ con, tình cha con, tình anh em, tình bạn bè, tình thầy trò, tình hàng xóm, tình quê hương, tình xứ sở, tình đồng loại, tình dị loại v.v... Ở đây, tính chất và đặc trưng của tình yêu sẽ biến đỗi, tùy theo mối quan hệ khác nhau mà nó có những sự biểu hiện khác nhau. Tỉ dụ, tình yêu giữa mẹ và con, sự biểu hiện của nó sẽ khác với sự biểu hiện của tình yêu giữa cha và con ; tương tự như thế, đối với tất cả sự biểu hiện của tình yêu. Và tất nhiên, sự biểu hiện khác nhau đó được xuất phá từ hai điểm cơ bản : thứ nhất là điểm nhìn, thứ hai là trái tim yêu thương. Do thông qua điểm nhìn mà trái tim yêu thương được biểu thị khác nhau qua hành động yêu thương khác nhau, như sự khác nhau giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu bạn bè. Tuy nhiên, ở đây có một giá trị chung nhất cho mọi sự khác biệt trong biểu hiện của tình yêu, đó là sự rung động của trái tim hay sự phát khởi tình người từ trong chiều sâu của tâm thức. Sự rung động đó được diễn ra trong sự nối kết của các giá trị thuộc về lý trí, như nhận thức, hiểu biết, cảm thông... và con tim, như tình cảm, cảm xúc, cảm thọ... Do đó, nếu tình yêu nghiêng về lý trí, thì lý trí sẽ dắt dẫn con tim, và ngược lại, nếu nặng về con tim (tức tình cảm...) thì con tim sẽ dắt dẫn lý trí. Đây là hai thể cách yêu thương cơ bản của con người.

2- Tình yêu theo tiếng gọi của lý trí

Đây là một loại tình yêu cao thượng hay còn gọi là tình yêu triết học. Từ triết học (philosophy) theo nghĩa gốc của Hy Lạp, có nghĩa là tình yêu đạo lý và tri thức - Philos là tình yêu ; sophia là đạo lý, tri thức - gọi chung là yêu đạo lý, tri thức. Trên bình diện lý trí, đây là tình yêu cơ bản của con người. Song, vấn đề đạo lý ở đây lại tùy thuộc vào quan điểm của môỵi nền văn hóa khác nhau của môỵi dân tộc khác nhau, cũng vậy đối với tri thức. Nhưng dù sao thì giá trị cơ bản vẫn là đạo lý của con người và tri thức của con người. Ở đây, con người đóng vai trò trung tâm, nghĩa là, con người đặt ra đạo lý, và phải tuân thủ theo đạo lý đó. Mọi đạo lý sai lầm do con người đặt ra, như đạo lý cực đoan của một số tôn giáo, sẽ bị tự đào thải theo thời gian.

Cũng vậy, tình yêu theo tiếng gọi của lý trí là tình yêu mà sự biểu hiện của nó không bao giờ vượt qua biên giới của luân lý, đạo đức do lý trí của con người đặt ra. Chẳng hạn, một người con trai và một người con gái cùng cha cùng mẹ thì không thể yêu thương nhau và đối xử với nhau theo cách biểu hiện của tình yêu đôi lứa. Hoặc trong trường hợp của tình yêu đôi lứa, nếu không có sự tôn trọng những điều thiện cơ bản như chung thủy với nhau, giữ tiết hạnh cho nhau v.v.. thì được gọi là vượt qua biên giới của luân lý, đạo đức - tức là đã rơi vào tội lôỵi. Vì thế, đây được gọi là tình yêu cao thượng, tình yêu cơ bản của con người. Tương tự như thế đối với các loại tình yêu trong các mối quan hệ với nhau.

3- Tình yêu theo tiếng gọi của con tim

Chúng ta tự ngầm hiểu với nhau, con tim ở đây là tình yêu nghiêng về tình cảm, cảm xúc, cảm thọ... ; nó nặng về bản năng dục vọng của con người. Đây là một loại tình yêu không hoặc ít được soi sáng hay dắt dẫn bởi lý trí. Một loại tình yêu như thế rất vị kỷ, rất dễ rơi vào lôỵi lầm. Tỉ dụ, một người mẹ vì quá yêu thương con nên chìu chuộng con, và để mặc nó làm bất cứ điều gì theo ý muốn, mà không cần quan tâm đến vấn đề luân lý, đạo đức. Như thế là một sự yêu thương mù quáng. Sự yêu thương đó sẽ đưa đẩy con người vào tội lôỵi tùy theo mức độ khác nhau. Và đối với con người, tất cả mọi người, tình yêu theo tiếng gọi của con tim dường như lúc nào và ở đâu, nó cũng có mặt. Nó là một yếu tố thường trực ; hay nói khác đi, nó luôn gắn liền với đời sống tình cảm cáᠴhể của môỵi con người. Thực tế cho thấy rằng, người ta sẽ không hoặc ít nghiêm khắc với nhau, hay dễ tha thứ cho nhau khi đứng trước một tình cảm cáᠴhể. Ngay cả khi dùng lý trí để vượt qua nó, thì chính cái tình cảm cáᠴhể đó cũng làm cho tâm hồn dao động. Đây là lý do của nguyên tắc "quân pháp bất vị thân" ra đời.

II/- TÌNH YÊU TRONG PHÁP THỂ CỦA PHẬT
1- Tình yêu - mặt trời trên đỉnh non cao

Đức Phật là một hiện thân của tình yêu cao thượng, vượt lên trên khuôn khổ của tình yêu trong lý trí và con tim nhân gian. Tình yêu đó chính là tình yêu - như mặt trời trên đỉnh non cao. Khi phủ chiếu ánh sáng suốt trần gian, cũng đồng thời nó soi sáng tất cả sự thật ở trần gian. Thế có nghĩa là, trong tình yêu đó không có bất kỳ một dấu vết nào của "bóng tối". Do đó, nó là hiện thân của "khả tính vô biên của tình yêu" mà lát nữa chúng ta sẽ nói đến. Ở đây, tình yêu - như mặt trời trên đỉnh non cao này, chính là biểu hiện của một sự toàn tri (giác ngộ) về những điên đảo của con người, như điên đảo tâm, điên đảo tình và điên đảo tưởng. Và từ sự toàn tri đó, mà Đức Phật sinh khởi nên một tình yêu mênh mông bao la như đại dương đối với muôn loài chúng sinh. Sự thể này đã được nói đến trong kinh Lankàvatàra (Lăng Già) như sau :

Kệ số một :

"Thế gian ly sinh diệt
Do như hư không hoa
Trí bất đắc hữu, vô
Nhi hưng đại bi tâm"

Nghĩa : "Thế gian vượt khỏi sinh và diệt, giống như bông hoa giữa hư không, trí tuệ không thể được xem là có hay không, vì biết rõ như vậy nên khả tính vô biên của tình yêu thức tỉnh".

Kệ số hai :

"Nhất thiết pháp như huyễn
Viễn ly ư tâm thức
Trí bất đắc hữu, vô
Nhi hưng đại bi tâm"

Nghĩa : "Mọi hiện hữu đều như là huyễn mộng, nó vượt khỏi vòng cương tỏa của tâm thức, trí tuệ không thể được xem là có hay không, vì biết rõ như vậy nên khả tính vô biên của tình yêu thức tỉnh".

Kệ số ba :

"Viễn ly ư đoạn thường
Thế gian hằng như mộng
Trí bất đắc hữu, vô
Nhi hưng đại bi tâm"

Nghĩa : "Xa rời các kiến chấp về đoạn diệt hay thường hằng, thế giới này như là giấc mộng, trí tuệ không thể được xem là có hay không, vì biết rõ như vậy nên khả tính vô biên của tình yêu thức tỉnh".

Kệ số bốn :

"Tri nhân, pháp vô ngã
Phiền não cập nhĩ diệm
Thường thanh tịnh vô tướng
Nhi hưng đại bi tâm"

Nghĩa : "Luôn biết rõ như vầy, nhân không và pháp cũng không ; rằng phiền não và các đối tượng của nó từ bản chất vốn thường thanh tịnh, vô tướng, vì biết rõ như vậy nên khả tính vô biên của tình yêu thức tỉnh".

Thông qua bốn bài kệ này, hẳn chúng ta thấy rõ cội nguồn tình yêu bao la của Phật là vượt lên trên tất cả sự sinh và diệt, sự có và không của thế gian. Rồi, cũng trên mặt đất gồ ghề của trần gian, một mặt đất chứa đầy những bông hoa sinh diệt liên hồi, những tuồng kịch như mộng, như huyễn hóa ; và rốt cuộc là những kịch trường mà người không và hiện hữu cũng không, ngay ở đó, khả tính vô biên của tình yêu thức tỉnh và phủ lấp xuống trần gian mênh mông bao la.

2- Khả tính vô biên của tình yêu

Vì hoàn toàn bất lực trong việc giải thích khả tính vô biên trong tình yêu của Phật, nên người ta tạm diễn đạt cái khả tính vô biên đó bằng tên gọi là đại từ - tức sự đem lại và ban cho nguồn an vui vô lượng, và đại bi - tức sự đem lại và ban cho cuộc sống xa rời khổ não, mà có thể gọi chung là tâm từ bi. Và dầu có được diễn đạt bằng một khái niệm nào, hay danh từ nào, thì vẫn phải thừa nhận nguồn năng lượng không cùng tận là thể tính trong tình yêu của Phật.

Ở đây, trước hết cần phải thấy rằng, khái niệm tình yêu được dùng ở đây hẳn không phải là tình yêu theo con người quan niệm. Vì lẽ, tình yêu của con người luôn luôn được xây dựng trên "cái tôi", "cái của tôi" và "cái tự ngã của tôi". Đó là một tình yêu vị kỷ và vị ngã, một thứ tình yêu rất vô thường và sớm chóng vánh đỗi thay.

Ngược lại, tình yêu được nói đến ở đây hoàn toàn khác biệt với tình yêu trong tâm lý rất đảo điên của người đời. Tình yêu đó được đặt trên căn bản của một tâm thức không bản ngã. Nó sinh khởi từ một cái "thấy như thực" (yathabhùtam) rằng : "Thế giới này sinh và diệt liên hồi như bông hoa giữa hư không ; rằng, tất cả sự vật trên đời này biến đỗi không ngừng như giấc mộng lắm phù du huyễn hóa ; và rằng, bản chất của mộng mị, phù du và huyễn hóa đó vốn thường thanh tịnh, và thường tại vô hình". Đó là một cái nhìn đã "viễn ly ư tâm thức", một cái nhìn thoát ly ngoài "cái tôi", "cái tôi thích", "cái tôi yêu", "cái của tôi", hay nói khác đi, đó là một cái nhìn như thật, không còn mộng tưởng, điên đảo. Một tình yêu được xây dựng trên một cái nhìn như thế quả thực là vô thượng.

3- Sự biểu hiện của Pháp thể trong tình yêu vô biên

Hẳn chúng ta biết rằng, chỉ có con người của tình yêu vô biên mới có sự biểu hiện của tình yêu vô biên ; vì vậy, sự biểu hiện mà ở đây nói đến, chính là sự biểu hiện của Đức Phật. Trong kinh mô tả tình yêu đó bằng những hình ảnh sống động, thiết thực như Đức Phật xỏ kim cho một bà già, Đức Phật bế chú cừu non bị lạc đàn, Đức Phật tắm cho một thầy Tỳ kheo bị ghẻ lở... Tất cả hình ảnh đó quả thực khó mà tìm thấy ở một bậc Đạo sư với tư cách là giáo chủ của một tôn giáo trong các tôn giáo khác. Trên một bình diện cao hơn, thông qua ngôn ngữ tình yêu, chúng ta vẫn chưa tìm thấy bất kỳ một vị giáo chủ nào có thể tuyên bố rằng : "Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật" như Đức Phật đã tuyên bố. Đó chính là một sự biểu hiện của tình yêu đặc biệt và kỳ vĩ. Vì lẽ, chính lời tuyên bố đó đã phá tan mọi ranh giới của sự phân biệt, kỳ thị ; tạo nên một nhân duyên thầm kín và phơi bày cho mọi sự trùng phùng từ trong chiều sâu tâm thức của môỵi cá thể, mà không phân biệt già, trẻ, đàn ông, đàn bà, con người, con vật. Hẳn chỉ có con người của khả tính vô biên của tình yêu mới nói lên được điều đó ; và cũng chỉ có chính cái khả tính vô biên của tình yêu mới làm được điều đó.

Kính lễ Đức Phật !
Ngài là hiện thân
Khả tính vô biên của tình yêu
Tình yêu đó
Đã xóa tan mọi khổ não
Và, đem lại hạnh phúc, thanh bình thật sự
cho con người
và, cho muôn loài !
Giá trị của tình yêu đó là bất tử,
Nó vĩnh hằng trong Ngài và trong con
Như mặt trời trên đỉnh non cao
Tình yêu vô biên của Ngài
Phủ lấp cả ba nghìn thế giới.

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Thông báo chung   Tới chủ đề

Đã gửi:  

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 27/12/11 22:21 

HIỆN NAY TỔNG SỐ TIỀN MÀ PHƯƠNG DUNG ĐÃ THU ĐƯỢC CỦA CÁC ĐẠO HỮU ỦNG HỘ TỪ THIỆN TẤT CẢ LÀ ; 46.800.000 Đ ( BỐN SÁU TRIỆU TÁM TRĂM NGÀN ĐỒNG CHẴN )

-- THAY MẶT BAN QUẢN TRỊ DIỄN ĐÀN PHƯƠNG DUNG CHÂN THÀNH GỬI LỜI CẢM ƠN TỚI TẤT CẢ CÁC ĐẠO HỮU NHỮNG NGƯỜI ĐÃ PHÁT TÂM BỒ ĐỀ ĐẾN CÁC G/Đ VÀ CÁC EM HỌC SINH NGHÈO Ở HÀ GIANG

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: SẮC MẦU TÌNH BẠN
Đã gửi: Thứ 2 02/01/12 13:01 

Các bạn là những màu sắc thật tuyệt vời. Thế gian này sẽ trở nên nhàm chán nếu thiếu một trong các bạn. Nào, bây giờ hãy nắm lấy tay nhau và bước nhanh đến tôi".

Thế là thành cầu vồng 7 sắc.

Cái này nghe quen quen, cứ như chuyện đâu đó của chúng mình ấy nhẩy.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 01/01/12 0:25 


Chúc mừng các các anh chị thành viên đoàn từ thiện mật việt. Chúc các thành viên luôn mạnh khỏe nhiều niềm vui
và hạnh phúc.


 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 09/01/12 16:29 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 3 10/01/12 23:39 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 11/01/12 10:58 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 2 16/01/12 7:58 

Bạn không được cấp phép để xem chuyên mục này.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Chủ nhật 05/02/12 17:26 

"Trong thời gian đó,có lẽ nghiệp chướng nhiều,căn cơ còn kém nên chưa thấy có ấn chứng gì như các bạn đồng đạo khác."

Tu hành để tu tâm sửa tính chứ không phải xin ấn chứng. Khi thấy tính tình ngày càng thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, sống hướng thiện hơn. Đó chính là ấn chứng quan trọng nhất chứ không phải là thấy cái này, cái kia. Cứ bám vào những điều đó thì khó có thể tiến xa hơn được, đôi khi còn gặp nguy hiểm nữa.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 4 25/01/12 15:57 

Tết thời bao cấp ở khu tập thể nghèo

Cứ vào khoảng 20 tháng Chạp trở đi, không khí Tết tại các khu tập thể đã nhộn nhịp hẳn lên. Với các công chức viên thì Tết không thể quá xoàng xĩnh được, không có cũng cố sắm cái Tết cho thật tươm tất…
http://vov.vn/Uploaded_VOV/thuyhoa/20120120/xe-dap-12.jpg
Bánh chưng là khoản hàng đầu, không thể thiếu. Các bà, các mẹ rủ nhau xếp hàng mua xấp lá dong, cân gạo nếp, lạng đỗ xanh... Tại những bể nước chung, khung cảnh chung tấp nập hẳn lên với những chồng lá dong xếp hàng chờ được rửa. Những giọng cười, nói xôn xao như làm bừng sáng cả không gian, xua tan đi cái rét của tiết trời cuối đông. Những đôi bàn tay đỏ ửng vì bị buốt lạnh trong làn nước nhưng ai cũng háo hức và niềm vui kết lại trong những tiếng cười râm ran hạnh phúc.

Khu tập thể nhỏ bé, chật chội nhưng niềm vui trong những ngày tết đến xuân về lại được nhân đôi. Vui nhất là cảnh tất cả các hộ gia đình cùng gói chung một nồi bánh chưng. Không có nhiều thì ít, các hộ gia đình san sẻ để nhà nào cũng có chiếc bánh chưng từ thời Lang Liêu mà cúng tổ tiên.

Tết với lũ trẻ thật như một ngày hội lớn. Chúng được dịp trổ tài … cắt lá nối lạt. Nhưng thế cũng đã đủ để hãnh diện mỗi khi hoàn thành xong một "tác phẩm" của mình, để còn chí chóe xí phần khi bánh chín ...
http://baothaibinh.com.vn/Includes/NewsImg/1_2012/7699_Luoc%20Banh.jpg
Bên bếp lửa hồng, tiếng củi cháy tí tách reo vui. Bọn trẻ rủ nhau té chạy về nhà để tìm củ khoai, củ sắn, bắp ngô đem vùi trong than lửa để "liên hoan" cho đỡ sốt ruột. Thế rồi cái giờ phút hằng mong đợi cũng đã đến. Những chiếc bánh chưng nghi ngút tỏa hương được từ từ nhấc ra khỏi nồi nước vẫn ùng ục sôi.
http://i649.photobucket.com/albums/uu215/vanhoahoc/15z-banhchungnau.jpg
Bánh chưng không đơn giản chỉ là một món ăn mà trong đó còn chất chứa tình người nồng ấm với bao mồ hôi và công sức lao động. Một năm cũ với bao vất vả đã qua đi trong mùi bánh thơm lừng và mùa xuân đang đến rất gần trong màu lá dong mướt mắt.
http://www2.vietbao.vn/images/vivavietnam_vne/kinh_te/10964081_DSC_0005.jpg
Tết phải có đĩa bánh kẹo tiếp khách mới không ngại với bạn bè. Nhưng không phải cứ xếp hàng từ sáng đến tối là có hộp mứt hai lạng rưỡi mà hỉ hả đâu. Rồi để có được mấy đĩa bánh quy các nhà lại phân công nhau chầu chực trước lò bánh để mang về: cân bột mì, dăm quả chứng, một vài lạng mỡ thay bơ…

Thế là các gia đình chia nhau theo đúng nghĩa “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Gói mứt giống nhau y hệt, nhà nào cũng những miếng su hào mốc, bí vụn, nhân chứng chim chảy nước…, thế mà ai cũng mừng, vì đã có đĩa bánh kẹo mà tiếp đãi bạn bè cho ra cái nghĩa “ăn” Tết.
http://i679.photobucket.com/albums/vv155/fabimaxi/hafnooijtet1979.jpg
Muốn không khí Xuân tươi vui ùa vào từng căn hộ nhỏ và lan khắp khu tập thể thì việc cùng nhau đi chợ Hoa phải được lên kế hoạch ít nhất là hai ngày trước. Phố Hàng Lược - nơi chợ hoa truyền thống vẫn họp từ mấy trăm năm và trở thành nét đẹp Thủ đô - đã thành cái kho chứa của các hàng hoa “mậu dịch”. Đào Nhật Tân, quất Quảng Bá… được đưa về đây chất thành đống. Khi đưa ra bán có cành chỉ trơ lại cái thân, có cành chỉ còn tăm hoặc dăm ba cái nụ héo quắt..., vẫn mừng là còn mua được để đem về chia nhau…Cái Tết của khu tập thể nghèo tất bật, háo hức, rộn ràng là thế!

Cái Tết thiếu thốn, khổ sở thời bao cấp xưa đã trở thành giai thoại. Trong các khu tập thể giờ không nơi nào tìm thấy cảnh san sẻ cho nhau từng tấm bánh, cái kẹo nữa. Màu sắc và mùi vị Tết no ấm đủ đầy đã tràn ngập khắp nơi. Không khí Xuân bây giờ đổi thay quá nhiều. Nhưng, đối với “những người muôn năm cũ” thì mỗi khi hồi cố, những kỷ niệm của một thời thanh bần mà ấm cúng ấy vẫn xốn xang đến lạ…

http://i649.photobucket.com/albums/uu215/vanhoahoc/21Z-Phao5.jpg
http://1.bp.blogspot.com/-zkewd8kg8Qw/TwGEwvJbYRI/AAAAAAAADC0/Habm8qhzWXI/s640/0+bc+33.jpg

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: Trả lời: Cúng sao giải hạn
Đã gửi: Thứ 6 03/02/12 20:22 

"Dâng sao giải hạn" đã có từ lâu đời các đạo như Đạo Phật- Nho Giáo.... cũng đề cập đến và thực hiện theo một nghi thức nhất định.
Không phải ai năm nào cũng phải dâng sao giải hạn mà chỉ dâng sao giải hạn vào những năm có sao xấu chiếu mà thôi (một số người năm nào cũng đi dâng sao giải hạn tốn tiền mà chẳng giải quyết được vấn đề gì đôi khi còn giải cả "sao đẹp" :lol: :lol: :lol: ).
LHDP ngày mùng 9 cũng tham gia vào một buổi lễ "cúng sao hội" tư liệu thì đã có nhưng đang bận đi ta bà nên chưa up được cho các bạn tham khảo.
Tài liệu cúng dâng sao giải hạn trên web rất nhiều nhưng thực hành được nó không phải là dễ (Lễ cúng sao vừa rùi mình tham gia có khoảng 20 người phục vụ mới chay kịp đàn lễ đấy là cúng tất cả các sao còn cúng sao giáng thì ít nguời hơn),tuy nhiên thông thường chúng ta hay bỏ tiền ra rùi ghi vào danh sách gửi nên Chùa để nhà Chùa cúng sao tập thể cho mọi người, thời gian khoảng 1,5- 3h tùy thuộc vào quy mô từng đàn.
Tự mình cúng sao cho mình cũng được nhưng phải đảm bảo về năng lực của bản thân còn không thì tốt nhất là không cúng hay nhờ các vị cúng hộ (LHDP cũng ít quan tâm đến việc này thỉnh thoảng bà xã hay mẹ vợ ghi tên, gửi tiền nên Chùa cho các vị trụ trì cúng cho mình còn bản thân thấy cúng cũng được mà không cúng cũng chẳng sao).
Bên Mật tông cũng có đàn pháp về nó nhưng cũng phải nói thật với "một số vị tựu coi mình là đang tu mật tông" Đừng tưởng Tu Mật là dễ và mới tập tọe bước vào ngưỡng của của nó thì đừng tự cho mình là thông thạo có thể làm được tất cả các việc đó mới chỉ là bén duyên với Phật pháp mà thôi còn từ đó đến lúc tạm coi là biết cách Tu thì còn xa xa lắm.có một chút năng lực mà không biết đó là bị tá xác hay bị phần vô hình dẫn dụ rùi có lúc Vỡ mật vì bị Tông xe đó.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

Đã gửi: Thứ 6 23/09/11 11:27 

Tôi mới nhận được email của anh Thành là thành viên trong Hội nghiên cứu tâm linh Mỹ gửi nói về quan điểm trong việc tiếp cận thế giới siêu hình, theo tôi đây là một bài viết hay. Tôi đưa lên đây để mọi người đọc và góp ý

Một số phương pháp
tiếp cận những hiện tượng siêu hình

1- Giới thiệu:
2- Thế giới hữu hình và Thế giới siêu hình
3- Sự thị hiện của cõi siêu hình: những hiện tượng siêu hình
4- Một số nguyên lý của cõi siêu hình
5- Một số phương pháp để nghiên cứu và hiểu những hiện tượng siêu hình
6- Một số nhận định

Một số phương pháp
tiếp cận những hiện tượng siêu hình

I- Giới thiệu:

Con người từ khi có mặt trên thế gian này đã không ngừng thắc mắc về thân phận của cá nhân mình, tôi là ai, từ đâu đến, sẽ đi về đâu, … Trải qua bao cuộc đấu tranh sinh tồn, con người lại đối diện với bao hiện tượng thiên nhiên tưởng chừng như sức người không thể vượt qua, những tín ngưỡng thờ phượng các thực thể có quyền năng lần lượt được tôn vinh, tiếp theo là các tôn giáo với những giáo thuyết mang tính thần quyền được hình thành, tín đồ ngày càng đông lan rộng qua nhiều địa phương lãnh thổ. Con người bắt đầu cảm nhận dường như có một hình thái hoặc là một thế giới khác đang song song tồn tại bên cạnh thế giới hữu hình của con người.

II- Thế giới hữu hình và Thế giới siêu hình:

Thế giới hữu hình có thể được xem như vũ trụ bao gồm quả địa cầu với muôn vàn vật chất, con người, muôn thú, muôn hoa, cây cỏ, đất đai, sông núi… Là thế giới của những gì mắt có thể trông thấy, tai có thể nghe, mũi có thể ngửi, … Trong khi đó, Thế giới siêu hình vẫn mãi mãi là một bí mật, trở thành những thắc mắc muôn thuở của con người, được dân gian cùng các tôn giáo giải thích khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn và đối nghịch nhau. Chúng ta có thể xem Thế giới siêu hình (TGSH) là một nơi mà ở đó hoàn toàn khác với thế giới hữu hình không những khác về hình thể, mà cả không gian, thời gian, …âm thanh, cảm nhận… cũng hoàn toàn không như con người nghĩ tưởng.

III- Sự thị hiện của Thế giới siêu hình qua những hiện tượng siêu hình:

Những hiện tượng siêu hình (HTSH) xảy ra khắp nơi trên thế giới, ở đâu có con người, ở đó có hiện tượng siêu hình. HTSH xảy ra theo cường độ từ nhẹ đến mạnh, qua linh tính, chiêm bao, tiên tri, trị bệnh, cơ bút, cầu hồn, lên đồng, vong nhập, trừ tà… thần nhãn, xuất hồn… HTSH được dân gian truyền tụng từ đời này sang đời khác, từ địa phương này sang địa phương khác một cách thần bí không ai hiểu được chân tướng của HTSH. Các nhà khoa học từ nhiều thế kỷ trước và hiện nay cũng đã bỏ nhiều công sức kể cả nhiều thí nghiệm với hy vọng chứng minh được các nguyên lý của các HTSH nhưng cho đến nay khoa học dường như cũng vẫn đang còn chưa có kết luận nào được chấp nhận. Khoa học càng nghiên cứu càng bế tắc, càng kết luận là không có cõi siêu hình trong lúc đó thì con người lại có rất nhiều bằng chứng cá nhân về các HTSH. Có thể nói rằng không thể dùng phương tiện khoa học như máy móc, phòng thí nghiệm để nghiên cứu siêu hình nhưng rất nên áp dụng phương pháp khoa học để nghiên cứu nhằm mục đích học và hiểu Thế giới siêu hình qua các hiện tượng siêu hình.

IV- Một số nguyên lý của Thế giới siêu hình:

Nếu nghiên cứu kỹ các hiện tượng siêu hình, chúng ta sẽ nhận thấy có một số nguyên lý căn bản, qua đó chúng ta sẽ có thể hiểu được một phần ý nghĩa của các HTSH:
- Cường độ từ nhẹ đến mạnh
- Một chiều
- Không tác động lên vật chất
- Tác động lên các giác quan và não bộ của con người
- Nương theo các hiện tượng khoa học, đời thường
- Nương theo đức tin và các giáo thuyết các tín ngưỡng tôn giáo
- Không đi ngược các định luật khoa học
- Thí nghiệm thường thất bại
- Mập mờ, bí mật, không để lại bằng chứng
- Tung hỏa mù
- Có mục đích, đối tượng
- Có thông điệp tiềm ẩn

V- Một số phương pháp nghiên cứu và hiểu những HTSH:

Qua một thời gian tìm hiểu và học hỏi, chúng tôi nhận thấy rằng muốn tiếp cận và nghiên cứu để hiểu những HTSH, chúng ta nên làm theo các bước như sau:

- Quan sát hoặc nghe kể HTSH một cách tỉnh tín
- Phân tích và phán đoán theo phương pháp khoa học (thu thập thông tin, phân tích, so sánh, hiện tượng tương tự, kết luận, …)
- Nếu không phải HTSH thật thì bỏ qua
- Nếu là HTSH thật thì cần xác định mục đích và đối tượng
- Nhận ra được thông điệp tiềm ẩn từ HTSH
- Giải thích và thức tâm mọi người

a- Vượt qua những trở ngại:

-Những kiến thức vốn có của con người:
• Âm sao dương vậy
• Những huyền thoại về TGSH
• Những thông tin nghe kể về TGSH
• Thật ra không ai biết (và hiểu) về TGSH
• Dân gian biết đều không hoàn toàn đúng
• Các tôn giáo đưa ra nhiều giáo thuyết khác nhau
• Con người: Dựa dẫm, sợ sệt, hoang mang, mê tín dị đoan.

-Sự thật khác hẳn:
• Không thể có âm sao dương vậy.
• Sự thật về TGSH không phải như con người nghĩ do không đủ ngôn ngữ, kinh nghiệm, chỉ đoán, mô tả bằng ngôn ngữ và kiến thức đang có.
• Thần nhãn cũng chỉ thấy tượng trưng
• TGSH mượn cảm xúc, ngôn ngữ, hiểu biết và hình ảnh của TGHH để chuyển thông điệp, quan trọng là thông điệp tiềm ẩn

b- Có nhu cầu thăng tiến tâm linh:

• Ngày nay trình độ tâm linh phát triển, cần có lý thuyết mới
• Những lý thuyết của các tôn giáo đã áp dụng cho con người thời xa xưa, nhiều điều không còn phù hợp với thời đại này và cần thay đổi.
• Không chấp nhận những giáo thuyết vô lý có tính phỉ báng trí khôn con người
• Các tôn giáo hay bị ngăn ngại: không dám hỏi tới vì sợ phạm bề trên

c- Một số nguyên tắc căn bản cần có và chấp nhận:

• Như một ly nước đầy, nên đổ đi để hứng ly nước mới tinh khiết nếu không sẽ không tiếp thu những cái mới nổi.
• Phải có Bi, Trí, Dũng
• Không kiêu ngạo
• Không vọng động
• Không mê tín, không cuồng tín
• Không ham danh lợi
• Không vi mật
• Cần rèn luyện: Thân - Khẩu - Ý
• Chấp nhận mỗi tôn giáo là một món ăn tinh thần
• Không thể có tôn giáo đại đồng, bắt nhân loại chỉ ăn 1 món
• Không nên chấp vào 1 tông phái
• Tôn giáo nhìn đâu cũng thấy ma quỷ, satăng, ..
• Tôn giáo cũng như mê tín dị doan đều do TGSH tạo nên
• TGSH đứng đằng sau các tôn giáo và các hiện tượng siêu hình
• Không nên phê phán các tín ngưỡng và tôn giáo
• Tác giả không xuất hiện ra mặt, tung hỏa mù, gạt hỏa mù ra thì mới đi vào TGSH
• Quan trọng là hiểu thông điệp tiềm ẩn: mục đích-đối tượng
• Nghiên cứu bằng phương pháp khoa học thực nghiệm
• Nên nghi ngờ một cách lịch sự, khiêm tốn, không thách thức
• Tỉnh tín: xét nội dung, không cần danh xưng
• Dùng phương châm Đại nghi đại ngộ
• Mỗi hiện tượng đều có mục đích và đối tượng, chỉ phù hợp cho một số người, một địa phương, xảy ra tùy theo trình độ tâm linh
• Được chứng nghiệm hiện tượng siêu hình là một sự may mắn và cơ duyên rất lớn
• Không nên chấp vào những gì được thuật lại từ người khác, từ các tôn giáo về TGSH
• Xóa hết thành kiến, định kiến đã có, nếu không sẽ dễ dẫn đến mê tín dị đoan
• Mê tín dị doan cũng do TGSH dựng nên và xóa đi, cũng với mục đích giáo dục xây dựng
• Biết phân biệt hiện tượng của TGHH và TGSH (giấc mơ tâm sinh lý hay huyền bí, tâm thần hay ma nhập, thần nhãn hay ảo giác…)
• Tìm hiểu một số nguyên lý căn bản của TGSH qua các HTSH
• Tìm hiểu nguồn gốc của các thế lực và nguồn lực của TGSH (bùa ngãi, thư ếm, trị bệnh phép lạ, các thần thông, …)
• Tìm hiểu tổ chức của các thành phần của TGSH (ma quỷ, thượng đế, thánh thần, …)
• Hướng dẫn để nhận được sự yểm trợ của TGSH để HTSH có thể xảy ra

VI- Kết luận

• Học hỏi và tìm hiểu về TGSH giúp chúng ta mở trí và giải tỏa nhiều vấn đề liên quan đến lãnh vực tâm linh huyền bí
• Giúp phân biệt chân giả
• Giải trừ mê tín dị đoan
• Sống thanh thản, thoải mái hơn
• Hướng đến tâm linh
• Hòa đồng, giúp đỡ mọi người
• Sẵn sàng làm việc cho TGSH

Lâm Ngọc (19-9-2011)

* Trên đây là tóm lược một số kinh nghiệm bản thân qua quá trình nghiên cứu và học hỏi về Thế giới siêu hình qua các hiện tượng siêu hình. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thiện tri thức nhằm giúp mọi người ngày càng hiểu biết thêm về TGSH, giúp đời sống tâm linh ngày càng thăng tiến, đời sống được an bình hơn.

 Tới chuyên mục   Tới chủ đề

 Tiêu đề bài viết: BÀN VỀ ĐỨC CHUẨN ĐẾ BỒ TÁT
Đã gửi: Thứ 6 10/02/12 22:29 

ĐỐI THOẠI TRONG SÂN CHÙA :

Thanh và Tịnh là hai người bạn quen nhau trong một ngôi chùa. Thanh mới học Phật nên có nhiều thắc mắc, thường hay hỏi Tịnh là người đã có công phu tu tập lâu năm. Hôm nay, nhân ở chùa thiết lễ vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát là ngày 16 tháng 3, Thanh hỏi Tịnh về Đức Chuẩn Đề Bồ Tát.

Thanh: Chị Tịnh ơi, sao em thấy trong đạo Phật có nhiều vị Phật và Bồ Tát quá. Không biết Đức Chuẩn Đề Bồ Tát là xuất xứ từ đâu và tượng trưng cho cái gì vậy chị?

Tịnh: Đức Chuẩn Đề Bồ Tát xuất xứ từ kinh Phật, như trong kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa. Ngài chính là Quan Thế Âm Bồ Tát nguyên thủy, có tên là Avalokitesvara, hay là Avalokita, và được thờ phụng kính ngưỡng ở Tây Tạng cũng như ở Ấn Độ và vùng Tây Á trước đây. Trong kinh nói ngài xuất ra từ một tia hào quang phóng từ con mắt phải của Đức Phật A Di Đà, trong tay ôm một cành hoa sen, và khi ngài vừa sinh đã thốt lên câu chân ngôn OM MANI PADME HUM. Nếu nói về huyền nghĩa, Đức Phật A Di Đà tượng trưng cho lòng đại từ đại bi, và từ lòng từ bi rộng lớn vô biên ấy mà phát xuất một đại nguyện cứu khổ cho tất cả chúng sanh đang cầu sự giải thoát khỏi đau khổ, và Chuẩn Đề Bồ Tát, hay Quan Thế Âm Bồ Tát như chúng ta thường gọi, chính là hiện thân cho đại nguyện ấy.

Thanh: Nhưng Chuẩn Đề Bồ Tát có hình tượng khác với Quan Thế Âm Bồ Tát, vì sao như vậy?

Tịnh: Chuẩn Đề Bồ Tát là Quan Âm nguyên thủy từ Ấn Độ. Theo sự tích trong kinh Lăng Nghiêm, trong một pháp hội cho hàng trời người do Đức Phật chủ tọa, Bồ Tát Avalokita đã chứng nhận rằng ngài do Pháp Quán Âm dùng tánh nghe để quán các âm thanh nên đã được giác ngộ, và từ đó khởi lòng từ bi phát nguyện sẽ cảm ứng với tất cả những âm thanh đang cầu khẩn đến ngài trong biển khổ trầm luân.
Chuẩn Đề Bồ Tát thường được vẽ tạc trong một hình tượng có nhiều mắt, nhiều tay, và các tay của ngài đều bắt ấn, hoặc cầm pháp khí. Đó là vị Bồ Tát mang tướng nam, nhưng thật ra chúng ta không nên chấp vào tướng nam hay nữ. HÌnh tượng Phật và Bồ Tát do trí tưởng tượng của con người tạo ra chỉ là những biểu tượng, không phải là thật. Kinh Kim Cang nói: “Nếu lấy sắc cầu ta, Lấy âm thanh cầu ta, Kẻ ấy hành đạo tà, Không thấy được Như Lai.” Theo như trong kinh, Đức Chuẩn Đề Bồ Tát có năng lực hóa thân thành vô số tướng, trong đó ngài có đến 337 hóa thân khác nhau.
Khi Đạo Phật phổ biến ở Trung Hoa thì Quan Âm lại được biểu tượng trong một tướng nữ, có lẽ vì ngài tượng trưng cho lòng từ bi vô lượng vô biên như tình thương của một người mẹ, nên Bồ Tát Quan Âm mang tướng nữ có vẻ gần gũi và thích hợp hơn.

Thanh: Nếu muốn cầu đến ngài thì có nghi thức gì không?

Tịnh: Vì ngài thường được thờ phụng theo Mật Tông, nên người ta dùng những nghi thức Mật Tông, nhưng phổ thông nhất là dùng Chú Chuẩn Đề, trong đó câu niệm chính là “Án Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề Ta Bà Ha”. Người Tây Tạng thường tụng câu chú phổ thông nhất là "Om Mani Padme Hum".

Thanh: Khi tụng chú Đại Bi, chúng ta thường hay niệm Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, có phải là niệm đến Đức Chuẩn Đề Bồ Tát không vậy chị?

Tịnh: Đúng vậy, trong kinh kể rằng, Avalokita, tức là Đức Chuẩn Đề Bồ Tát, hay chúng ta thường gọi là Quan Âm, trước sự hiện diện của những hàng trời người trong pháp hội, vì muốn làm cho chúng sanh đều được lợi ích an vui, đã phóng kim quang rực rỡ sáng chói át cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, và với sự cho phép của Đức Thế Tôn, đã nói lời ngợi khen thần chú Đại Bi Đà La Ni có công hiệu diệt trừ vô số nghiệp ác, làm tiêu tan sợ hãi và đạt được những điều mong muốn. Ngài kể lại vô lượng ức kiếp về trước, đã được thọ trì thần chú này từ Đức Phật hiệu là Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai (có nghĩa là tâm vô chướng ngại), nhờ đó đã chứng ngay từ sơ địa lên đệ bát địa Bồ Tát. Lúc bấy giờ ngài vui mừng phát nguyện rằng, “Nếu trong đời vị lai, con có thể làm lợi ích an vui cho chúng sanh với thần chú này, xin cho con liền sinh ra ngàn tay ngàn mắt.” Lời nguyện đó lập tức được đáp ứng, ngài liền có ngàn tay ngàn mắt hiện đủ nơi thân.

Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni là một bài chú dài gồm tên của các vị Bồ Tát hợp lại, được đọc với phiên âm tiếng Phạn, và được coi như một bài thần chú có năng lực rất diệu kỳ. Rất nhiều người đã có kinh nghiệm về thần lực của bài chú Đại Bi Đà La Ni, như qua vô số câu chuyện đã được kể lại.

Thanh: Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni có công hiệu như thế nào vậy chị?

Tịnh: Khi Bồ Tát Chuẩn Đề đứng trước Đức Phật và pháp hội, ngài đã có lời thệ nguyện rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, nếu có chúng sinh nào trì tụng thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni mà còn đọa vào ba đường ác, con thề không thành Chánh Giác.
Nếu trì tụng thần chú Đại Bi mà không được sanh về các cõi Phật, con thề không thành Chánh Giác.
Nếu trì tụng chú Đại Bi là không được vô lượng tam muội biện tài, con thề không thành Cháng Giác ( tam muội biện tài có nghĩa là tâm được an định, nói năng thông suốt).
Nếu trì tụng Chú Đại Bi mà tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại không được như ý, thì người ấy không phải đã thực sự trì tụng chú Đại Bi Tâm, mà phải buông bỏ những việc làm bất thiện, giả dối trong tâm.”

Nguyện như vậy rồi, Ngài còn nói thêm rằng, trì tụng Chú Đại Bi sẽ tránh được những cái chết hoạnh tử và được sanh vào chỗ an lành, gặp đủ nhân duyên để sống đời đạo hạnh và có trí tuệ. Ngoài ra, trì tụng thần chú này sẽ đạt được một tâm giác ngộ với những đặc tính sau: từ bi, bình đẳng, vô vi, bất động, an vui v.v.. và hàng phục được những tà ma, ác quỷ, chữa lành mọi căn bệnh, thoát mọi nghiệp chướng. Tuy nhiên, người trì tụng phải phát tâm Bồ Đề nguyện độ tất cả chúng sanh, giữ gìn giới luật, thì mới được Quan Âm hộ trì.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn cũng có nói đến những lợi ích khi niệm tên Quán Thế Âm, như được cứu độ khi gặp nạn lửa, nước, bị nguy hại đến tính mạng, bị gông cùm xiềng xích v.v…

Thanh: Nếu chỉ niệm bài chú Đại Bi Tâm Đà La Ni mà được vô số lợi ích như vậy, có phải là đã đi vào thần quyền, trái với luật nhân quả trong giáo lý đạo Phật chăng?

Tịnh: Hãy để ý đến chữ “thọ trì”, hay là “trì tụng”. “Trì” có nghĩa là “hành trì”, tức là làm thường xuyên. Khi đọc kinh hay niệm kinh mà tâm trở nên thanh tịnh, không còn tham sân si thì phải thường xuyên đọc và niệm kinh như là một cách thanh lọc tâm, tức là “hành trì”, thì mới chuyển được nghiệp.
Đọc và niệm kinh Phật là phương tiện thiện xảo nhất để đối trị với cái tâm tạp loạn, cái tâm si mê chạy theo những dục vọng. Khi nhiếp tâm vào câu kinh, tiếng kệ hay các câu chú niệm, năng lực tiềm ẩn trong âm thanh của tiếng kinh kệ và thần chú ấy sẽ tỏa ra và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm thức của ta. Ngoài ra, kinh Phật thường có những ý nghĩa rất sâu xa, mà vì sợ chúng sanh chưa hiểu thấu được nên đem những cách nói khác để ẩn dụ, ví dụ như lửa lớn là nói đến lửa tham sân si, nước cuốn là nói đến cơn lũ của dục vọng, xiềng xích gông cùm là nói đến những tư tưởng ô nhiễm trói buộc, tà ma ác quỷ là những tư tưởng làm tổn hại, gây tạo nghiệp ác v.v.. . Đọc thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni có thể cứu khổ, giải được những hoạn nạn v.v.. không có nghĩa là làm cho người ta ra khỏi được những hoạn nạn đó ngay tức khắc, mà là làm cho tâm xa lìa được những đau khổ, sợ hãi trong hoàn cảnh đau khổ đó. Nếu tâm được an định và không còn sợ hãi, đau khổ, thì dù ở trong cảnh nhưng cũng như là đã lìa được cảnh rồi, ngay cả khi phải đối diện với những điều hiểm nguy và đau khổ nhất cũng vậy.

Với tinh thần hiểu biết như vậy, thì niệm danh hiệu Quan Thế Âm hay Chuẩn Đề Bồ Tát không phải là cầu khẩn đấng thần linh nào mà là một phương tiện để tạo ra và giữ gìn pháp lành nơi tâm, và do đó, không hề trái với luật nhân quả trong giáo lý Đức Phật.

Thanh: Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp linh ứng do niệm chú Đại Bi thật nhiệm mầu, chúng ta có thể giải thích được những hiện tượng này như thế nào?

Tịnh: Thời nay khoa học đã tiến bộ nên có thể làm được những việc mà trước kia tưởng như là hoang đường, nhưng khoa học mới chỉ khám phá một phần của đời sống, còn có những điều ta không thể thấy biết được nhưng vẫn diễn ra, mà không thể nào đem lý luận ra giải thích được. Tâm linh là một thế giới bao la và huyền diệu không thể nghĩ bàn. Chúng ta chỉ có thể tạm giải thích là thường thường những người niệm chú Đại Bi khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy hay đau khổ là những người đã hay trì tụng chú Đại Bi rồi, cho nên họ đã có những nhân duyên sẵn, cũng như những phước lành, để chuyển hóa được nghiệp. Và khi họ có một tinh thần an định, thì cũng có được sự sáng suốt để giải quyết hay ra khỏi được những hoàn cảnh bế tắc đang xẩy ra.

Thanh: Như vậy, mình nên tin tưởng vào chư Phật, chư Bồ Tát để có thêm năng lực, cho dù có cầu nguyện điều gì không được, ít nhất cũng làm cho mình được an định, vững chãi hơn phải không chị.

Tịnh: Đúng vậy. Trí tuệ hiểu biết nhân duyên, nhân quả là tự lực, lòng tin là tha lực sẽ giúp cho ta có sức mạnh vượt qua mọi chướng duyên nghịch cảnh. Chúng ta hãy niệm:
Nam Mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát
hay Om Mani Padme Hum....
-Sưu tầm- :!:
Bạn đang xem trang 1 / 4 trang [ Đã tìm thấy 93 kết quả ]


Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Chuyển đến:  
cron

Powered by phpBB® Forum Software © phpBB Group
Diễn đàn được phát triển bởi Nguyễn Việt Anh